Màng trinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Màng trinh là một màng mỏng nằm trong âm đạo, cách cửa âm đạo khoảng 2 cm. Màng trinh là màng che cửa âm đạo. Nhiều loài động vật cũng có màng trinh, bao gồm (nhưng không giới hạn) lạc đà không bướu, chuột lang, vượn, lợn biển, chuột chũi, toothed whales, tinh tinh, voi, chuột, vượn cáohải cẩu.

Một số thông tin cũng cho rằng một số phụ nữ khi sinh ra đã không có màng trinh[1]. Tuy nhiên, một khảo sát ở New York của bác sĩ chuyên khoa nhi với 1.100 bé gái sơ sinh cho thấy: tất cả đều có màng trinh, chỉ khác nhau về hình dạng[2]

Có nhiều quảng cáo về việc vá lại màng trinh, nhưng những quảng cáo đó chỉ là sự khoa trương, thực ra màng trinh đã rách thì không thể vá lại. Vá màng trinh là rất khó, có thể nói là không tưởng, bởi màng trinh được kết dính với ống âm đạo luôn di động, mạch máu trong môi trường dễ nhiễm trùng. "Vá màng trinh" thực chất là dùng niêm mạc âm đạo, “nhíu” lại bằng vài mũi khâu, thực chất là làm chít hẹp một phần ống âm đạo, khi có va chạm, vết khâu sẽ rách ra, nhưng thủ thuật này không thể “qua mắt” các bác sĩ hoặc người có kinh nghiệm.[3]

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước và hình dạng cửa mình mỗi người đều khác nhau. Hiếm hoi, có phụ nữ được sinh ra mà không có màn trinh, trong khi một số khác (cũng rất hiếm) lại có màn trinh đóng (kín, không có lỗ). Những người này cần phải được bác sĩ phụ khoa tiến hành hymenotomy nhằm giúp kinh nguyệt có thể thoát ra ngoài. Không chỉ vậy, một số phụ nữ lại có màng trinh dày bất thường, họ cũng cần được tiến hành mở màng trinh nhằm tránh đau đớn khi giao hợp. Vào tuổi dậy thì của phụ nữ, cấu trúc chung của màng trinh có thể so sánh như của một scrunchie tóc, một thứ khá đàn hồi và có thể giãn rộng dễ dàng. Một số dạng màng trinh thường gặp là:

  • Hình khuyên – màng trinh có hình tròn bao lấy miệng âm đạo. Là loại màng trinh thường thấy nhất ở người thanh nữ. Thường chỉ cần để hai ngón tay hai bên đại âm thần, vạch chúng sang một bên là ta có thể thấy rõ màng trinh nếu màng còn nguyên vẹn. Khi màng này rách, thường rách theo một đường thẳng đứng ở giữa.
  • Vách ngăn – màn trinh là một hoặc nhiều dải giăng ngang miệng âm đạo.
  • Cribriform – in which the hymen stretches completely across the vaginal opening, but is perforated with several holes.
  • Parous Introitus – which refers to the vaginal opening which has had a baby pass through it and consequently has nothing left of its hymen but a fleshy irregular outline decorating its perimeter. It is important to note that some women have completely normal hymens (all tissue still there and not injured) even after giving birth.

Sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Có một số thông tin cho rằng một số phụ nữ khi sinh ra đã không có màng trinh[1][4], nhưng đều này hiện nay đã bị bác bỏ. Các nghiên cứu mới cho thấy hầu như tất cả bé gái sinh ra đều có màng trinh (khảo sát ở New York với 1.100 bé gái cho thấy tất cả đều có màng trinh, chỉ khác nhau về hình dạng[2].

Trong thời kì đầu của bào thai, hoàn toàn không có cửa vào âm đạo. Lớp mô mỏng che phủ âm đạo thời kì này thường sẽ phân chia không hoàn toàn trước khi sinh, hình thành nên màng trinh. Màng trinh thật ra là một phần dư sót lại trong thời kì thai nhi phát triển. Ở một số phụ nữ, màng trinh dày và che kín âm đạo gây trở ngại khi giao hợp và có triệu chứng không có kinh, hoặc nó đàn hồi đến mức tiếp tục tồn tại cho đến lần sinh con đầu tiên.

Rách màng trinh[sửa | sửa mã nguồn]

Rách màng trinh, được biết đến trong y học là "sự cắt ngang", xảy ra ở phụ nữ sau lần đầu bị thâm nhập ở vùng âm đạo. Việc này xảy ra do sự thâm nhập làm tổn thương màng. Thủ dâm hoặc việc đặt băng vệ sinh không đủ mạnh để gây tổn thương tới màng trinh. Các chấn thương do xoạc chân, liên quan đến thể thao như đua xe đạp, đua ngựa, hoặc thể dục thẩm mĩ... cũng không gây rách màng trinh. Sự xoạc chân thường gây chấn thương lên xương mu âm đạo, xương cụt, hay tới những cạnh mép của cửa âm đạo, nhưng không tạo nên chấn thương sâu nên không thể gây ra hiện tượng rách màng trinh. Những chấn thương nhỏ có thể gây nên chảy máu, nhưng thường lành rất nhanh (90% sẽ liền lại sau ít hơn 2 tuần), sau đó màng trinh vẫn có dạng như chưa hề xảy ra chấn thương trước đó.

Tóm lại, chỉ có sự thâm nhập âm đạo do quan hệ tình dục, hiếp dâm hoặc phẫu thuật mới làm rách màng trinh. Các nguyên nhân khác (như thủ dâm, ngã xe đạp, ngã ngựa...) sẽ không gây rách màng trinh. Một số nguồn thông tin báo chí, diễn đàn hoặc ý kiến cho rằng thủ dâm, ngã xe đạp, ngã ngựa... cũng gây rách màng trinh, nhưng thực ra điều này là sai về kiến thức y khoa.[5][6][nguồn không đáng tin?][7]

"Màng trinh" và "Trinh tiết"[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trinh tiết

Có nhiều quan niệm lẫn lộn giữa 2 khái niệm "màng trinh" (hymen)"trinh tiết, sự trong trắng" (Virgin). Thực chất, đây là hai khái niệm riêng. Màng trinh là khái niệm sinh học chỉ một bộ phận của phụ nữ, còn trinh tiết là một khái niệm xã hội, chỉ người chưa từng quan hệ tình dục (hoặc cũng có thể chỉ người đã quan hệ nhưng là do bị cưỡng hiếp, hoặc những tiết phụ một lòng chung thủy suốt đời với chồng).

Có sự lẫn lộn này là do màng trinh thường sẽ bị rách ở lần giao hợp đầu tiên. Các nguyên nhân khác như chơi thể thao, chạy nhảy, đi xe đạp hay dùng băng vệ sinh...[8] cũng có thể gây rách màng trinh, tuy nhiên theo nghiên cứu thì xác suất rách màng trinh vì những nguyên nhân ngoài giao hợp như vậy là rất nhỏ (dưới 1%), và thường thì sẽ liền lại như cũ[9]. Như vậy, việc màng trinh bị rách chủ yếu vẫn là do quan hệ tình dục gây ra.

Do vậy, khi nói về các vấn đề xã hội liên quan (như quan hệ tình dục sớm, sống thử) thì phải dùng từ "trinh tiết, trong trắng" mới thật chính xác. Màng trinh, bản thân nó không phải là trinh tiết, mà là yếu tố để nhận biết về trinh tiết của người con gái chưa kết hôn.

Do lần thâm nhập đầu tiên vào âm đạo thường làm rách màng trinh và gây nên chảy máu, nên việc "không bị đụng chạm" được coi như là một bằng chứng của sự trinh tiết và là thước đo phẩm chất của một phụ nữ trước hôn nhân. Cấu trúc tuy đơn giản nhưng trong hôn nhân, màng trinh lại được chú ý nhiều so với những bộ phận khác, bởi đặc tính bị rách ở lần giao hợp đầu tiên sẽ chứng tỏ người đó có còn là trinh nữ hay không (tỷ lệ chính xác đạt trên 95%). Từ bao thế kỷ nay, từ Đông sang Tây, nó đã được xem là "thước đo sự trinh bạch" hay "người bảo vệ sự trong trắng của phụ nữ chưa chồng", hoặc là "người lính canh cổng thần Vệ nữ".

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Emans, S. Jean. "Physical Examination of the Child and Adolescent" (2000) in Evaluation of the Sexually Abused Child: A Medical Textbook and Photographic Atlas, Second edition, Oxford University Press. 61-65
  2. ^ a ă The Marks of Childhood or the Marks of Abuse?, The New York Times
  3. ^ “Màng trinh có vá lại được không?”. Vietbao.vn, Trung tâm Báo chí và Hợp tác truyền thông Quốc tế (CPI) - Bộ thông tin và truyền thông. Truy cập 2 tháng 7 năm 2014. 
  4. ^ McCann, J; Rosas, A. and Boos, S. (2003) "Child and adolescent sexual assaults (childhood sexual abuse)" in Payne-James, Jason; Busuttil, Anthony and Smock, William (eds). Forensic Medicine: Clinical and Pathological Aspects, Greenwich Medical Media: London, a)p.453, b)p.455 c)p.460.
  5. ^ http://hymen.pro/hymen.pro_hymen_and_masturbation.html[nguồn không đáng tin?]
  6. ^ http://phunutoday.vn/suc-khoe/nhung-kham-pha-thu-vi-lien-quan-den-quot;vung-kinquot;-38336.html
  7. ^ http://www.youngwomenshealth.org/askus/hymen_break.html
  8. ^ Rách màng trinh vì băng vệ sinh kiểu mới
  9. ^ Bays in Reece, 2001: 296-297
  • "Conditions Mistaken for Child Sexual Abuse," Bays, J in Child Abuse: Medical Diagnosis and Management, Reece RM and Ludwig S, eds. Lippincott Williams & Wilkins, 2001

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]