Giáo xứ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

.Trong Giáo hội Công giáo Rôma, giáo xứ (Latinh: parochus) là một cộng đoàn tín hữu giáo dân ổn định về số lượng, có việc chăm sóc mục vụ được giao phó cho một linh mục giáo xứ, trực thuộc thẩm quyền của Giám mục giáo phận. Đây là kiểu đơn vị giáo hội nhỏ nhất trong Giáo hội Công giáo, và là đơn vị cơ bản nhất cấu tạo thành một giáo phận. Chỉ có Giám mục giáo phận có quyền thành lập, giải tán hoặc thay đổi các giáo xứ. Một khi đã được thành lập hợp lệ, giáo xứ đương nhiên được hưởng tính cách pháp nhân theo luật.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ nguyên giáo xứ[1] lấy từ tiếng Latinh paroechia, từ tiếng Hy Lạp παρоικια (địa hạt, khu vực hoặc giáo khu), từ tiếng Hy Lạp παρά = "bên cạnh", οικος = "trụ sở, đoàn thể tôn giáo". Trong tiếng Hy lạp cổ, từ παρоικια có nghĩa gốc là tạm trú trên đất khách (trong phiên bản viết bằng tiếng Hy Lạp phổ thông của kinh thánh Hê-brơ Septuagint) hoặc cộng đồng người tạm trú, chỉ đến những người Do Thái ở ngoại quốc (vào thế kỷ thứ 1 TCN), về sau chỉ đến một cuộc sống tạm nơi trần thế (thế kỷ thứ nhất Công nguyên, Tân Ước: 1 Peter 1:17, 2:11), từ này có nghĩa chỉ đến cộng đồng Kitô giáo (thế kỷ thứ 3 Công nguyên), giáo phận (diocese) (thế kỷ thứ 3 Công nguyên), và cuối cùng là giáo xứ (parish) (thế kỷ thứ 4 Công nguyên).

Việc đặt tên và tước hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi giáo xứ có một tên gọi thông dụng và một tước hiệu. Tước hiệu là tên được chọn khi làm phép cung hiến nhà thờ và xức dầu bàn thờ lần đầu tiên. Nghi thức Cung hiến nhà thờ và xức dầu bàn thờ quy định rằng tên giáo xứ phải được chọn từ một trong các tên sau[2]:

Tước hiệu giáo xứ sẽ không được thay đổi mỗi khi đã xức dầu bàn thờ. Nếu có từ hai giáo xứ được sáp nhập lại, nhà thờ của mỗi giáo xứ được giữ lại tước hiệu của mình, nhưng giáo xứ mới sáp nhập này có thể đặt một tên khác nhau vì những lý do mục vụ.

Đời sống giáo xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi giáo xứ có phân định lãnh thổ rõ ràng và có số lượng giáo dân ổn định. Cơ sở vật chất quan trọng nhất là nhà thờ giáo xứ. Nhà thờ này phải đáp ứng được qui mô sức chứa phù hợp với số lượng giáo dân của giáo xứ. Nhà thờ giáo xứ là trung tâm của đời sống thiêng liêng nhất của người Công giáo, vì nó là nơi mà họ tham gia cử hành thờ phượng, lãnh nhận các bí tích, thể hiện quyền lợi và nghĩa vụ khi họ có tư cách là giáo dân thuộc giáo xứ đó. Nếu vì lí do địa lý, tình trạng quá tải giáo dân thì có thể xây dựng thêm nhà thờ hoặc nhà nguyện phụ trợ. Ngoài ra, tùy điều kiện mà mỗi giáo xứ có thể có thêm các cơ sở bổ sung như trường học giáo lý, trường học văn hóa, tu viện, nghĩa trang... ngay trong khu đất của nhà thờ hoặc khu đất liền kề với nhà thờ.

Các kiểu giáo xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo xứ là một cấp nhỏ hơn của của giáo phận. Nó được nhiều giáo hội của các nhánh tôn giáo xuất phát từ Kitô giáo như Công giáo, Anh giáo, Chính Thống giáo Đông phương..

Giáo xứ Công giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chính Giáo xứ (Công giáo)

Trong giáo hội Công giáo, mỗi giáo xứ sẽ do một linh mục (cha xứ) đứng đầu, đóng vai trò chăm sóc, quản lý, lãnh đạo cả giáo xứ như một người cha.[3]

Giáo xứ là phân cấp nhỏ hơn của giáo phận, nhà thờ chính của giáo xứ còn được gọi là nhà thờ xứ, nhà thờ giáo xứ để phân biệt với nhà thờ chánh tòa là nhà thờ chính của giáo phận.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong tiếng Anh (parish) trong tiếng Anh Parish xuất phát từ từ tiếng Anh gốc Pháp parosse (1075), về sau là paroche (1292, từ tiếng Pháp cổ O.Fr. paroisse,
  2. ^ Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, translated by International Committee on English in the Liturgy (1978), Rite of Dedication of a Church and an Altar 
  3. ^ Linh mục phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Đức Kitô, vì đã sinh họ cách thiêng liêng nhờ phép Thánh tẩy và giáo huấn.(LG 28).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]