Người Do Thái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Do Thái
יהודים (tiếng Hebrew)
Yehudim (chuyển tự)
Jews.jpg
Albert EinsteinMaimonidesGolda MeirEmma Lazarus
Tổng số dân
13.428.300 [1]
Khu vực có số dân đáng kể
 Israel 5.703.700 [1]
 Hoa Kỳ 5.275.000[1]
 Pháp 483.500[1]
 Canada 375.000[1]
 Liên hiệp Anh 292.000[1]
 Nga 205.000[1]
 Argentina 182.300[1]
 Đức 119.000[1]
 Úc 107.500[1]
 Brazil 95.600[1]
 Ukraine 71.500[1]
 Nam Phi 70.800[1]
 Hungary 48.600[1]
 Mexico 39.400[1]
 Bỉ 30.300[1]
 Hà Lan 30.000[1]
 Ý 28.400[1]
 Chile 20.500[1]
Ngôn ngữ

Ngôn ngữ được nói nhiều:
Hebrew · Anh · Nga · tiếng mẹ đẻ của các nước mà người Do Thái từng lưu lạc đến

Ngôn ngữ trong lịch sử:
Yiddish · Ladino · Do Thái-Ả Rập · các tiếng khác

Ngôn ngữ tôn giáo:
Hebrew trong kinh thánh · Aramaic
Tôn giáo
Star of David.svg Do Thái giáo

Người Do Thái (tiếng Hebrew: יְהוּדִים‎‎, chuyển tự: Yhudim, phiên âm tiếng Israel: [jehuˈdim]).

Người Do Thái đã chịu một lịch sử lâu dài bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất khác nhau, và dân số và phân bố dân số của họ thay đổi qua nhiều thế kỉ. Ngày nay, đa số các nguồn tin cậy đều đặt dân số Do Thái trong khoảng từ 12 tới 14 triệu. Theo như báo Jewish Agency, trong năm 2007 có 13,2 triệu người Do Thái trên toàn thế giới; trong đó 5,4 triệu (40,9%) ở Israel; 5,3 triệu (40,2%) ở Hoa Kỳ và số còn lại rải rác khắp thế giới[2].

Người Do Thái và đạo Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Do Thái

Nguồn gốc của người Do Thái theo truyền thống là vào khoảng 1800 TCN với những câu chuyện ghi lại trong Kinh Thánh về sự ra đời của đạo Do Thái.

Merneptah Stele, có niên đại vào khoảng 1200 TCN, là một trong những tài liệu khảo cổ xưa nhất của người Do Thái sinh sống trong vùng đất Israel, nơi Do Thái giáo, tôn giáo độc thần đầu tiên được phát triển. Theo những câu chuyện chép lại trong Kinh Thánh, người Do Thái hưởng thụ những giai đoạn tự chủ đầu tiên dưới những quan tòa từ Othniel cho tới Samson, sau đó vào khoảng năm 1000 TCN, vua David thiết lập Jerusalem như là kinh đô của Vương quốc Israel và Judah Thống nhất và từ đó cai quản Mười hai bộ lạc của Israel.

Vào năm 970 TCN, con của vua David là vua Solomon trở thành vua của Israel[3]. Trong vòng mười năm, Solomon bắt đầu xây dựng Đền thờ thiêng liêng được biết đến như là Đền thờ Đầu tiên. Khi Solomon chết (khoảng 930 TCN), mười bộ lạc phía bắc tách ra để thành lập Vương quốc Israel. Vào năm 722 TCN người xứ Assyria chinh phục vương quốc Israel và làm người Do Thái phải sống lưu vong, bắt đầu một cộng đồng Do Thái hải ngoại. Vào thời đại di chuyển và du hành khá hạn chế, người Do Thái trở thành những người dân tỵ nạn đầu tiên và dễ bị chú ý nhất. Ngày xưa cũng như bây giờ, dân di cư được đối xử với sự nghi ngờ.

Quan Tổng đốc tỉnh Judah Zerubabbel đệ trình kế hoạch Jerusalem lên Hoàng đế Ba Tư Cyrus Đại Đế. Họa phẩm của họa sĩ Jacob van Loo, được thực hiện khoảng những năm 1640 - 1670.

Giai đoạn Đền Thờ thứ nhất kết thúc vào khoảng 586 trước Công Nguyên, khi vua nước BabylonNebuchadnezzar II thân chinh đốc suất đại binh phạt Vương quốc Judah và phá hủy Đền thờ Do Thái[4]. Ông ta cướp bóc sạch sành sanh các kho báu trong đền thờ, và còn đày ải nhiều người Do Thái[5]. Những người Do Thái khác từ đó cũng phải đi tha hương để định cư ở nơi khác[6]. Vào năm 538 trước Công Nguyên, vua Belshazzar khi đang dự yến tiệc ở kinh thành Babylon thì bỗng thấy có bàn tay người hiện ra viết một dòng chữ lên tường thành, vội triệu tiên tri Daniel vào hỏi thì ông giải nghĩa dòng chữ, rằng Thiên Chúa đã phán quyết Đế quốc Babylon đã đến hồi diệt vong. Quả nhiên, vua nước Ba Tư thân chinh điều động binh mã tinh nhuệ phạt nước Babylon và lật đổ Belshazzar, tiêu diệt luôn cả Đế quốc của ông ta. Sau thắng lợi vang dội này, Cyrus Đại Đế liền ban bố Thánh chỉ[7][8][9]:

Cyrus, vua Ba Tư, nói như vầy: Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho ta các nước thế gian, và biểu ta xây cất cho Ngài một ngôi đền tại Jerusalem trong xứ Judah. Trong các ngươi, phàm ai thuộc về dân sự Ngài, hãy trở lên Jerusalem; nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người ấy ở cùng người!

—Cyrus Đại Đế

Thế rồi, không những dân Do Thái mà tất cả các dân tộc tù đày trong Đế quốc Babylon đều được vua Cyrus Đại Đế ban bố tự do cho trở về cố hương. Khác xa các vua Ai Cập và Babylon trước đây, ông là vị vua anh minh, nhân đạo và có ngự bút viết: "Trẫm đã quy tụ tất cả các dân tộc đó và Trẫm cho phép họ được về quê hương của chính họ"[9]. Theo huấn lệnh của nhà vua, quan Tổng đốc tỉnh Judah là Sheshbazzar - người có dòng dõi vua David - dẫn nhóm người Do Thái đầu tiên trở về thành Jerusalem. Hai năm sau, tức năm 536 trước Công Nguyên, người cháu của David là Zerubabbel dẫn thêm một nhóm người Do Thái thứ hai trở về cố hương, chấm dứt kiếp tù đày của họ. Trở về, trước cảnh hoang tàn của thành Jerusalem họ hết mực đau buồn[9]. Kể từ triều đại Cyrus Đại Đế, dân Do Thái cũng xuất hiện ở Iran[10]. Ông cũng ban của cải và vật liệu xây dựng đền thờ cho vị quan Tổng đốc này. Từ năm 538 TCN cho đến năm 535 TCN, quan Tổng đốc Zerubabbel đã dẫn dắt nhóm người Do Thái đầu tiên về quê hương. Với chính sách tự do tôn giáo, triều đình Cyrus Đại Đế còn bỏ ra tiền của ngân khố quốc gia Ba Tư giúp nhân dân Do Thái xây dựng lại đền thờ[11][12]. Việc xây dựng Đền thờ thứ hai, được hoàn thành vào năm 516 TCN dưới triều vua Darius Đại Đế 70 năm sau khi Đền thờ Thứ nhất bị phá hủy[13][14]. Khi Alexander Đại Đế chinh phục Đế quốc Ba Tư, vùng đất Israel rơi vào quyền cai trị của người Hy Lạp cổ (Hellenistic Greek), cuối cùng lại mất vào tay Vương quốc Ptolemaios rồi lại mất vào tay Vương quốc Seleukos.

Triều đình Seleukos cố gắng cải tạo lại Jerusalem khi một thành phố theo văn minh Hy Lạp trở thành người đứng đầu sau khởi nghĩa Maqabim thành công năm 168 TCN lãnh đạo bởi tu sỹ Mattathias cùng với 5 người con trai của ông chống lại Antiochus Epiphanes, và họ thành lập Vương quốc Hasmoneus năm 152 TCN với Jerusalem một lần nữa là kinh đô của vương quốc[15]. Vương quốc Hasmoneus kéo dài trên một trăm năm, nhưng sau đó khi Đế quốc La Mã trở nên hùng mạnh hơn họ đưa Herod lên làm vua chư hầu người Do Thái. Vương quốc của vua Herod cũng kéo dài trên một trăm năm. Bị người Do Thái đánh bại trong cuộc khởi nghĩa Do Thái thứ nhất năm 70, cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã đầu tiên và cuộc khởi nghĩa Bar Kokhba năm 135 đã đóng góp đáng kể vào số lượng và địa lý của cộng đồng Do Thái ở nước ngoài, do một phần lớn dân số Do Thái của vùng đất Israel bị trục xuất rồi bị bán làm nô lệ trong toàn Đế quốc La Mã. Kể từ đó, những người Do Thái đã sống trên mọi đất nước của thế giới, chủ yếu là ở châu Âu và vùng Trung Đông mở rộng, trải qua nhiều sự ngược đãi, đàn áp, nghèo đói, và ngay cả diệt chủng (xem: chủ nghĩa bài Do Thái, Holocaust), với thỉnh thoảng một vài giai đoạn phát triển hưng thịnh về văn hóa, kinh tế, và tài sản cá nhân ở nhiều nơi khác nhau (chẳng hạn như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Ba LanHoa Kỳ).

Cho đến cuối thế kỉ 18, từ Do Tháitheo đạo Do Thái được xem là đồng nghĩa trong thực tế, và đạo Do Thái là yếu tố chính thống nhất người Do Thái mặc dù mức độ theo đạo đó có khác nhau. Trong thời kỳ của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, một vị vua nổi tiếng của Vương quốc PhổFriedrich II Đại Đế đã tiến hành khoan dung tôn giáo và gia tăng quyền lợi của cộng đồng Do Thái[16]. Vào năm 1750, ông ra Thánh chỉ phán rằng người Do Thái được quyền làm chủ các trường học, giáo đường và nhà nguyện của họ[17]. Theo sau Thời đại Khai sáng và thời đại Haskalah tương ứng theo truyền thống Do Thái, một sự thay đổi dần dần đã diễn ra mà qua đó nhiều người Do Thái cho mình là thành viên của nước Do Thái là khái niệm khác biệt với theo đạo Do Thái.

Tên Hebrew "Yehudi" (số nhiều Yehudim) nguyên thủy được dùng để chỉ bộ lạc của Judah. Sau này, khi phần phía bắc của Vương quốc Israel Thống nhất tách khỏi phần phía nam, thì phần phía nam của Vương quốc bắt đầu đổi tên theo tên của bộ lạc lớn nhất của họ, tức là thành Vương quốc Judah. Từ này nguyên là được chỉ dân tộc ở vương quốc phương nam, mặc dù từ B'nei Yisrael (Israelit, người Israel) vẫn được sử dụng cho cả hai nhóm. Sau khi người Assyria chinh phục vương quốc phía bắc để lại còn mỗi vương quốc phía nam là vương quốc của người Israel, từ Yehudim dần dần được dùng để chỉ toàn thể những người theo đạo Do Thái, hơn là chỉ những người trong bộ lạc hay là trong Vương quốc Judah. Từ Jew trong tiếng Anh được bắt nguồn từ Yehudi (xem #Thuật ngữ). Sử dụng đầu tiên trong Kinh Thánh để chỉ đến toàn bộ dân tộc Do Thái được tìm thấy trong Sách của Esther.

Các nhân vật Do Thái điển hình[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng đồng Do Thái có những đóng góp rất lớn đối với các lĩnh vực hoạt động của nhân loại; như: khoa học, nghệ thuật, chính trị và thương mại[18][19]. Số người Do Thái giành được giải Nobel ước tính khoảng 160 người thuộc tất cả các lĩnh vực, chiếm khoảng 20% (tức 1/5)[19][20][21][22][23][24][25] số giải thưởng của toàn thế giới.

Ai là người Do Thái?[sửa | sửa mã nguồn]

Người Do Thái truyền thống trong trang phục tôn giáo
Bài chi tiết: Ai Là Người Do Thái

Do Thái Giáo chia sẻ những tính chất của một quốc gia, một dân tộc, một tôn giáo, và một nền văn hóa. Điều này làm cho định nghĩa "ai là người Do Thái" thay đổi chút ít tùy thuộc vào cách tiếp cận tôn giáo hay quốc gia để xác định[26][27].

Nói chung, trong xã hội hiện đại thế tục, người Do Thái được chia thành ba nhóm: những người sinh ra trong gia đình Do Thái không kể đến việc có theo đạo hay không, những người có tổ tiên hoặc dòng máu (đôi khi bao gồm cả những người không có nguồn gốc đúng theo mẫu hệ), những người không có tổ tiên hoặc dòng máu Do Thái nhưng đã cải đạo chuyển đổi tôn giáo sang đạo Do Thái giáo và do đó là tín đồ của tôn giáo.

Định nghĩa truyền thống lịch sử về bản sắc Do Thái dựa trên nền tảng căn bản của luật pháp đạo Do Thái giáo Halakha qua chế độ mẫu hệ, và việc cải đạo chuyển đổi tôn giáo theo luật pháp đạo Do Thái giáo Halakha.

Định nghĩa lịch sử "ai là người Do Thái" trở về pháp điển hóa của Kinh Thánh Torah Khẩu Truyền vào Talmud Babylonia vào khoảng năm 200. Giải thích theo Kinh Thánh Tanakh như đoạn 7:1–5 trong sách Sách Đệ Nhị Luật, được sử dụng bởi các nhà hiền triết người Do Thái để lời cảnh báo đối chống lại việc hôn nhân khác đạo giữa người Do Thái và người Canaan bởi vì theo Sách Đệ Nhị Luật 7:1–5 có ghi chép rằng [28],

Thiên Chúa là Thượng Đế của các ngươi sẽ đem các ngươi vào xứ để các ngươi nhận lấy làm gia nghiệp. Khi các ngươi vào, Ngài sẽ đánh đuổi các dân sau đây: Hittites, Girgashite, Amorite, Canaan, Perizzite, Hivite, và Jebusite, là bảy dân tộc mạnh hơn các ngươi. Thiên Chúa là Thượng Đế của các ngươi sẽ giao phó các dân đó cho các ngươi, các ngươi phải hủy diệt bọn nó hoàn toàn. Đừng lập hòa ước hay tỏ lòng yêu thương bọn nó. Không kết hôn với bọn nó: không gả con gái của các ngươi cho con trai của bọn nó, cũng đừng để con trai của các ngươi lấy con gái của bọn nó. Nếu các ngươi phản bội Ta, bọn nó sẽ làm cho con cháu của các ngươi bỏ Ta, và thờ lạy các vị thần khác. Rồi Thiên Chúa sẽ tức giận và hủy diệt các ngươi một cách nhanh chóng. Đây là các điều các ngươi phải làm cho bọn nó: phá vỡ các bàn thờ, nghiền nát trụ thờ, đập nát các tượng Asherim, và đốt sách các tượng chạm khắc của bọn nó với lửa (Hỏa).

Sách Đệ Nhị Luật 7:1–5 [29]

Trong Sách Lêvi đoạn 24:10[30] của người Do Thái có ghi chép rằng:

Và con trai của một người phụ nữ Israel, có ba là người Ai Cập, đi cùng với con cái Israel, và con trai của một người phụ nữ Israel, có bà là người Israel, hai đứa trẻ đánh nhau trong doanh trại.

Điều này được bổ sung bởi Ezra 10: 2-3[31], nơi người Israel trở về từ Babylon lập Giao ước với Thiên Chúa là sẽ đuổi vợ dân ngoại và con cái dân ngoại của họ.

Trong thế kỷ đầu tiên, Babylon là nơi người Do Thái di cư đến sau cuộc chinh phục của người Babylon cũng như sau khi cuộc Khởi nghĩa Bar Kokhba kết thúc vào năm 135. Dân số người Do Thái lúc đó phát triển nhanh chóng[32], ước tính khoảng 1 triệu người Do Thái tăng lên khoảng 2 triệu[33] dân Do Thái trong giai đoạn từ năm 200 đến năm 500. Sự phát triển dân số của người Do Thái là do sự tăng trưởng tự nhiên và dòng người nhập cư của người Do Thái từ nhiều vùng đất của Israel, chiếm khoảng 1/6 dân số Do Thái thế giới tại thời kỳ đó[34]. Tại thời điểm việc cải đạo chuyển đổi tôn giáo đã chiếm một phần của sự tăng trưởng dân số của người Do Thái. Một số người cho rằng trong thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Kitô giáo, ví dụ, dân số tăng hơn gấp đôi, từ bốn đến 8-10 triệu trong phạm vi của đế quốc La Mã, kết quả của một làn sóng cải đạo chuyển đổi tôn giáo[35].

Các nhà sử học khác tin rằng việc cải đạo chuyển đổi tôn giáo trong thời kỳ La Mã được giới hạn về số lượng và không chiếm đáng kể đến sự tăng trưởng dân số của người Do Thái, do nhiều yếu tố khác nhau như chuyển đổi bất hợp pháp của nam giới Do Thái Giáo trong thế giới La Mã từ giữa thế kỷ 2. Một yếu tố khác có thể gây khó khăn trong việc cải đạo chuyển đổi tôn giáo trong thế giới La Mã là yêu cầu luật pháp đạo Do Thái Giáo Halakha về việc cắt bao quy đầu, một yêu cầu mà những nhà truyền giáo Kitô giáo đã nhanh chóng loại bỏ. Thuế dành riêng cho người Do Thái trong Đế quốc La Mã vào năm 70 cũng hạn chế sức hấp dẫn của Do Thái giáo[36].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cowling, Geoffrey (2005). Introduction to World Religions. Singapore: First Fortress Press. ISBN 0-8006-3714-3. 
  • Dekmejian, R. Hrair (1975), Patterns of Political Leadership: Egypt, Israel, Lebanon, Nhà in Đại học Bang lập New York Press, ISBN 087395291X 
  • Goldstien, Joseph (1995). Jewish History in Modern Times. Sussex Academic Press. ISBN 1898723060. 
  • Katz, Shmuel (1974). Battleground: Fact and Fantasy in Palestine. Taylor Productions. ISBN 0-929093-13-5. 
  • Lewis, Bernard (1984). The Jews of Islam. Princeton: Nhà in Đại học Princeton. ISBN 0-691-00807-8
  • Lewis, Bernard (1999). Semites and Anti-Semites: An Inquiry into Conflict and Prejudice. W. W. Norton & Co. ISBN 0-393-31839-7
  • Littman, David (1979). “Jews Under Muslim Rule: The Case Of Persia”. The Wiener Library Bulletin. XXXII (New series 49/50). 
  • Neusner, Jacob (1991). Studying Classical Judaism: a primer (bằng tiếng Anh). Nhà in Westminster John Knox. ISBN 0664251366. 
  • Poliakov, Leon (1974). The History of Anti-semitism. New York: The Vanguard Press.
  • Stillman, Norman (1979). The Jews of Arab Lands: A History and Source Book. Philadelphia: Jewish Publication Society of America. ISBN 0-8276-0198-0

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ DellaPergola, Sergio (2 tháng 11 năm 2010). “World Jewish Population, 2010” (PDF). Trong Dashefsky, Arnold; Sheskin, Ira. Current Jewish Population Reports. Storrs, Connecticut: North American Jewish Data Bank. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012. 
  2. ^ Pfeffer, Anshel. “Jewish Agency: 13.2 million Jews worldwide on eve of Rosh Hashanah, 5768”. Haaretz Daily Newspaper Israel. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2007. 
  3. ^ Michael, E.; Sharon O. Rusten, Philip Comfort, and Walter A. Elwell (28 tháng 2 năm 2005). The Complete Book of When and Where: In The Bible And Throughout History. Tyndale House Publishers, Inc. tr. 20–1, 67. ISBN 0842355081. 
  4. ^ Nathan Ausubel, Book of Jewish Knowledge, trang 586
  5. ^ Nathan Ausubel, David C. Gross, Pictorial history of the Jewish people; from Bible times to our own day throughout the world, trang 55
  6. ^ Nathan Ausubel, David C. Gross, Pictorial history of the Jewish people; from Bible times to our own day throughout the world, trang 217
  7. ^ 2 Chronicles 36
  8. ^ Nathan Ausubel, David C. Gross, Pictorial history of the Jewish people; from Bible times to our own day throughout the world, trang 68
  9. ^ a ă â Nathan Ausubel, David C. Gross, Pictorial history of the Jewish people; from Bible times to our own day throughout the world, trang 67
  10. ^ Nathan Ausubel, David C. Gross, Pictorial history of the Jewish people; from Bible times to our own day throughout the world, trang 218
  11. ^ David W. Del Testa, Florence Lemoine, John Strickland, Government leaders, military rulers, and political activists, trang 46
  12. ^ Eric Mitchell, Archie England, Old Testament Survey: A Student's Guide, trang 335
  13. ^ Sicker, Martin (30 tháng 1 năm 2001). Between Rome and Jerusalem: 300 Years of Roman-Judaean Relations. Praeger Publishers. tr. 2. ISBN 0275971406. 
  14. ^ Zank, Michael. “Center of the Persian Satrapy of Judah (539-323)”. Đại học Boston. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2007. 
  15. ^ Schiffman, Lawrence H. (1991). From Text to Tradition: A History of Second Temple and Rabbinic Judaism. Ktav Publishing House. tr. 60–79. ISBN 0-88125-371-5. 
  16. ^ Paul Hyland, Olga Gomez, Francesca Greensides, The Enlightenment: a sourcebook and reader, trang 63
  17. ^ David G. Thomas, Swimming: steps to success, trang 16
  18. ^ Schwartz, Richard H. (2001). Judaism and Global Survival. New York: Lantern Books. tr. 153. ISBN 1-930051-87-5. 
  19. ^ a ă Brooks, David (11 tháng 1 năm 2010). “The Tel Aviv Cluster”. The New York Times. tr. A23. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. “Jews are a famously accomplished group. They make up 0.2 percent of the world population, but 54 percent of the world chess champions, 27 percent of the Nobel physics laureates and 31 percent of the medicine laureates. Jews make up 2 percent of the U.S. population, but 21 percent of the Ivy League student bodies, 26 percent of the Kennedy Center honorees, 37 percent of the Academy Award-winning directors, 38 percent of those on a recent Business Week list of leading philanthropists, 51 percent of the Pulitzer Prize winners for nonfiction.” 
  20. ^ Shalev, Baruch (2005). 100 Years of Nobel Prizes. tr. 57. “A striking fact... is the high number of Laureates of the Jewish faith—over 20% of the total Nobel Prizes (138); including: 17% in Chemistry, 26% in Medicine and Physics, 40% in Economics and 11% in Peace and Literature each. These numbers are especially startling in light of the fact that only some 14 million people (0.2% of the world's population) are Jewish.” 
  21. ^ Dobbs, Stephen Mark (12 tháng 10 năm 2001). “As the Nobel Prize marks centennial, Jews constitute 1/5 of laureates”. j. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012. “Throughout the 20th century, Jews, more so than any other minority, ethnic or cultural group, have been recipients of the Nobel Prize -- perhaps the most distinguished award for human endeavor in the six fields for which it is given. Remarkably, Jews constitute almost one-fifth of all Nobel laureates. This, in a world in which Jews number just a fraction of 1 percent of the population.” 
  22. ^ “Jewish Nobel Prize Winners”. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2011. 
  23. ^ Ted Falcon, David Blatner (2001). “28”. Judaism for dummies. John Wiley & Sons. “Similarly, because Jews make up less than a quarter of one percent of the world's population, it's surprising that over 20 percent of Nobel prizes have been awarded to Jews or people of Jewish descent.” 
  24. ^ Lawrence E. Harrison (2008). The Central Liberal Truth: How Politics Can Change a Culture and Save It. Nhà in Đại học Oxford. tr. 102. “That achievement is symbolized by the fact that 15 to 20 percent of Nobel Prizes have been won by Jews, who represent two tenths of one percent of the world's population.” 
  25. ^ Jonathan B. Krasner, Jonathan D. Sarna (2006). The History of the Jewish People: Ancient Israel to 1880's America. Behrman House, Inc. tr. 1. “These accomplishments account for 20 percent of the Nobel Prizes awarded since 1901. What a feat for a people who make up only 0.2 percent of the world's population!” 
  26. ^ Rebecca Weiner. “Who is a Jew?”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  27. ^ “What Makes a Jew "Jewish"?”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  28. ^ “Deuteronomy Chapter 7 דְּבָרִים”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  29. ^ “Deuteronomy Chapter 7 דְּבָרִים”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  30. ^ “Leviticus Chapter 24 וַיִּקְרָא”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  31. ^ “Ezra Chapter 10”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  32. ^ [מרדכי וורמברנד ובצלאל ס רותת "עם ישראל - תולדות 4000 שנה - מימי האבות ועד חוזה השלום", ע"מ 95. (Translation: Mordechai Vermebrand and Betzalel S. Ruth - "The People of Israel — the history of 4000 years — from the days of the Forefathers to the Peace Treaty", 1981, pg. 95)
  33. ^ [Dr. Solomon Gryazel, "History of the Jews - From the destruction of Judah in 586 BC to the preset Arab Israeli conflict", p. 137]
  34. ^ [Dr. Solomon Gryazel, "History of the Jews - From the destruction of Judah in 586 BC to the preset Arab Israeli conflict", p. 137]
  35. ^ YEHUDA BAUER. “Beyond the fourth wave: contemporary anti-Semitism and radical Islam”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  36. ^ “FISCUS JUDAICUS”. Jewish Encyclopedia. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quát[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Map collection related to Jewish history and culture from Routledge Publishing

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức thế tục quan trọng của người Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng đồng Do Thái trên toàn cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức lớn của chủ nghĩa phục quốc Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức lớn của Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Người Do Thái nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu về tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]