Thế giới phương Tây

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ của Samuel P. Huntington về các nền văn minh lớn,[1] Theo quan điểm của ông, nền văn minh phương Tây được tô màu xanh dương đậm.

Thế giới phương Tây hay phương Tây là một thuật ngữ nhằm chỉ đến những quốc gia khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh. Không có một định nghĩa chung nào về đặc điểm chung của những quốc gia này.[2]

Thuật ngữ này trước đây nhằm để chỉ sự khác biệt thuần địa lý, nhằm để chỉ sự đối lập giữa châu Âu với các quốc gia nằm ở phía đông (phương Đôngchâu Á), nhưng ngày nay nó không còn có ý nghĩa về địa lý nữa. Những quốc gia được chấp nhận là một phần của thế giới phương Tây ngày nay nằm ở cả hai bán cầu, được phân chia bởi kinh tuyến gốc của Trái Đất nằm ở Greenwich.

Khái niệm về phương Tây có nguồn gốc từ nguồn văn minh Hy Lạp-La Mã ở châu Âu, với sự xuất hiện của Kitô giáo. Trong thời kỳ hiện đại, văn hóa phương Tây bị ảnh hưởng bởi truyền thống bắt nguồn từ thời kỳ Phục Hưng, Cải cách Kháng Cách, thời kỳ Khai sáng và được hình thành bởi sự bành trướng của Chủ nghĩa thực dân phương Tây từ thế kỷ 16 tới thế kỷ 20. Thuật ngữ này trong chính trị được dùng để chỉ sự đối lập với Khối phía Đông trong Chiến tranh Lạnh vào giữa tới cuối thế kỷ 20 (1945–1991).

Theo nghĩa về văn hóa, phương Tây bao gồm các quốc gia châu Âu và các quốc gia có nguồn gốc thuộc địa châu Âu ở châu Mỹchâu Đại Dương, ví dụ như Hoa Kỳ, Canada, Australia, New Zealand, Argentina, Brazil.[3][4][5]

Loạt phim tài liệu Văn minh phương Tây (ĐH California, USA)

Tập 1. Bình minh nhân loại

Lịch sử thế giới tóm gọn trong 4 phút phim.

Liên kết Săn bắn bò bằng lao

Phát minh Cái đòn bẩy. Phát minh Bánh xe

Theo dõi Hiện tượng thời tiết: sấm sét, mưa,…

Dùng đuốc. Hang động Cầu Chúa Trời.

Sáng tạo Đồ gốm. Sống Lều trại du mục.

Xây Kim Tự tháp. Ý niệm Tôn giáo

Thời đại đồ sắt

Có Hệ tư tưởng – diễn thuyết

Euclite đặt ra trật tự.

Tầng lớp lãnh đạo: hiền triết, quý tộc,…

Xây dựng xã hội tốt đẹp, công lý, hạnh phúc

Bộ luật La Mã

Đêm trường Trung cổ.

Đạo Hồi

Phát minh ra số 0

Trái đất hình gì? Có quay không?

Nghệ thuật thời Phục Hưng

Đầu máy xe lửa. Thuyết tiến hóa.

Phát minh Truyền tin bằng Morse

Chiến tranh, dân chủ. Máy bay. Tiền

Ngột ngạc.

@@@

Chúng ta đến từ đâu?

Thể chế, tôn giáo, cuộc sống… bắt nguồn từ đâu.

- 60 triệu năm trước, khủng long thống trị, ĐV có vú co mình sợ hãi. Khủng long tuyệt chủng, ĐV có vú có cơ hội phát triển.

Từ 1 loại Linh trưởng, quen đung đưa trên cây.

- 5 triệu năm trước, hậu duệ của Linh trưởng này, đứng thẳng bằng chân sau (để lại những dấu chân hóa thạch). Càng ít ở trên cây, chi trước càng cầm nắm nhiều hơn, ngón tay cái dài ra và đối diện với các ngón khác.

- 2 triệu năm trước, chế tạo được công cụ. Được bỏ từ "vượn", xếp vào họ Người, bộ não lớn hơn. Không vuốt như hổ, không nanh như sói. Dùng tay thay cho miệng tốt hơn. Chẳng hạn đập vỡ hạt.

Vốn là ĐV ăn thực vật chuyển sang ăn thịt. Hàm răng vốn chắc khỏe, nhờ nhai vỏ cây, cỏ, gốc củ nay trở nên sắc nhọn. Bộ hàm lực lưỡng chèn ép bộ não suy biến dần. Bắt đầu phát triển bộ não và tiêu giảm hàm răng.

- 7000 TCN, con người thời đồ đá mới biết tạo ra lửa bằng cách cọ sát 2 vật hoặc đánh vào đá lửa. Lửa và suy nghĩ cho phép con người mở rộng cư trú. Nhưng Khi những dòng sông băng, chảy tới tận vùng nhiệt đới. Tổ tiên chúng ta phải Chọn lựa hoặc là động não hoặc là chết.

Lần đầu tiên trong lịch sử, Khi chứng kiến sự chết của đồng loại, hình dung kết cục của chính mình. Cảm thấy mình bé nhỏ. Nên đã tạo dựng lễ nghi, chuyện thần thoại, tôn giáo,…

Ngôn ngữ, chữ viết, ký hiệu để lưu truyền thông tin bên ngoài bộ óc.

Con người từ săn bắn, hái lượm, du cư; tập trung thành những thị tộc, di chuyển qua các khu rừng và thảo nguyên. Lần theo dấu vết những loài động thực vật, thức ăn của họ.

- 10 - 12 ngàn năm cách đây, định cư, tiến hành cách mạng nông nghiệp. Không rõ ràng bắt đầu từ lâu nào, chỉ biết từ khi biết trồng cây, biết thuần dưỡng thú, biết tích lũy sản vật. Nhận thức sở hữu phát triển. Xã hội có giai cấp. Những ngôi làng hình thành.

- Stonhenge 3800 năm trước. Công cụ đá 2,5 triệu năm. Đứng thẳng 1,6 triệu năm. Sau đó 100.000 năm đá đẽo gọt mới xuất hiện. Lễ mai táng xuất hiện 70.000 năm trước. 10.000 TCN thời kỳ đá mới, Neothilic xuất hiện

Điểm xuất phát của hành trình chúng ta từ 10.000 TCN. Gia đình và xã hội thời đá mới phụ thuộc sự sinh sản và an ninh. Nhưng 2 khả năng này đều rất mong manh. Nông nghiệp bị chiến tranh. Tấn công và phản công không hồi kết để cướp bóc lương thực và gia súc. Những lễ nghi để bảo dảm an bình. Những kỹ thuật thần bí ngày càng phức tạp. Liên quan hiến tế. ban đầu hiến tế người, sau thay bằng động vật.

=== Tập 5. Bình minh của văn minh Hy Lạp === 5.1. Văn minh Tây phương thực sự bắt nguồn từ Hy Lạp.  Các thể chế, các kiểu tư duy, kể cả các kiểu tội phạm đều liên quan chủ nghĩa duy lý của tư tưởng Hy Lạp. Những người Hy Lạp không đón nhận thế giới trên sự tin cậy. Họ không tin thế giới là ý chí của Chúa; họ không bỏ mặc bản thân cho số phận. Thay vào đó, họ đưa ra câu hỏi và tìm kiếm câu trả lời. Nhà hiền triết Plato Hy Lạp từng viết: “Triết học là đứa con của Thắc mắc”. Nó là món quà họ thu nhặt được khi tìm hiểu về những thứ làm họ đặt câu hỏi, những thứ đánh thức sự hiếu kỳ vô độ của họ. Những gì họ thu lượm được không ổn định, không an toàn nhưng thật vĩ đại.

5.2. 1200 TCN, Chiến tranh từ Anatolia đến Ai Cập: Hy Lạp, 3200 năm trước, khi hàng loạt cuộc xâm lăng và chiến tranh làm rung chuyển thế giới cổ đại từ xứ đến Ai Cập. Sử thi Odyssey. Hầu hết những hiểu biết của chúng ta về 400 năm trong giữa 1200 TCN – 800 TCN đều từ 2 bộ sử thi Odyssey và Iliad, được coi là tác phẩm của Homer. Iliad kể về người Hy Lạp đã bao vây và tiêu diệt thành , 1 thành phố châu Á gần . Odyssey kể về những gì xảy ra với Odyseus, vua đảo và người đứng đầu Hy Lạp, sau cuộc chiến tranh thành . Dường như cả thế giới được miêu tả trong 2 bộ sử thi. Một dạng thời kỳ trung cổ, “Đen tối”, vì chúng ta biết về chúng quá ít, bởi vì cuộc sống còn dữ dội và ngắn ngủi hơn thông thường. Chúng ta thấy 1 xã hội của những chiến binh và thủ lĩnh tầm thường. Háo danh và hám lợi. Tàn nhẫn, thích tranh đua. Nhưng có những quy tắc hành xử chung tạo ra 1 quy tắc lâu đời để sau này hình thành khái niệm chủ nghĩa anh hùng, tính quý tộc và cuối cùng là tinh thần thượng võ.

Cho đến thế kỷ 8 TCN, sự tìm kiếm vinh quang đầy quả cảm đã được người Hy Lạp thể chế hóa trong những cuộc thi đấu vĩ đại. Chúng ta biết được điều đó nhiều nhất qua các cuộc thi đấu tổ chức ở Olympic năm 776 TCN. Tên Hy lạp là “Wasagon”, nghĩa là “cuộc đấu”, “thi đấu”. Niềm vinh hạnh mà bạn đạt được lớn đến nỗi ngay cả sự đau đớn tột cùng và thậm chí cả mạng sống đều không phải là giá quá cao phải trả để chiến thắng. Trên phương diện khác các vận động viên Hy lạp lại rất thực tế và cũng rất “duy vật”. Các vận động viên đối diện với sự đau đớn trong cuộc thi vì họ muốn giành giải thưởng. Người chiến thắng sẽ được cung cấp đồ ăn, cái mặc và có thể cấp nhà ở thành phố cho suốt phần đời còn lại, và anh ta sẽ không phải nộp thuế.

Trong nhiều thế kỷ sau đó, suy nghĩ của các vận động viên Hy Lạp về các cuộc thi đấu ngày trở nên 1 thực dụng do ảnh hưởng của những người coi vật chất là vấn đề cốt lõi. Sự hy sinh cao quý là cái họ muốn thấy chứ không chỉ đơn giản là những tham vọng vật chất tầm thường. Và như vậy hình ảnh về vận động viên – những người rèn luyện để tìm kiếm vinh quang - đã trở thành 1 phần quan trọng của nền văn hóa Hy Lạp – La Mã. Nó được nâng lên 1 tầm cao mới vào buổi bình minh của Kito giáo. Tất nhiên tôn giáo này cũng là 1 phần của nền văn minh đó, và cũng tham gia vào trận chiến gay go chống lại ma quỷ và tội ác. Và sau đó nền văn hóa Hy Lạp – La Mã đã được hồi sinh bởi những tín đồ Tin Lành vào thế kỷ 16 và những người dưới triều đại Victoria TK 19. Ngày nay nó vẫn còn hiện hữu trong sự phản đối của người hiện đại. Khi họ phát hiện ra trong những anh hùng của họ, phần thương nhân cũng lớn chẳng kém gì phần vận động viên. 'Giá trị anh hùng mà sử thi Iliad và Odyssey thể hiện được truyền tụng cho tới tận ngày nay, sau gần 3000 năm.

Nhưng điều đó không có nghĩa những anh hùng của Homer giống như kiểu hiệp sĩ thời trung cổ, những người mù quáng lao vào cuộc chiến tranh vì danh dự. Người anh hùng của Homer có thể cao quý nhưng rất khôn ngoan. Odysseus chọc mù mắt người khổng lồ Cylops. Odysseus không chỉ là 1 thủy thủ, 1 vận động viên tài giỏi, ông còn rất nhanh trí và láu cá, bậc thầy về “đánh lừa và mưu mẹo”. Như lời nữ thần Athena nhận xét về anh ta, trong sự ca tụng hơn là khiển trách, Ethena so sánh Odysseus với bản thân, rằng: Ngươi chắc chắn là số 1 trong số người trần về tranh luận và diễn thuyết.

5.3. Các vị thần cũng giống con người: Điều đó không chỉ nói cho bạn về những người anh hùng Hy Lạp mà còn về tín ngưỡng Hy Lạp. Các vị thần của họ như Pluto và Persephone có thể là siêu nhiên và siêu phàm, nhưng mặt khác họ cũng giống con người, đàn ông và phụ nữ, với sinh lý và cảm xúc con người. Sự nhân cách hóa hình tượng các vị thần là 1 điều mới mẻ, 1 cuộc cách mạng trong tôn giáo. Các vị thần cũng con người, sinh ra để được thờ phụng, với những cung điện như cung điện Sicily, nơi họ sống, cất giữ lễ vật và được thờ cúng. Nhưng chỉ có các vị thần được thờ cúng, không phải là các Pharaon, không phải các vị vua. Không giống như người Ba Tư, người Hy Lạp không thờ cúng người, chỉ thờ cúng các vị thần.

5.4. Con người là trung tâm vũ trụ: Lúc này, lần đầu tiên “Con người là thước đo cho mọi vật” như nhà thông thái Progoras từng nói vào TK 5 TCN. Đó là 1 sự khẳng định lớn lao trong 1 thế giới mà đàn ông và phụ nữ dường như rất nhỏ bé và có thể chính họ cũng thấy mình rất nhỏ bé trong vũ trụ cực kì to lớn, cực kì bí ẩn mà họ gần như không hiểu gì.

Và còn nữa trong cùng thời kỳ này, chúng ta tìm hiểu về 1 chính khách thành Athen, Pericles ca tụng không chỉ con người, mà là 1 con người tự do và sự tiến bộ trong quyền tự do cá nhân. “Chúng ta sống như những công dân tự do” Pericles nói “Không chỉ trong cuộc sống cộng đồng mà trong cả thái độ đối với mỗi người khác trong những công việc thường ngày. Chúng ta không giận những người hàng xóm nếu anh ta cư xử theo cách anh ta thấy thoải mái. Chúng ta lườm nguýt nếu anh ta không làm gì gây hại, điều đó có thể làm tổn thương”.

5.5. Các thành bang và nền dân chủ, sức mạnh chống ngoại xâm: Trong số những di tích của Aten vẫn còn lại những công trình kiến trúc từng khiến Pericles coi Aten như trung tâm của nghệ thuật, văn học và kiến trúc vĩ đại. Nhưng Aten chỉ là 1 trong số hàng 100 thành bang của Hy Lạp trong TK 5 TCN. Mỗi thành bang được gọi là Apolis. Nó có nghĩa vừa là “thành phố”, vừa là “bang”, cũng có nghĩa là “dân quốc”. Tức là 1 nhóm người trong tổ chức tự trị. Những thành bang này trãi dài từ Biển Đen tới miền Tây Địa Trung Hải. Vùng tập trung đông dân nhất là lục địa Hy Lạp, các đảo, ở Ionia, trên bờ biển Tây Tiểu Á, nơi những thành phố sầm uất và hiện đại nhất được dựng lên vào TK 7 và 6 TCN. Bởi vì chúng gần nhất với thương mại và văn hóa của vùng Trung Đông. Phạm vi của Poleis (thành bang) nhỏ, 1 phần vì vị trí địa lý Hy Lạp, Ionia, các hòn đảo nằm giữa thế bàn cờ tạo bởi những núi, thung lũng và các đồng bằng nhỏ, thuận lợi cho những định cư đơn lẻ. Cách tiếp cận dễ dàng nhất là từ biển bao quanh, chứ không phải từ đất liền. Vì thế, biển trở thành con đường chính của người Hy Lạp. Ở trên biển, người Hy Lạp đi thuyền, buôn bán, tấn công, cướp bóc. Nhưng những thành bang, như là di tích Selinus, cũng là 1 thành phố nhỏ. Bởi người Hy lạp nghĩ nó nên nhỏ. Plato cho rằng 1 TP lý tưởng nên khoảng 5000 công dân, nghĩa là dân số 20.000 người. Nếu tính cả người ngoại quốc. Phụ nữ, người ngoại quốc và nộ lệ, tất nhiên không có quyền công dân ở Hy Lạp (HL)cổ đại. Nhưng ở thời điểm đó, đó là sự thật hiện hữu ở mọi nơi trên thế giới cho tới tận thế kỷ 19. Vì thế ở HL  thành bang thuộc loại nhỏ và ở TK 5 TCN chỉ có 3 thành phố có hơn 20.000 công dân, tức tổng số khoảng 100.000 dân. Aten là thành bang nổi tiếng nhất trong số đó. Nhưng dù tầm vóc TP như thế nào, mỗi TP Hy Lạp có phong cách, luật lệ và lòng yêu nước riêng. Và cùng 1 thời điểm, mỗi TP cùng chung niềm tự hào là người con Hy Lạp, 1 phần của thế giới Hellas, không phải là 1 đất nước hay 1 chủng tộc, mà là 1 cộng đồng văn hóa, 1 ý niệm cực kỳ hùng mạnh.

Theo các sử thi của HL, tất cả cộng đồng Hellas đều có chung tổ tiên – 1 vị anh hùng có tên Helan hay Helenus – và cùng tham gia vào chiến tranh thành . Tuy nhiên, về phương diện lịch sử, ý thức cộng đồng này, có thể xuất phát từ ký ức hào hùng của cuộc chiến chống Ba Tư, trong khoảng giữa TK 6 TCN đến đầu TK 5. Người HL đã thách thức và đứng vững trước thế lực vô cùng hùng hậu của đế chế Ba Tư. Họ đánh bại người Ba Tư không chỉ 1 lần, mà nhiều lần. Đặc biệt nhất là ở Marathon 490 TCN. Ở năm 480 TCN và cuối cùng là Platanea 479 TCN. Trận Marathon và Platanea là những chiến thắng vĩ đại mà người HL gọi là “Hoplites”. Bộ binh có kỷ luật được trang bị vũ khí hạng nặng, chiến đấu trong đội hình khép kín. Những Hoplites này trở thành nền tảng cho chiến thắng quân sự của HL trong 200 năm sau đó. Nhưng trận và Platanea cũng là chiến thắng của tinh thần cộng đồng. Những thành bang HL lục đục với nhau phải tạm gác những mâu thuẩn để cùng nhau chống lại người Barbarian, những người không nói tiếng Hy Lạp, mà nói tiếng gì đó nghe như “Bar-Bar-Bar”. Như Themistocles, thủ lĩnh Aten nói sau khi người HL đã xé nát hạm đội Ba Tư thành từng mảnh tại : “Nếu nói chúng ta đã làm được gì đó thì “chúng ta” ở đây không chỉ là người Aten, mà là tất cả người Hy Lạp, tất cả ”. Và sau những chiến thắng ấy, nảy nở 1 ý thức về Hy Lạp và về tinh thần HL, cái chưa từng có trước đó. Đó thực sự là 1 nhân tố quan trọng đưa tới niềm tự hào của người Hy Lạp và trên thực tế là cả văn minh HL.

5.6. Tính cách Hy Lạp độc lập, thực tế: Chúng ta có thể nói về văn minh Hy Lạp bởi vì dù cho có những chia cắt về địa lý, sự phân tán về chính trị, và những giao tranh đẫm máu không ngừng. Người Hy Lạp cùng chung 1 nền văn hóa đơn nhất trong ngôn ngữ, trong thần thoại chung, trong những phong tục giống nhau. Và trong cùng 1 cá tính văn hóa. Dù họ sống ở thành phố nào, họ đều tiếp thu nhanh chóng những kỹ thuật và những việc làm mà họ thấy hữu ích, sau đó phát triển và biến nó thành của riêng mình. Họ học chữ cái của xứ Pheoxini, sau đó thêm các nguyên âm và biến nó thành tiếng Hy Lạp. Họ không phát minh ra nghề gốm, nhưng họ làm nó trở nên đặc biệt. Cho đến TK 6TCN, những người thợ gốm và những nghệ nhân khác đã đánh dấu sản phẩm của họ - như 1 bước tiến mang tính cách mạng. Điều đó công bố: mỗi nghệ sĩ là 1 cá nhân riêng lẻ. Họ sao chép bức tượng không giá đỡ của Ai Cập, nhưng họ tự do hóa và nhân cách hóa hình dạng của chúng, sau đó tô vẽ làm bức tượng sống động hơn. Các nghệ sĩ HL còn sáng tạo ra trường phái khỏa thân như 1 dạng nghệ thuật, thêm 1 sự khẳng định về sự tự tin của con người.

5.7. Các công trình đặc trưng, kiểu mẫu Hy Lạp: Cho đến TK 5 TCN, cá tính văn hóa HL đã tự khẳng định chính mình trong 1 công trình rất đồ sộ, Acropolis thành trì quan trọng đứng trên đỉnh đồi của Athen. Vào năm 480 TCN, người Ba Tư đã đốt cháy Aten và mặc dù thành phố nhanh chóng được người HL thu hồi và gây dựng lại, nó vẫn trông như 1 đống lộn xộn trong 30 năm kế tiếp. Cho đến khi Pericles quyết định xây dựng lại Acropolis, thành phố đã trở thành nơi ngự trị của các thánh thần, với ngôi đền mới vĩ đại, đền Parthenon. Bên trong bức tượng khổng lồ của nữ thần Athena được dựng lên để chứng minh sức mạnh của nữ thần và sức mạnh của người Aten. Tất cả được hoàn thành nhanh chóng chỉ trong 11 năm. Tốc độ đó là 1 thành tựu kỹ thuật xuất chúng, khiến tất cả những người HL tự hào, không thua gì tầm vóc bức tượng. Người tạo nên những cột trụ này, người chỉ đạo nghệ thuật công trình điện Parthenon, Phidias, được coi là 1 trong những nhà điêu khắc  nhất thời cổ đại. Chúng ta còn lưu giữ 1 vài trong những công trình vĩ đại của ông và công trình của những nhà điêu khắc khác được thực hiện theo phong cách Phidias. Những nhà phê bình, ngày ấy và bây giờ, đều ngưỡng mộ vẻ kiều diễm, quý phái và sự cân đối trong các tác phẩm, điều đã khiến chúng trở thành kiểu mẫu cho phong cách lý tưởng và duy tâm cổ điển. Đây là công trình của 1 nhà điêu khắc khác, Praxiteles (1 người đàn ông khỏa thân ẳm 1 đứa bé), 100 năm sau thời Phidias, giữa TK 4 TCN. Praxiteles đã giải phóng những hình khối cổ điển cứng nhắc, thổi vào chúng hơi ấm điều mà chúng thiếu như bạn có thể thấy ở pho tượng Aphrodite of  này.

5.8. Những người HL đã đi được rất xa so với thời kỳ anh hùng của Homer không chỉ trên con đường nghệ thuật và văn hóa mà còn về chính trị, tất nhiên từ “Politics” cũng là từ phát sinh của từ “Polic”. Cuối TK 6 TCN, hầu hết các thành bang đã bỏ luật truyền ngôi theo dòng dõi và thử các thể chế chính trị khác nhau. Đó là nền chuyên chế, 1 dạng của nền chế độ độc tài lập hiến. Nó không hẳn là không phổ biến. Đó là chế độ quý tộc. Chế độ của những “Người tốt nhất”, hay những người bẩm sinh là tốt nhất. Đó còn là nền chính trị tập trung, 1 nhóm nhỏ cai trị toàn xã hội. Và chế độ dân chủ, luật lệ của quần chúng, của số đông. Hoặc những dạng kết hợp của các thể chế chính trị trên như ở Aten thời Pericles.

Ở Aten mọi công dân đều có quyền bình đẳng. Nhưng như Pericles đã viết vào TK 5 TCN “Khi mà người đàn ông trở nên đặc biệt ở 1 khía cạnh nào đó, anh ta được tôn trọng hơn trong cuộc sống cộng đồng, không phải vấn đế về đặc quyền, mà là sự công nhận những giá trị tốt đẹp. Bên cạnh đó, những người có thể cống hiến cho xã hội sẽ không rơi vào sự nghèo khó và thân phận thấp kém”. Dĩ nhiên, Pericles không có ý chính xác đến từng từ. Chế độ quý tộc không hẳn là luật lệ của những người tốt nhất mà là của số ít người đến từ những dòng dõi giàu có lâu đời. Và chế độ dân chủ không hẳn là luật của mọi người mà chỉ của vài nghìn người sinh ra đã là người tự do. Nhưng 1 người dân nghèo Aten như Demosthenes vẫn có thể trở thành nhà lãnh đạo chính trị ở TK 4 TCN. Và từ thành công của ông, chúng ta có thể rút ra 1 điều là: Một ý tưởng có thể định nghĩa những giá trị và khuyến khích những khát vọng. Và những giá trị, những khát vọng đó lại quay lại ảnh hưởng và thay đổi cả xã hội.

5.9. Những con người nổi tiếng: Bởi cách người HL chọn người lãnh đạo và cách họ được cai trị có khuynh hướng thay đổi mà người HL có cảm nhận về lịch sử. Không phải ngẫu nhiên, mà nhà sử học cổ đại vĩ đại nhất, Thucidides là người HL. Lịch sử về đàn ông, phụ nữ và những thể chế thay đổi theo thời gian và không gian và  Thucidides nhìn thấy sự thay đổi xung quanh ông vào TK 5 TCN. Không giống người Ai Cập, những người quá ấn tượng với sự tiếp nối và những triều đại lâu đời. Không giống người Mesopotamian, những người quá ấn tượng với những thảm họa siêu nhiên, Thucidides chú ý hơn đến những động cơ thực tế dẫn đến các hành vi của con người. Ông cho rằng những quyết định, hành động và kết quả đến từ những yếu tố khách quan như văn hóa và kinh tế thay vì can thiệp của thế lực siêu nhiên. Tất nhiên, phần lớn người Hy Lạp đều không khách quan như vậy. Phần lớn họ đều là nông dân, hoặc chủ trang trại nhỏ, thợ thủ công thường bám rễ vào những phong tục mê tín và chủ nghĩa địa phương chật hẹp. Nhưng cuộc xâm lược của người Ba Tư vào TK 6 TCN và cuộc đấu tranh toàn quốc chống lại đế chế Ba Tư ở TK 5 đã hình thành 1 ý thức mơ hồ rằng thà hy sinh còn hơn sống đời nô lệ, rằng sẽ thật ý nghĩa khi đối diện với cái chết không chỉ cho gia đình mình mà cho tất cả mọi gia đình, và thậm chí cho gia đình của những người khốn khổ làng bên (mặc dù điều đó nghe có thể vừa lạ lẫm vừa hào hùng) rằng lòng nhân đạo chung hay tinh thần HL chung giữa họ còn quan trọng hơn là những phong tục và thành kiến địa phương.

Có những người còn vĩ đại hơn, quan trọng hơn, những người mà ai ai cũng nhắc tới. Đó là Themistocles, người chỉ huy hạm đội Aten, trong trận thắng vĩ đại trước quân Ba Tư ở Salamis 480 TCN. Chiến thắng đã cứu cả Hy Lạp. Có 1 người cùng thời với Themistocles, Aristides The Just, người quản lý tài chính của Aten và các thành bang đồng minh 1 cách trung thực. Miltiades, người hùng của Marathon và Hecateus của Miletus, người vẽ ra bản đồ thế giới, với tất cả các quốc gia, các thành phố và sông ngòi. Pytagoras, người thầy thông thái, người khám phá biết bao điều về các con số và sự đồi bại của thế giới. Điều gì làm những con người đó khác biệt với những người nông dân, những người tụ tập ở Agora vào những phiên chợ? Đó là Sophia, sự thông thái. Đó là Arete, đức hạnh. Những người nổi tiếng đó không khỏe mạnh hơn, to lớn hơn hay giàu có và vị thế hơn. Họ chỉ thông thái hơn, và đó là lý do tại sao họ là những người kiệt xuất hơn cả.

Nhưng nếu điều đó là đúng, chẳng lẽ những người khác không thể trở nên thông thái như họ. Chẳng lẽ 1 người nông dân không thể học được sao? Có rất nhiều người HL nghĩ đó là điều có thể. Và từ lối suy nghĩ đó đã mở ra 1 hướng nhìn mới với thế giới, điều đã định hình dòng chảy tương lai của nền văn hóa phương Tây. Xem phần sau.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The World of Civilizations”. S02.middlebury.edu. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011. 
  2. ^ Western Civilization, Our Tradition; James Kurth; accessed 30 August 2011
  3. ^ Thompson, William; Joseph Hickey (2005). Society in Focus. Boston, MA: Pearson. 0-205-41365-X. 
  4. ^ “Embassy of Brazil - Ottawa”. Brasembottawa.org. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011. 
  5. ^ Falcoff, Mark. “Chile Moves On”. AEI. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011.