Singapore

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 1°18′B 103°48′Đ / 1,3°B 103,8°Đ / 1.3; 103.8

Cộng hoà Singapore
Republic of Singapore (tiếng Anh)
Republik Singapura (tiếng Mã Lai)
新加坡共和國 (tiếng Trung)
சிங்கப்பூர் குடியரசு (tiếng Tamil)
Flag of Singapore.svg Coat of arms of Singapore (blazon).svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Singapore
Khẩu hiệu
Majulah Singapura
("Tiến lên, Singapore")
Quốc ca
Majulah Singapura
"Tiến lên, Singapore"
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa nghị viện
 • Tổng thống
 • Thủ tướng
Trần Khánh Viêm
Lý Hiển Long
Ngôn ngữ chính thức Anh, Mã Lai, Quan thoại, Tamil
Thủ đô Singapore
[1]) 1°17′B, 103°51′Đ
Thành phố lớn nhất Singapore
Địa lý
Diện tích 716,1[1] km² (hạng 190)
Diện tích nước 1,444 %
Múi giờ SST (UTC+8); mùa hè: Không áp dụng (UTC+8)
Lịch sử
Độc lập
6 tháng 2 năm 1819[2] Thành lập
3 tháng 6 năm 1959[3] Tự trị
31 tháng 8 năm 1963[4] Độc lập từ Anh Quốc
16 tháng 9 năm 1963[4] Sáp nhập với Malaysia
9 tháng 8 năm 1965[4] Phân tách khỏi Malaysia
Dân cư
Dân số ước lượng (2013) 5.399.200[1] người (hạng 116)
Mật độ 7.540[1] người/km² (hạng 3)
Kinh tế
GDP (PPP) (2012) Tổng số: 327,557 tỷ USD[5]
Bình quân đầu người: 61.046 USD[5]
GDP (danh nghĩa) (2012) Tổng số: 270,020 tỷ USD[5]
Bình quân đầu người: 50.323 USD[5]
HDI (2013) 0,895 cao (hạng 19)
Hệ số Gini (2012) 47,8[6] (cao) (hạng 26)
Đơn vị tiền tệ Đôla Singapore (SGD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .sg, .சிங்கப்பூர், .新加坡
¹ +02 khi gọi từ Malaysia

Singapore (phiên âm tiếng Việt: Xin-ga-po, Hán-Việt: Tân Gia Ba), tên chính thức là Cộng hòa Singapore, là một thành bang và đảo quốc tại Đông Nam Á. Đảo quốc nằm ngoài khơi mũi phía nam của bán đảo Mã Lai và cách xích đạo 137 kilômét (85 mi) về phía bắc. Lãnh thổ Singapore gồm có một đảo chính hình thoi, và khoảng 60 đảo nhỏ hơn. Singapore tách biệt với Malaysia bán đảo qua eo biển Johor ở phía bắc, và tách biệt với Quần đảo Riau của Indonesia qua eo biển Singapore ở phía nam. Singapore là quốc gia đô thị hóa cao độ, chỉ còn lại ít thảm thực vật ban đầu. Lãnh thổ của Singapore liên tục mở rộng thông qua hoạt động cải tạo đất.

Các hòn đảo của Singapore có người định cư vào thế kỷ thứ 2 Công nguyên và sau đó thuộc một số đế quốc bản địa. Năm 1819, chính trị gia Anh Quốc Stamford Raffles thành lập Singapore hiện đại với vai trò là một trạm mậu dịch của Công ty Đông Ấn Anh, hành động này được Vương quốc Johor cho phép. Anh Quốc giành được chủ quyền đối với đảo vào năm 1824, và Singapore trở thành một trong các Khu định cư Eo biển của Anh Quốc vào năm 1826. Nhật Bản chiếm đóng Singapore trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sau chiến tranh Singapore tuyên bố độc lập từ Anh Quốc vào năm 1963 và hợp nhất với các lãnh thổ khác của Anh Quốc để hình thành Malaysia, tuy nhiên Singapore bị trục xuất khỏi Malaysia hai năm sau đó. Kể từ đó, Singapore phát triển nhanh chóng, được công nhận là một trong Bốn con hổ châu Á.

Singapore là một trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vị thế trung tâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất. Nền kinh tế mang tính toàn cầu và da dạng của Singapore phụ thuộc nhiều vào mậu dịch, đặc biệt là chế tạo, chiếm 26% GDP vào năm 2005. Theo sức mua tương đương, Singapore có thu nhập bình quân đầu người cao thứ ba trên thế giới. Quốc gia này xếp hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế liên quan đến giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sự minh bạch của chính phủ, và tính cạnh tranh kinh tế.

Singapore là một nước cộng hòa nghị viện đa dảng nhất thể, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster. Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ khi Singapore tự trị vào năm 1959. Có hơn năm triệu người sống tại Singapore, trong đó xấp xỉ hai triệu người sinh ra tại nước ngoài. Singapore có thành phần dân tộc đa dạng, song các dân tộc châu Á chiếm ưu thế: 75% dân số là người Hoa, các cộng đồng thiểu số đáng kể là người Mã Lai, người Ấn Độ, và người Âu-Á. Quốc gia này có bốn ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, tiếng Mã Lai, tiếng Hoa và tiếng Tamil, và chính phủ thúc đẩy chủ nghĩa văn hóa đa nguyên thông qua một loạt các chính sách chính thức.

Singapore là một trong năm thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và là nơi đặt Ban thư ký APEC, là một thành viên của Hội nghị cấp cao Đông Á, Phong trào không liên kết, và Thịnh vượng chung các quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của Singapore tạo cho quốc gia này có ảnh hưởng đáng kể trong các vấn đề toàn cầu, khiến một số nhà phân tích nhận định Singapore là một cường quốc bậc trung.[7][8]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi tiếng Anh "Singapore" bắt nguồn từ tiếng Mã Lai Singapura (tiếng Phạn: सिंहपुर, nghĩa là thành phố Sư tử). Tuy nhiên, người ta tin rằng sư tử chưa từng sống trên đảo, và loài thú mà Sang Nila Utama (người thành lập và định danh cho Singapore cổ đại) nhìn thấy có lẽ là một con hổ.[9]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Singapore

Khu định cư đầu tiên được biết đến tại Singapore là một tiền đồn của Đế quốc Srivijaya có tên là Temasek ('hải trấn'). Hòn đảo vẫn là một phần của Đế quốc Srivijaya khi Hoàng đế Rajendra Chola I của Đế quốc Chola tại Nam Ấn xâm chiếm nó vào thế kỷ 11.[10][11] Năm 1613, những hải tặc người Bồ Đào Nha đốt khu định vư và hòn đảo chìm trong tăm tối vào hai thế kỷ sau đó.[12]

Năm 1819, chính khách người Anh Quốc Thomas Stamford Raffles đến và thay mặt Công ty Đông Ấn Anh để ký kết một hiệp định với Quốc vương Hussein Shah của Vương quốc Johor nhằm phát triển phần phía nam của Singapore thành một trạm mậu dịch của Đế quốc Anh. Năm 1824, Anh Quốc có quyền sở hữu đối với toàn bộ đảo theo một hiệp định khác với Quốc vương và Temenggong (thống lĩnh).[13] Năm 1826, Singapore trở thành một phần của Các khu định cư Eo biển, thuộc phạm vi quyền hạn của Ấn Độ thuộc Anh, rồi trở thành thủ đô của khu vực vào năm 1836.[14] Trước khi Raffles đến, có xấp xỉ 1.000 người sống trên đảo, hầu hết là người Mã Lai bản địa cùng với một số người Hoa.[15] Năm 1860, dân số vượt quá 80.000 và hơn một nửa là người Hoa. Nhiều người nhập cư đến để làm việc trong các đồn điền cao su, và sau thập niên 1870 thì đảo trở thành một trung tâm xuất khẩu cao su toàn cầu.[13]

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Quân đội Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Malaya thuộc Anh, đỉnh điểm là trận Singapore. Người Anh chiến bại, và đầu hàng vào ngày 15 tháng 2 năm 1942. Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill gọi đây là "thảm họa tệ nhất và sự đầu hàng lớn nhất trong lịch sử Anh Quốc".[16] Số người Hoa bị thảm sát sau khi Singapore thất thủ ước tính từ 5.000 đến 25.000.[17] Người Anh tái chiếm đảo vào tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng.[18]

Trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1955, lãnh đạo ủng hộ độc lập của Mặt trận Lao động là David Marshall giành chiến thắng. Ông dẫn đầu một phái đoàn đến Luân Đôn để yêu cầu hoàn toàn tự trị, song người Anh bác bỏ. Sau đó, David Marshall từ chức và Lâm Hữu Phúc trở thành người thay thế, ông thi hành các chính sách nhằm thuyết phục người Anh trao cho Singapore quyền tự trị nội bộ hoàn toàn đối với toàn bộ các vấn đề ngoại trừ quốc phòng và đối ngoại.[19]

Trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 1959, Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng vang dội. Singapore trở thành một nhà nước tự trị nội bộ bên trong Thịnh vượng chung và Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của quốc gia.[20] Tổng đốc William Allmond Codrington Goode giữ vai trò là Yang di-Pertuan Negara ("nguyên thủ quốc gia") đầu tiên, người kế nhiệm là Yusof bin Ishak trở thành Tổng thống Singapore đầu tiên vào năm 1965.[21] Trong thập niên 1950, những người cộng sản gốc Hoa vốn có quan hệ chặt chẽ với các thương hội và các trường tiếng Hoa tiến hành một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại chính quyền tại Malaya, dẫn đến Tình trạng khẩn cấp Malaya, và sau đó là Chiến tranh phản loạn cộng sản. Bạo động phục vụ toàn quốc 1954, bạo động trung học Hoa văn và bạo động xe buýt Phúc Lợi tại Singapore đều có liên hệ với các sự kiện này.[22]

Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào Liên bang Mã Lai đã đạt được năm 1962, đưa Singapore trở thành một thành viên của liên bang Mã Lai cùng với Malaya, SabahSarawak như là một bang có quyền tự trị vào tháng 9 năm 1963. Singapore bị trục xuất khỏi liên bang vào ngày 7 tháng 8 năm 1965 sau những bất đồng quan điểm chính trị chính phủ của bang và hội đồng liên bang tại Kuala Lumpur. Singapore được độc lập 2 ngày sau đó, vào ngày 9 tháng 8 năm 1965, sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của Singapore. Malaysia là nước đầu tiên công nhận nền độc lập của Singapore.[23]

Độc lập đồng nghĩa với tự túc, Singapore đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong giai đoạn này, bao gồm nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ. Với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Đồng Minh, trong nhiệm kỳ của mình từ năm 1959 đến 1990, Thủ tướng Lý Quang Diệu đã từng bước kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn. Các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống phòng vệ quốc gia được thiết lập. Singapore từ một nước đang phát triển trở thành một nước phát triển vào cuối thế kỷ 20.[24]

Năm 1990, Ngô Tác Đống kế nhiệm chức thủ tướng, đối mặt với nhiều khó khăn bao gồm ảnh hưởng kinh tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, sự lan tràn của SARS năm 2003 cũng như những đe dọa khủng bố từ Jemaah Islamiah, hậu 11 tháng 9 và các vụ đánh bom ở Bali. Năm 2004, Lý Hiển Long, con trai cả của Lý Quang Diệu, trở thành thủ tướng thứ ba.[25]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý Singapore
Singapore được chia thành 55 khu vực quy hoạch
Vườn Thực vật Singapore, khu vườn thực vật 52 hectare của Singapore, nơi có Vườn Lan Quốc gia với hơn 3,000 loài hoa phong lan

Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương bao quanh bởi nhiều đảo nhỏ khác. Có hai con đường nối giữa Singapore và bang Juhor của Malaysia — một con đường nhân tạo có tên Đường nối Johor-Singapor ở phía bắc, băng qua eo biển Tebrau và chỗ nối thứ hai Tuas, một cầu phía tây nối với Juhor. Đảo Jurong, Pulau Tekong, Pulau UbinSentosa là những đảo lớn nhất của Singapore, ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ khác. Vị trí cao nhất của Singapore là đồi Bukit Timah với độ cao 166 m.

Vùng thành thị trước đây chỉ tập trung ở khu vực phía bắc Singapore bao quanh sông Singapore, hiện nay là trung tâm buôn bán của Singapore, trong khi đó những vùng còn lại rừng nhiệt đới ẩm hoặc dùng cho nông nghiệp. Từ thập niên 1960, chính phủ đã xây dựng nhiều đô thị mới ở những vùng xa, tạo nên một Singapore với nhà cửa san sát ở khắp mọi miền, mặc dù Khu vực Trung tâm vẫn là nơi hưng thịnh nhất. Ủy ban Quy hoạch Đô thị là một ban của chính phủ chuyên về các hoạt động quy hoạch đô thị với nhiệm vụ là sử dụng và phân phối đất hiệu quả cũng như điều phối giao thông. Ban đã đưa ra quy hoạch chi tiết cho việc sử dụng đất ở 55 khu vực.

Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và những nước lân cận. Nhờ đó, diện tích đất của Singapore đã tăng từ 581,5 km² ở thập niên 1960 lên 697,25 km² ngày nay, và có thể sẽ tăng thêm 100 km² nữa đến năm 2030.

Singapore có khí hậu xích đạo ẩm với các mùa không phân biệt rõ rệt. Đặc điểm của loại khí hậu này là nhiệt độ và áp suất ổn định, độ ẩm cao và mưa nhiều. Nhiệt độ thay đổi trong khoảng 22°C đến 31 °C (72°–88°F). Trung bình, độ ẩm tương đối khoảng 90% vào buổi sáng và 60% vào buổi chiều. Trong những trận mưa lớn kéo dài, độ ẩm tương đối thường đạt 100%. Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất đã từng xuất hiện là 18,4 °C (65,1 °F) và 37,8 °C (100,0 °F).

Sự đô thị hóa đã làm biến mất nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới một thời, hiện nay chỉ còn lại một trong số chúng là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bukit Timah. Tuy nhiên, nhiều công viên đã được gìn giữ với sự can thiệp của con người, ví dụ như Vườn Thực vật Quốc gia. Không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ yếu của Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa rào cung cấp khoảng 50% lượng nước, phần còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ nước tái chế - một loại nước có được sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu Singapore
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình tối cao °C (°F) 29.9 (86) 31.0 (88) 31.4 (89) 31.7 (89) 31.6 (89) 31.2 (88) 30.8 (87) 30.8 (87) 30.7 (87) 31.1 (88) 30.5 (87) 29.6 (85) 30,9 (88)
Trung bình tối thấp °C (°F) 23.1 (74) 23.5 (74) 23.9 (75) 24.3 (76) 24.6 (76) 24.5 (76) 24.2 (76) 24.2 (76) 23.9 (75) 23.9 (75) 23.6 (74) 23.3 (74) 23,9 (75)
Lượng mưa mm (inch) 198 (7.8) 154 (6.1) 171 (6.7) 141 (5.6) 158 (6.2) 140 (5.5) 145 (5.7) 143 (5.6) 177 (7) 167 (6.6) 252 (9.9) 304 (12) 2.150 (84,6)
Nguồn: World Meteorological Organisation (UN) [26] February 2010.

Chính phủ và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà Quốc hội của Singapore.

Singapore là một nước cộng hòa nghị viện, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử. Hiến pháp của quốc gia thiết lập hệ thống chính trị dân chủ đại diện.[27] Freedom House xếp hạng Singapore là "tự do một phần" trong báo cáo Freedom in the World của họ,[28]The Economist xếp hạng Singapore là một "chế độ hỗn hợp", hạng thứ ba trong số bốn hạng, trong "Chỉ số dân chủ" của họ.[29] Tổ chức Minh bạch Quốc tế liên tục xếp Singapore vào hạng các quốc gia ít tham nhũng nhất trên thế giới.[30]

Quyền hành pháp thuộc về Nội các Singapore, do Thủ tướng lãnh đạo, và ở một mức độ thấp hơn rất nhiều là Tổng thống.[21] Tổng thống được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, và có quyền phủ quyết đối với một tập hợp cụ thể các quyết định hành pháp, như sử dụng dự trữ quốc gia và bổ nhiệm các thẩm phán, song vai trò phần lớn mang tính lễ nghi.[31]

Quốc hội đóng vai trò là nhánh lập pháp của chính phủ.[21] Các thành viên của Quốc hội gồm có các thành viên đắc bầu, phi tuyển khu và được chỉ định. Các thành viên đắc cử được bầu vào Quốc hội trên cơ sở "đa số chế" và đại diện cho các khu vực bầu cử có một hoặc nhóm đại diện.[32] Đảng Hành động Nhân dân giành quyền kiểm soát quốc hội với đa số lớn trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ khi Singapore tự trị vào năm 1959.[28]

Hệ thống tư pháp của Singapore dựa trên thông luật Anh, song có các khác biệt địa phương đáng kể. Việc bồi thẩm đoàn xử án bị bãi bỏ vào năm 1970, các phán quyết tư pháp sẽ hoàn toàn nằm trong tay các thẩm phán được chỉ định.[33] Singapore có các hình phạt bao gồm cả trừng phạt thân thể tư pháp dưới dạng đánh đòn, có thể áp dụng đối với các tội hình như hiếp dâm, gây rối loạn, phá hoại, và các vi phạm di trú nhất định.[34][35] Ân xá Quốc tế cho rằng một số điều khoản pháp lý của Singapore xung đột với quyền được cho là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội, và rằng Singapore "có thể có tỷ lệ hành quyết cao nhất trên thế giới so với dân số của quốc gia".[36] Chính phủ Singapore bất đồng ý kiến với các tuyên bố của Ân xá Quốc tế.[37] Trong một nghiên cứu vào năm 2008, Singapore và Hong Kong xếp hàng đầu về chất lượng hệ thống tư pháp tại châu Á.[38]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế Singapore

Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài. Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt; đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, raucây ăn quả, do vậy nông nghiệp không phát triển, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước. Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là Khu công nghiệp Jurong. Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á. Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân). Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.

Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân). Kinh tế Singapore từ cuối những năm 1980 đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới: 1994 đạt 10%, 1995 là 8,9%. Tuy nhiên, từ cuối 1997, do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ, đồng đô la Singapore đã bị mất giá 20% và tăng trưởng kinh tế năm 1998 giảm mạnh chỉ còn 1,3%. Từ 1999, Singapore bắt đầu phục hồi nhanh: Năm 1999, tăng trưởng 5,5%, và năm 2000 đạt hơn 9%. Do ảnh hưởng của sự kiện 11 tháng 9, suy giảm của kinh tế thế giới và sau đó là dịch SARS, kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nặng nề: Năm 2001, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt -2,2%, 2002, đạt 3% và 2003 chỉ đạt 1,1%. Từ 2004, tăng trưởng mạnh: năm 2004 đạt 8,4%; 2005 đạt 5,7%; năm 2006 đạt 7,7% và năm 2007 đạt 7,5%. Năm 2009, GDP chỉ tăng 1,2% do tác động của khủng hoảng kinh tế.

Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh.[39]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giao thông Singapore
Một đoàn thuyền chạy trên sông Singapore về đêm

Hệ thống giao thông công chánh ở Singapore rất phát triển. Chất lượng đường bộ của đảo quốc này được đánh giá là vào loại tốt nhất thế giới. Giao thông tại Singapore được vận hành theo mô hình của Anh, trái với giao thông tay phải của châu Âu lục địa.

Đường phố của Singapore

Singapore có nhiều loại phương tiện giao thông công cộng, trong đó hai phương tiện phổ biến nhất là xe bus (hơn 3 triệu lượt người mỗi ngày, năm 2010) và tàu điện ngầm mà người Singapore thường gọi là MRT (Mass Rapid Transit) (hơn 2 triệu lượt người mỗi ngày, năm 2010)[40]. Người đi xe bus trả tiền mua vé cho từng chặng, ngoại trừ trường hợp họ có thẻ từ tự động EZlink (thẻ này cho phép họ sử dụng dịch vụ của xe bus giá rẻ và trong một thời gian dài). Hệ thống tàu điện ngầm của Singapore có 84 ga với chiều dài 129.9 km [40] và có giờ làm việc là từ 06:00 tới 24:00. Taxi cũng là một phương tiện giao thông khá phổ biến ở Singapore nhưng khá khó bắt và đắt trong giờ cao điểm.

Do Singapore có diện tích rất hẹp, nên chính quyền Singapore thường có những biện pháp đặc biệt để tránh tình trạng nghẽn xe, tắc đường. Hệ thống thuế giờ cao điểm ERP (Electronics Road Pricing) được đưa vào hoạt động trong khu vực trung tâm thành phố để giảm lưu lượng xe lưu thông qua các khu vực này vào giờ cao điểm. Số tiền này được trừ thẳng vào thẻ EZLink cài trên xe hơi. ERP có thể lên đến SGD15 nếu 1 chiếc xe chạy qua 5 trạm ERP trong khu vực nội thành.

Singapore cũng có phương tiện giao thông đường thủy phổ biến là thuyền máy nhỏ, tuy nhiên đa số chúng chỉ được dùng cho mục đích du lịch. Các du khách tới Singapore có thể tham quan thành phố bằng đường thủy trên sông Singapore trong những tour kéo dài khoảng 30 phút.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012, dân số Singapore là 5,312 triệu người, trong đó 3,285 triệu (62%) là công dân Singapore và những người còn lại (38%) là những cư dân thường trú hoặc công nhân/học sinh ngoại quốc. 23% công dân Singapore sinh ra bên ngoài Singapore. Có một triệu cư dân thường trú tại Singapore vào năm 2012. Số cư dân này không tính đến 11 triệu du khách tạm thời đến thăm quan Singapore mỗi năm.[1][41][42]

Tuổi trung bình của người Singapore là 37 tuổi và quy mô hộ gia đình trung bình là 3,5 người. Do khan hiếm đất, 4/5 người Singapore sống trong các căn hộ được trợ cấp, cao tầng, công cộng được gọi là các căn hộ Cục Nhà ở và Phát triển (HDB), theo sau việc cục chịu trách nhiệm đối với nhà ở công tại quốc gia.[43] Có gần 200.000 người giúp việc gia đình tại Singapore.[44]

Năm 2010, tỷ lệ sở hữu nhà tại Singapore là 87,2%.[45][46] Điện thoại di động thâm nhập với tỷ lệ rất cao là 1.400 điện thoại di động trên 1000 người. Khoảng 1/10 cư dân sở hữu một ô tô.[42]

Tổng tỷ suất sinh được ước tính là 0,79 trẻ em trên mỗi phụ nữ vào năm 2013, đây là tỷ lệ thấp nhất thế giới và thấp hơn tỷ lệ cần thiết là 2,1 để thay thế dân số.[47] Để khắc phục vấn đề này, chính phủ Singapore khuyến khích người ngoại quốc nhập cư đến Singapore trong vài thập niên gần đây. Một lươgnj lớn người nhập cư giúp cho dân số của Singapore không suy giảm.[48] Singapore có truyền thống là một trong những quốc gia phát triển có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, tỷ lệ thất nghiệp tại đây không vượt quá 4% trong thập kỷ qua, chạm mức cao 3% trong khủng hoản tài chính toàn cầu 2009 và giảm xuống 1,9% vào 2011.[49][50]

Năm 2009, khoảng 40% cư dân Singapore là người ngoại quốc, một trong những tỷ lệ cao nhất trên thế giới.[51] Công nhân ngoại quốc chiếm 80% lao động trong ngành xây dựng và chiếm 50% trong ngành phục vụ.[52][53]

Năm 2009, điều tra dân số của chính phủ báo cáo rằng 74,2% cư dân là người gốc Hoa, 13,4% là người gốc Mã Lai, và 9,2% là người gốc Ấn Độ,[54] người Âu-Á và các nhóm khác chiếm 3,2%. Trước năm 2010, mỗi cá nhân chỉ có thể đăng ký làm thành viên của một chủng tộc, mặc định theo phụ hệ, do đó, những người hỗn chủng được xếp theo nhóm chủng tộc của người cha. Từ năm 2010 trở đi, người dân có thể đăng ký theo phân loại kép, trong đó họ có thể chọn một chủng tộc chính và một chủng tộc thứ, song không quá hai.[55]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo tại Singapore (Pew Research)[56][57]
Religion Percent
Phật giáo
  
34%
Ki-tô giáo
  
18%
Không tôn giáo
  
16%
Hồi giáo
  
14%
Khác
(chủ yếu là Đạo giáo)]]
  
10%
Ấn Độ giáo
  
5%
Dân gian
  
3%

Phật giáo là tôn giáo được thực hành phổ biến nhất tại Singapore, với 33% số cư dân tuyên bố bản thân họ là tín đồ trong cuộc điều tra dân số gần đây nhất. Tôn giáo được thực hành phổ biến thứ nhì là Ki-tô giáo, sau đó là Hồi giáo, Đạo giáo, và Ấn Độ giáo. 17% dân số không gia nhập tôn giáo nào. Tỷ lệ tín đồ Ki-tô giáo, Đạo giáo, và người không tôn giáo tăng trong khoảng thời gian giữa năm 2000 và 2010, mỗi nhóm tăng 3%, trong khi tỷ lệ tín đồ Phật giáo thì giảm xuống. Các đức tin khác vẫn ổn định trên quy mô lớn về tỷ lệ dân số.[56]

Tại Singapore có các chùa và trung tâm Phật pháp từ cả ba tông phái truyền thống chính của Phật giáo: Thượng tọa bộ, Đại thừa, và Kim cương thừa. Hầu hết tín đồ Phật giáo tại Singapore là người Hoa và theo truyền thống Đại thừa.[58] Đại thừa Trung Hoa là tông phái Phật giáo chiếm ưu thế nhất tại Singapore, với các hòa thượng truyền giáo đến từ Đài Loan và Trung Quốc trong vài thập kỷ gần đây. Tuy nhiên, Phật giáo Thượng tọa bộ từ Thái Lan ngày càng phổ biến trong cư dân Singapore (không chỉ người Hoa) trong thập niên qua. Học hội Sáng giá Quốc tế là một tổ chức Phật giáo của Nhật Bản, hiện được nhiều người thực hành theo tại Singapore, song hầu hết họ là người gốc Hoa. Phật giáo Tây Tạng cũng xâm nhập chậm vào quốc đảo trong những năm gần đây.[59]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng mẹ đẻ của người Singapore[60]
Ngôn ngữ Tỷ lệ
tiếng Trung Quốc
  
49.9%
tiếng Anh
  
32.3%
tiếng Mã Lai
  
12.2%
tiếng Tamil
  
3.3%

Singapore có bốn ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Mã Lai, Quan thoại, và Tamil.[61] Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến tại quốc đảo và là ngôn ngữ của kinh doanh, chính phủ, và là phương tiện giảng dạy trong trường học.[62][63] Các cơ cấu công cộng tại Singapore quản lý công việc của họ bằng tiếng Anh, và các tài liệu chính thức được viết bằng các ngôn ngữ chính thức khác như tiếng Hoa, tiếng Mã Lai, hay tiếng Tamil thường phải được dịch sang tiếng Anh để việc đệ trình được chấp nhận. Hiến pháp Singapore và toàn bộ các luật được viết bằng tiếng Anh,[64] và người dịch được yêu cầu nếu một người muốn nói chuyện với tòa án bằng một ngôn ngữ không phải tiếng Anh.[65][66] Tuy nhiên, tiếng Anh chỉ là ngôn ngữ mẹ đẻ của một phần ba người Singapore, với khoảng một phần ba người Singapore gốc Hoa, một phần tư người Singapore gốc Mã Lai và một nửa người Singapore gốc Ấn Độ có ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Anh. 20% người Singapore không thể đọc hoặc viết bằng tiếng Anh.[56][67]

Nhiều người Singapore là người song ngữ trong tiếng Anh và ngôn ngữ chính thức khác, với mức độ lưu loát khác nhau. Xếp hạng các ngôn ngữ chính thức về tỷ lệ đọc viết là tiếng Anh (80% biết đọc viết), Quan thoại (65% biết đọc viết), Mã Lai (17% biết đọc viết), và Tamil (4% biết đọc viết).[56][68] Tiếng Anh-Singapore dựa trên tiếng Anh-Anh,[69] và các dạng tiếng Anh được nói tại Singapore biến thiên từ "tiếng Anh-Singapore chuẩn" đến một thứ tiếng bồi gọi là "Singlish". Singlish bị chính phủ ngăn trở quyết liệt.[70]

Tiếng Hoa là ngôn ngữ mẹ đẻ của nhiều người Singapore nhất, chiếm một nửa trong số họ.[60] Quan thoại Singapore là phương ngôn tiếng Hoa phổ biến nhất tại quốc đảo,[71] với 1,2 triệu người sử dụng nó làm ngôn ngữ nói tại nhà. Gần nửa triệu người nói các phương ngôn tiếng Hoa khác, chủ yếu là tiếng Phúc Kiến, tiếng Triều Châu, và tiếng Quảng Đông, như ngôn ngữ tại nhà của họ, song việc sử dụng các phương ngôn này đang suy giảm khi thế hệ sau này chuyển sang Quan thoại và tiếng Anh.[72]

Chính phủ Singapore chọn tiếng Mã Lai làm ngôn ngữ quốc gia sau khi giành độc lập từ Anh Quốc trong thập niên 1960 nhằm tránh xích mích với các láng giềng — Malaysia và Indonesia — những quốc gia nói tiếng Mã Lai.[73] Việc này mang mục đích biểu tượng hơn là chức năng.[61][74][75] Ngôn ngữ này được sử dụng trong quốc ca "Majulah Singapura",[76] trong các trích dẫn của hệ thống thứ bậc và huy chương của Singapore, và trong chỉ huy quân sự. Ngày nay, về tổng thể, tiếng Mã Lai được nói trong cộng đồng người Singapore gốc Mã Lai, chỉ 16,8% người Singapore biết đọc viết tiếng Mã Lai[77] và chỉ 12% sử dụng nó làm ngôn ngữ mẹ đẻ.[60]

Khoảng 100.000, hay 3%, người Singapore nói tiếng Tamil như ngôn ngữ mẹ đẻ của họ.[60] Tamil có địa vị chính thức tại Singapore và không có nỗ lực nào nhằm ngăn cấm việc sử dụng các ngôn ngữ Ấn Độ khác.[78]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Statistics Singapore – Latest Data – Population & Land Area (Mid-Year Estimates)”. Statistics Singapore. Tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ Chew, Ernest (1991). Trong Lee, Edwin. A History of Singapore. Oxford University Press. ISBN 0-19-588917-7. 
  3. ^ Hoe Yeen Nie (2 tháng 6 năm 2009). “State of Singapore came into being 50 years ago on 3 June”. Channel News Asia (Singapore). 
  4. ^ a ă â Leitch Lepoer, Barbara (1989). “Singapore as Part of Malaysia”. Library of Congress Country Studies. Washington, D.C.: Government Printing Office. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ a ă â b “Singapore”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2012. 
  6. ^ “Distribution of family income – Gini Index”. CIA. 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2013. 
  7. ^ Loo BF (2005) Transforming Singapore's Military Security Landscape: Problems and Prospects, allacademic
  8. ^ Tan ATH (1999) Singapore's Defence: Capabilities, Trends, and Implications, questia
  9. ^ “Sang Nila Utama”. Singapore Infopedia. National Library Board. 26 tháng 11 năm 1999. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2011. 
  10. ^ The Population of Singapore by Swee-Hock Saw p.2-3
  11. ^ Malayan Place Names by S. Durai Raja Singam p.C-186
  12. ^ “Country Studies: Singapore: History”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007. 
  13. ^ a ă “Founding of Modern Singapore”. Ministry of Information, Communications and the Arts. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011. 
  14. ^ “East & South-East Asia Titles: Straits Settlements Annual Reports (Singapore, Penang, Malacca, Labuan) 1855–1941”. Cambridge University Press. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012. 
  15. ^ “The Malays”. National Heritage Board 2011. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  16. ^ “On This Day – 15 February 1942: Singapore forced to surrender”. BBC News. 15 tháng 2 năm 1942. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007. 
  17. ^ Leitch Lepoer, Barbara (1989). “Singapore, Shonan: Light of the South”. Library of Congress Country Studies. Washington, D.C.: Government Printing Office. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011. 
  18. ^ “Country studies: Singapore: World War II”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  19. ^ “Country studies: Singapore: Road to Independence”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  20. ^ “Headliners; Retiring, Semi”. The New York Times. 2 tháng 12 năm 1990. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008. 
  21. ^ a ă â “The Singapore Legal System”. Singapore Academy of Law. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  22. ^ “Communism”. Thinkquest. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012. 
  23. ^ “Road to Independence”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2006. 
  24. ^ “Country Groups”. The World Bank. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006. 
  25. ^ “Country profile: Singapore”. BBC News. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2006. 
  26. ^ “World Weather Information Service - Singapore”. 
  27. ^ “World Factbook – Singapore”. U.S. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  28. ^ a ă “Freedom in the World 2010 – Singapore”. Freedom House. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  29. ^ “Democracy index 2010”. The Economist. 2010. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011. 
  30. ^ “Corruption Perceptions Index 2009”. Transparency International. 2009. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010. 
  31. ^ “The President”. Singapore Government. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  32. ^ “Members of Parliament”. Government of Singapore. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  33. ^ “The Singapore Legal System”. Singapore Academy of Law. 25 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  34. ^ “Judicial caning in Singapore, Malaysia and Brunei”. World Corporal Punishment Research. 2008. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  35. ^ Kuntz, Tom (26 tháng 6 năm 1994). “Ideas & Trends; Beyond Singapore: Corporal Punishment, A to Z”. The New York Times. 
  36. ^ “Singapore: The death penalty – A hidden toll of executions”. Amnesty International USA. 2003. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011. 
  37. ^ “The Singapore Government's Response To Amnesty International's Report "Singapore – The Death Penalty: A Hidden Toll Of Executions"” (Thông cáo báo chí). Ministry of Home Affairs. 30 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010. 
  38. ^ “Hong Kong has best judicial system in Asia: business survey”. ABS-CBN News (Philippines). Agence France-Presse. 15 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010. 
  39. ^ http://www.mofa.gov.vn/vi/cn_vakv/ca_tbd/nr040819104347/ns070731160923#XCTxV8IkRXba
  40. ^ a ă Thống kê giao thông Singapore 2010
  41. ^ “Census of population”. Singapore Department of Statistics. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  42. ^ a ă “Key annual indicators”. Singapore Department of Statistics. 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  43. ^ “HDB InfoWEB: HDB Wins the 2010 UN-HABITAT Scroll of Honour Award:”. Hdb.gov.sg. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013. 
  44. ^ Wong, Gillian (16 tháng 8 năm 2008). “Singapore Advocacy Groups Campaign 'Days Off' for Maids”. The Irrawaddy (Chiang Mai, Thailand). Associated Press. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  45. ^ “Key demographic indicators, 1970–2010”. Singapore Department of Statistics. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  46. ^ “Resident Population by Place of Birth, Ethnic Group and Sex”. Singapore Department of Statistics. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  47. ^ “The World Factbook”. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  48. ^ Ng, Julia (7 tháng 2 năm 2007). “Singapore's birth trend outlook remains dismal”. Channel NewsAsia (Singapore). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010. 
  49. ^ “Unemployment”. Ministry of Manpower. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  50. ^ Chan, Joanne (15 tháng 6 năm 2011). “S'pore unemployment rate falls to three-year low”. Channel NewsAsia. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  51. ^ "Trends in international migrant stock: The 2008 revision", United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division (2009).
  52. ^ “Executive summary”. Building and Construction Authority. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011. 
  53. ^ Sudderuddin, Shuli (22 tháng 2 năm 2009). “Singapore's phantom workers”. The Straits Times (Singapore). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  54. ^ “Population Trends 2009”. Singapore Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009. 
  55. ^ Hoe Yeen Nie (12 tháng 1 năm 2010). “Singaporeans of mixed race allowed to 'double barrel' race in IC”. Channel NewsAsia (Singapore). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  56. ^ a ă â b “Census of population 2010: Statistical Release 1 on Demographic Characteristics, Education, Language and Religion” (Thông cáo báo chí). Singapore Statistics. 12 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2011. 
  57. ^ Pew Research Center's Religion & Public Life Project: Singapore. Pew Research Center. 2010.
  58. ^ Khun Eng Kuah (2009). State, society, and religious engineering: toward a reformist Buddhism in Singapore. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 978-981-230-865-8. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010. 
  59. ^ “Modernity in south-east Asia”. Informaworld. 2 tháng 12 năm 1995. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010. 
  60. ^ a ă â b “Census of Population 2010:Key Indicators of the resident Population”. 2010. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013. 
  61. ^ a ă “Republic of Singapore Independence Act, s.7”. 
  62. ^ “Education UK Partnership – Country focus”. British Council. Tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  63. ^ “Speech by Mr S. Iswaran, Senior Minister of State, Ministry of Trade and Industry and Ministry of Education”. Ministry of Education. 19 tháng 4 năm 2010. 
  64. ^ “Constitution of the Republic of Singapore. Part I”. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  65. ^ “What do I do if I can't speak English?”. Singapore Subordinate Courts. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011. 
  66. ^ “Dependant's Pass – Before you apply”. Ministry of Manpower. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011. 
  67. ^ “Census of Population”. Singapore Statistics. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011. 
  68. ^ “Census of Population 2010”. Singapore Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  69. ^ “What are some commonly misspelled English words?”. Singapore: National Library Board. 18 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  70. ^ Tan Hwee Hwee (22 tháng 7 năm 2002). “A war of words is brewing over Singlish”. Time (New York). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  71. ^ Oi, Mariko (5 tháng 10 năm 2010). “Singapore's booming appetite to study Mandarin”. BBC News. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  72. ^ “Chapter 2 Education and Language”. General Household Survey 2005, Statistical Release 1: Socio-Demographic and Economic Characteristics. Singapore Statistics. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010. [[]][liên kết hỏng]
  73. ^ Lee, Lee Kuan Yew (2000). From Third World to First. Singapore: Marshall Cavendish. 
  74. ^ Afendras, Evangelos A.; Kuo, Eddie C.Y. (1980). Language and society in Singapore. Singapore University Press. ISBN 978-9971-69-016-8. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  75. ^ Ammon, Ulrich; Dittmar, Norbert; Mattheier, Klaus J. (2006). Sociolinguistics: An international handbook of the science of language and society 3. Berlin: Walter de Gruyter. ISBN 978-3-11-018418-1. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  76. ^ Bản mẫu:Singapore legislation
  77. ^ “Literacy and Language”. Singapore Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011. 
  78. ^ “Returning Singaporeans – Mother-Tongue Language Policy”. Ministry of Education. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2010. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hill, Michael (1995). Trong Kwen Fee Lian. The Politics of Nation Building and Citizenship năm Singapore. Routledge. ISBN 0-415-12025-X. 
  • King, Rodney (2008). The Singapore Miracle, Myth and Reality. Insight Press. ISBN 0-9775567-0-0. 
  • Mauzy, Diane K.; Milne, R.S. (2002). Singapore Politics: Under the People's Action Party. Routledge. ISBN 0415246539. 
  • Tan, Kenneth Paul (2007). Renaissance Singapore? Economy, Culture, and Politics. NUS Press. ISBN 9789971693770. 
  • Lee Kuan Yew (2000). From Third World To First: The Singapore Story: 1965–2000. New York: HarperCollins. ISBN 0-06-019776-5
  • Worthington, Ross (2002). Governance năm Singapore. Routledge/Curzon. ISBN 0-7007-1474-X. 
  • “Census of Population (2000)” (PDF). Singapore Department of Statistics. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2000. 
  • “Key Facts & Figures”. Ministry of Transport, Singapore. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2003. 
  • “Nation's History”. Singapore Infomap. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2004. 
  • “MOE-PRIME”. Programme For Rebuilding and IMproving Existing schools (PRIME). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007. 
  • “Eight More Schools to Benefit from Upgrading” (Thông cáo báo chí). Ministry of Education. 14 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]