Nam có quan hệ tình dục với nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Áp phích nhằm tuyên truyền về tình dục an toàn cho đối tượng MSM ở Việt Nam.

Nam có quan hệ tình dục với nam hay MSM (tiếng Anh: Men who have sex with men hoặc males who have sex with males) chỉ những người nam có hành vi quan hệ tình dục với người nam khác cho dù họ có là đồng tính luyến ái hoặc song tính luyến ái hay không.[1][2][3][4][5] Thuật ngữ này được định nghĩa trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước nhằm nghiên cứu sự lây truyền bệnh giữa những người nam có quan hệ tình dục với nam.[2] Thuật ngữ này hướng tới một nhóm người nam có nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục cao như HIV.[2][3] Nó được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu sự lây lan của đại dịch HIV.[2]

Nhóm hành vi MSM[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù hai diễn viên cởi trần trong ảnh này có thể không tự xác định mình là người đồng tính, vai diễn của họ trong một bộ phim khiêu dâm toàn đàn ông nói lên rằng họ là nam có quan hệ tình dục với nam ngay cả khi họ chỉ làm chuyện đó khi được trả cát-xê.

Young and Meyer (2005) ghi nhận rằng cụm từ nam có quan hệ tình dục với nam được sử dụng trong thuyết trình về sức khỏe công cộng từ năm 1990 hoặc sớm hơn nhưng khi được định nghĩa bởi Glick et al. (1994) nó đã "nêu lên một khái niệm mới."[6][7] Họ xem xét nguồn gốc khái niệm này dựa trên hai bối cảnh khác nhau. Một là các nhà dịch tễ học muốn tìm một khái niệm nhóm hành vi có thể được phân tích trong các nghiên cứu về nguy cơ nhiễm bệnh hơn là một khái niệm nhóm nhận thức (như là đồng tính, song tính hay dị tính luyến ái) bởi vì một người nam tự xác định mình là đồng tính hoặc song tính thì không hẳn là có quan hệ tình dục với nam trong khi đó một người tự xác định là dị tính lại có thể có làm điều này. Hai là việc sử dụng cụm từ này đi đôi với việc chỉ trích các cụm từ nhận thức tình dục đang thịnh hành trong các tài liệu về cấu trúc xã hội, thường các tài liệu này không sử dụng các khái niệm dựa trên nhận thức trong một bối cảnh văn hóa xã hội.

Là một nhóm nguy cơ, MSM không giới hạn trong một nhóm dân cư nhỏ nào, tự xác định và dễ thấy. MSM và người đồng tính nam là hai khái niệm khác nhau: một bên là hành vi một bên là sự xác nhận. MSM chỉ quan hệ tình dục giữa nam và nam bất kể họ xác định họ như thế nào trong khi đó người đồng tính nam cũng có thể có hành vi này nhưng khái niệm đồng tính nhìn chung được xem xét trên khía cạnh văn hóa hơn. Đồng tính luyến ái ở đây chỉ sự bị hấp dẫn bởi một người nam tuy nhiên có thể hoặc không dẫn đến mối quan hệ tình cảm cùng giới. Từ gay thiên về khía cạnh xã hội trong khi cụm từ đồng tính luyến ái được dùng trong khoa học.

Khi đánh giá mạng lưới hoạt động tình dục và các hành vi của các MSM ở châu Á, Dowsett, Grierson và McNally kết luận rằng nhóm MSM không tương ứng với một nhóm xác định trong xã hội nào ở bất cứ nước nào mà họ nghiên cứu.[8] Không có đặc điểm chung nào giữa các cộng đồng MSM mà họ nghiên cứu trừ việc họ là nam và có quan hệ tình dục với nam.

Những người nam có hành vi tình dục với nam là những người khách quen của quán bar đồng tính này có thể không bao giờ tự xác định mình là nam có quan hệ tình dục với nam nhưng các nhà nghiên cứu thì xác định họ như vậy vì một số lý do.

Người hoán tính[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với những người nam hoán tính, sinh ra với cơ thể là nam bình thường hoặc có cơ quan sinh dục không rõ ràng mà tự xác định mình là nữ bất kể họ có thực hiện chuyển đổi giới tính hay không.[2][3][4][5] Vài tài liệu xếp nam hoán tính vào nhóm MSM nhưng vài tài liệu thì xếp nam hoán tính là nhóm cạnh MSM.[5]

Vấn đề sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Hadrian và người tình Antinous quan hệ hậu môn, tranh thế kỷ 19 của Paul Avril.

Khi hai người nam quan hệ tình dục với nhau thì không có khả năng sinh sản. Mọi hành vi tình dục ở con người có tiếp xúc dịch cơ thể của người khác đều được xem là có nguy cơ nhiễm bệnh đường tình dục. Mặc dù khả năng lây nhiễm là khác nhau ở các hành vi khác nhau, nhìn chung tất cả các hành vi tình dục giữa hai (hay nhiều) người đều được coi là con đường lây nhiễm hai chiều, cả top và bottom đều có nguy cơ, mặc dù bottom nguy cơ cao hơn.

Thể chất[sửa | sửa mã nguồn]

Tình dục có nhiều lợi ích, bao gồm giảm căng thẳng tinh thần, tăng cường sức đề kháng vì làm tăng kháng thể immunoglobulin A, tốt cho hệ tim mạch, nâng cao cái tôi cá nhân, tăng sự thân mật, giúp giảm đau vì sản xuất ra hoocmon oxytocin, giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt, làm khỏe cơ vùng chậu và giúp ngủ ngon.[9][10][11][12][13] Tình dục cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh. Tình dục an toàn là một biện pháp thích hợp.[14] Một trong những suy nghĩ cho rằng MSM thì lang chạ và hay quan hệ tình dục không an toàn hơn nhưng các nghiên cứu rộng rãi cho thấy điều này không đúng. Một nghiên cứu năm 2007 trong hai nhóm người cho thấy "hầu hết người đồng tính nam có số lần quan hệ tình dục không an toàn trong một năm bằng với số lần của nam và nữ dị tính."[15][16] Ở MSM, có hai dạng hành vi tình dục gây nguy cơ đó là làm tình bằng miệng và tình dục hậu môn, mặc dù không phải tất cả MSM đều thực hiện các hành vi này.

Trước đây, tình dục hậu môn được coi là gắn liền với người đồng tính nam và MSM. Tuy nhiên, nhiều MSM không quan hệ kiểu này. Trong quan hệ kiểu này, người dùng dương vật gọi là top. Người kia gọi là bottom/bot. Lựa chọn thay đổi tùy theo mỗi người.

Làm tình bằng miệng không phải là phương pháp hữu hiệu ngăn ngừa lây nhiễm mặc dù một số loại bệnh lây truyền đường tình dục dễ lây qua đường này hơn là các loại khác.[17][18]

Để giảm nguy cơ lây nhiễm, nam quan hệ với nam được khuyến cáo nên:

HIV/AIDS[sửa | sửa mã nguồn]

MSM bị nhiễm HIV nhiều hơn những người nam quan hệ với phụ nữ ở phương Tây,[21] Nhật Bản,[22] Ấn Độ[23]Đài Loan[24] cũng như ở các nước phát triển khác.[25]phương Tây, họ có xu hướng quan hệ tùy tiện và không an toàn nên có nguy cơ lây nhiễm HIV cao và cũng có xu hướng nhận được ít sự giúp đỡ để giảm khả năng lây nhiễm hơn. Điều này dẫn đến sự lây lan nhanh chóng trong những nhóm nhỏ đồng tính nam. Vào 2006, 62% đàn ông Mỹ bị lây HIV từ việc quan hệ với đàn ông khác so với 13% bị lây từ những phụ nữ có nguy cơ HIV cao. Lây nhiễm tăng 12% hằng năm ở Mỹ đối với người nam quan hệ với nam ở độ tuổi 13 đến 24[cần dẫn nguồn].

Nam quan hệ với nam có tỉ lệ ung thư hậu môn cao gấp 17 lần nam đồng tính luyến ái có thể do HPV, một loại virus[cần dẫn nguồn]. Nhiều người bị nhiễm HPV chẳng bao lâu sau khi bắt đầu quan hệ tình dục. Một phần do có nguy cơ STD cao, họ thường bị cấm hiến máu hoặc nội tạng.

Sức khỏe tâm thần[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều tài liệu về sức khỏe tâm thần và người đồng tính chú ý đến sự suy nhược thần kinh, lạm dụng thuốc và tự tử của họ. Sự tẩy chay của xã hội, sự phân biệt đối xử của hệ thống pháp luật, thành kiến bản thân và ít tổ chức hỗ trợ là khó khăn của những người đồng tính trong xã hội phương Tây đã tác động xấu đến tâm thần họ.[26]

MSM ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù đồng tính vẫn chưa được quan tâm đầy đủ ở Việt Nam[27][28], nhóm hành vi MSM luôn luôn tồn tại [29] và có những nguy cơ lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục. MSM được xếp vào nhóm có nguy cơ cao lây nhiễm HIV/AIDS[30][31] vì một bộ phận MSM có nhiều bạn tình và không ý thức đầy đủ về các nguy cơ lây nhiễm để áp dụng biện pháp an toàn.[27] Những nhóm nguy cơ khác là người tiêm chích ma túy dùng chung kim tiêm, người mua hoặc bán dâm, người thường xuyên tiếp xúc với vết thương, máu hoặc dụng cụ y tế mà không đảm bảo an toàn và một số nhóm khác.

Theo ông Lê Nhân Tuấn, Giám đốc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội cho biết, tính đến ngày 31 tháng 10 năm 2007, tích lũy các trường hợp nhiễm HIV/AIDS, Hà Nội có 13.318 người nhiễm HIV trong đó có khoảng 1.000 người đồng tính nam.[32]

Can thiệp sức khoẻ tình dục nam giới là chương trình do tổ chức UNESCO Việt Nam triển khai trong giới đồng tính luyến ái nam.

Năm 2006, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc tế (FHI, Family Health International) nghiên cứu 397 MSM ở Hà Nội và 393 MSM ở Thành phố Hồ Chí Minh. Theo như họ khai, trong tháng gần nhất, 43,7% ở Hà Nội và 70,2% ở Thành phố Hồ Chí Minh có ít nhất 2 bạn tình và 21,8% ở Hà Nội và 40,7% ở Thành phố Hồ Chí Minh bán dâm cho ít nhất 2 bạn tình nam. Trong số những người bán dâm, 44,2% ở Hà Nội và 28,5% ở Thành phố Hồ Chí Minh không dùng bao cao su trong lần quan hệ gần đây nhất. Khoảng 1/5 ở cả Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh từng dùng ma túy và 9.2% ở Hà Nội và 3,8% ở Thành phố Hồ Chí Minh từng tiêm ma túy. Có 9,4% trong mẫu ở Hà Nội và 5,3% trong mẫu ở Thành phố Hồ Chí Minh có HIV.[33]

Những nghiên cứu khác cho thấy trong mẫu MSM được nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 có 8.0% có HIV và mẫu MSM ở Khánh Hòa có 0% có HIV.[33]

Phòng chống HIV cho MSM ở Việt Nam đã không được quan tâm trước đây một phần là do người ta không hiểu biết về nhóm bị kỳ thị cao và khó tiếp cận này. Năm 2004, Uỷ ban Phòng chống Aids Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành một chương trình thí điểm phòng chống HIV cho MSM sử dụng đồng đẳng viên tiếp cận ở 24 quận huyện nhằm cung cấp thông tin và kỹ năng trong việc phòng chống HIV. Chương trình đã tiếp cận khoảng 3400 MSM một năm và hướng dẫn họ tới các dịch vụ tư vấn, xét nghiệm, chăm sóc và chữa trị bệnh lây truyền đường tình dục. Nhiều trung tâm được thành lập ở Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh.[33]

MSM dùng internet[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 11 năm 2008 đến tháng 2 năm 2009, những MSM vào 5 diễn đàn internet dành cho người đồng tính nam phổ biến nhất được mời trả lời bảng câu hỏi về đặc điểm xã hội-nhân khẩu và hành vi tình dục. Có 1.453 bảng trả lời phân biệt với đầy đủ thông tin về hành vi tình dục. Tuổi trung bình là 23. Hơn 80% từng học đại học, cao đẳng. 66,7% tự nhận là người đồng tính nam. 85,4% từng lên mạng để tìm kiếm bạn trai trong 12 tháng gần nhất. 59% nghĩ rằng họ không có nguy cơ nhiễm HIV. Trong 6 tháng gần nhất, 75,8% từng quan hệ tình dục chỉ với nam và 7,6% cũng từng quan hệ với nữ. Trong nhóm những người có quan hệ này trong 6 tháng gần đây này, 48% có nhiều hơn một bạn tình nam và 72,1% có quan hệ hậu môn. Trong số nhóm có quan hệ hậu môn đó, 40% không dùng bao cao su trong lần quan hệ hậu môn gần nhất. Một kết luận đáng lo ngại là: mặc dù từng học cao đẳng và đại học, nhiều MSM trẻ dùng internet này vẫn nghĩ rằng họ không có nguy cơ lây bệnh nếu quan hệ với người cùng giới, và do vậy đã quan hệ không an toàn. Chương trình phòng chống HIV cho MSM bao gồm những chương trình cho người sử dụng internet cần được mở rộng.[34]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ MSM in Africa: highly stigmatized, vulnerable and in need of urgent HIV prevention
  2. ^ a ă â b c “UNAIDS: Men who have sex with men” (asp). UNAIDS. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2008. 
  3. ^ a ă â Greenwood, Cseneca; Mario Ruberte (9 April2004). “African American Community and HIV (Slide 14 mentions TG women)” (ppt). East Bay AIDS Education and Training Center. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2008. 
  4. ^ a ă Operario D, Burton J, Underhill K, Sevelius J (January năm 2008). “Men who have sex with transgender women: challenges to category-based HIV prevention”. AIDS Behav 12 (1): 18–26. doi:10.1007/s10461-007-9303-y. PMID 17705095. 
  5. ^ a ă â Operario D, Burton J (April năm 2000). “HIV-related tuberculosis in a transgender network--Baltimore, Maryland, and New York City area, 1998-2000”. MMWR Morb. Mortal. Wkly. Rep. 49 (15): 317–20. PMID 10858008. 
  6. ^ Young RM, Meyer IH (July năm 2005). “The trouble with "MSM" and "WSW": erasure of the sexual-minority person in public health discourse”. Am J Public Health 95 (7): 1144–9. doi:10.2105/AJPH.2004.046714. PMC 1449332. PMID 15961753. 
  7. ^ Glick M, Muzyka BC, Salkin LM, Lurie D (May năm 1994). “Necrotizing ulcerative periodontitis: a marker for immune deterioration and a predictor for the diagnosis of AIDS”. J. Periodontol. 65 (5): 393–7. PMID 7913962. 
  8. ^ A review of knowledge about the sexual networks and behaviors of men who have sex with men in Asia. Dowsett, Grierson and McNally.[1]>
  9. ^ Silverstein, Charles; Felice Picano (1993). The New Joy of Gay Sex. GMP. tr. 198–203. ISBN 0854492143, 9780854492145 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  10. ^ Melody, Michael Edward; Linda Mary Peterson (1999). Teaching America about sex: marriage guides and sex manuals from the late Victorians to Dr. Ruth. NYU Press. tr. 182–198. ISBN 0814755321, 9780814755327 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  11. ^ The Journal of sex research. Society for the Scientific Study of Sex (Original from the University of Michigan). 1992. tr. v.29. 
  12. ^ Terry, Deborah J.; Cynthia Gallois, Malcolm McCamish (1993). The Theory of reasoned action: its application to aids-preventive behavior. Routledge. tr. 182–198. ISBN 0080419321, 9780080419329 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  13. ^ Doheny, K. (2008) "10 Surprising Health Benefits of Sex," WebMD (reviewed by Chang, L., M.D.)
  14. ^ “STI Epi Update: Oral Contraceptive and Condom Use”. Public Health Agency of Canada. 23 tháng 4 năm 1998. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2007. 
  15. ^ Sexual Behavior Does Not Explain Varying HIV Rates Among Gay And Straight Men
  16. ^ Goodreau SM, Golden MR (October năm 2007). “Biological and demographic causes of high HIV and sexually transmitted disease prevalence in men who have sex with men”. Sex Transm Infect 83 (6): 458–62. doi:10.1136/sti.2007.025627. PMID 17855487. 
  17. ^ Geffen Testing Center's HIV, Syphilis, and Hepatitis C Information Sheet Accessed November 4, 2006
  18. ^ University Health Center, University of Georgia Oral Sex Accessed November 4, 2006
  19. ^ Catalyst, Sr. Kitty, Staff of San Francisco City Clinic; "Reading This Might Save Your Ass"; 2001, San Francisco HIV Prevention and STD Prevention and Control.
  20. ^ Men Like Us: The GMHC Complete Guide to Gay Men's Sexual, Physical, and Emotional Well-being; Wolfe, Daniel; Gay Men's Health Crisis, Inc; Published by Ballantine Books, 2000; ISBN 0345414969, 9780345414960.
  21. ^ Steward WT, Charlebois ED, Johnson MO, et al. (June năm 2008). “Receipt of prevention services among HIV-infected men who have sex with men”. Am J Public Health 98 (6): 1011–4. doi:10.2105/AJPH.2007.124933. PMID 18445790. 
  22. ^ “Statistics from the Ministry of Health, Labor and Welfare”. 
  23. ^ Go VF, Srikrishnan AK, Sivaram S, et al. (March năm 2004). “High HIV prevalence and risk behaviors in men who have sex with men in Chennai, India”. J. Acquir. Immune Defic. Syndr. 35 (3): 314–9. doi:10.1097/00126334-200403010-00014. PMID 15076248. 
  24. ^ Lee HC, Ko NY, Lee NY, Chang CM, Ko WC (May năm 2008). “Seroprevalence of viral hepatitis and sexually transmitted disease among adults with recently diagnosed HIV infection in Southern Taiwan, 2000-2005: upsurge in hepatitis C virus infections among injection drug users”. J. Formos. Med. Assoc. 107 (5): 404–11. doi:10.1016/S0929-6646(08)60106-0. PMID 18492625.  Increased Risk for Entamoeba histolytica Infection and Invasive Amebiasis in HIV Seropositive Men Who Have Sex with Men in Taiwan
  25. ^ UNAIDS 2006 report on the global AIDS epidemic, Chapter 05, June 2006
  26. ^ Schlager, Neil, ed. (1998). Gay & Lesbian Almanac. St. James Press. ISBN 1558623582, p. 152.
  27. ^ a ă Don Colby, Cao Hữu Nghĩa và Serge Doussantousse, Men who have sex with men and HIV in Vietnam (Những người nam có quan hệ tình dục với người nam và HIV tại Việt Nam) (tiếng Anh). AIDS Education and Prevention, 16(1), 45-54, 2004.
  28. ^ MSM và nguy cơ lây nhiễm HIV
  29. ^ "MSM vẫn tồn tại…"
  30. ^ Việt Nam: HIV/AIDS vẫn đang lây lan nhanh
  31. ^ Khát vọng sống của những người đồng tính
  32. ^ Hà Nội: 1.000 người đồng tính nam nhiễm HIV
  33. ^ a ă â Public Health Aspects of HIV/AIDS in Low and Middle Income Countries: Epidemiology, Prevention and Care. Springer. 2008. 
  34. ^ Sexual risk behaviors of men who have sex with men internet-user in Viet Nam

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]