Beirut

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 33°53′13″B, 35°30′47″Đ

Beirut
بيروت‎
Beyrouth (tiếng Pháp)
Beirut
Beirut
Lá cờ Beirut
Lá cờ
Con dấu chính thức của Beirut
Con dấu
Huy hiệu của Beirut
Huy hiệu
Location in the Republic of Liban
Location in the Republic of Liban
Tọa độ: 33°53′13″B 35°30′47″Đ / 33,88694°B 35,51306°Đ / 33.88694; 35.51306
Quốc gia Liban
Governorate Beirut, Capital City
Chính quyền
 - Thị trưởng Abdel Mounim Ariss[1]
Diện tích
 - Thành phố 100 km² (31 mi²)
Dân số (2007)
 - Thành phố 1.250.000
 - Mật độ 12.500/km² (32.374,9/mi²)
 - Vùng đô thị 1.500.000
Múi giờ +2 (UTC)
 - Mùa hè (DST) +3 (UTC)
Mã điện thoại 01 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa Istanbul, Amman, Athena, Damas, Dubai, Yerevan, Los Angeles, Lyon, Marseille, Moskva, Thành phố Québec, Trieste, Île-de-France, Basse-Normandie, Montréal, Buenos Aires, Thành phố México, Bagdad, Tripoli, Karachi, Rio de Janeiro, Cairo sửa dữ liệu
Website: City of Beirut

Beirut hay Bayrūt, Beirut (tiếng Ả Rập: بيروت, chuyển tự: Bayrūt), đôi khi được gọi bằng tên tiếng Pháp của nó là Beyrouth là thủ đô và là thành phố lớn nhất Liban, tọa lạc bên Địa Trung Hải, là thành phố cảng chính của quốc gia này.

Con số ước tính về dân số thành phố này không cố định, thấp nhất là 938.940 người,[2] đến 1.303.129 người,[3] đến con số cao 2.012.000 người.[4] Sự thiếu chính xác này là do cuộc không có cuộc điều tra dân số toàn diện thực hiện ở Liban kể từ năm 1932.[5] Thành phố nằm trên một bán đảo hơi nghiêng về phía Địa Trung Hải, thành phố bị bao trong Dãy núi Liban nhô cao lên về phía Đông. Khí hậu Địa Trung Hải của thành phố tạo ra mùa Hè nóng và mùa Đông êm dịu với độ ẩm cao về mùa Hè. Tên theo tiếng Ả Rập Beirut có nghĩa là "những giếng nước" do nguồn nước cung cấp ở khu vực này lấy từ nước ngầm. Khu vực thành phố có diện tích khoảng 19,8 km2, nhiều khu vực nằm ngoài ranh giới nội thành thường được tính vào nội thành.

Trong nhiều thập kỷ Beirut đã là trung tâm ngân hàng của khu vực Trung Đông, nhưng thành phố đã bị tàn phá trong Nội chiến Liban (1975-1990). Sau chiến tranh, thành phố bắt đầu quá trình xây dựng lại chậm chạp. Đầu thế kỷ 21, nền kinh tế của Beirut đã phục hồi, những chứng tích của sự tàn phá chiến tranh đã dần biến mất. Kể từ sau chiến tranh, Beirut đã nỗ lực lấy lại vị trí trung tâm thương mại và ngân hàng ở Trung Đông. Thành phố có các mặt hàng xuất khẩu như: lụa, vải bông, trái cây, da sống, gia cầm, lông cừu. Thành phố nhập khẩu vật liệu xây dựng, hàng quần áo, thực phẩm. Ngành xây dựng bùng nổ sau cuộc chiến khi thành phố tái thiết. Beirut được kết nối giao thông qua sân bay quốc tế Beirut. Ngoài ra, thành phố còn có các đường bộ nối với Damascus, Syria, và các thành phố Trung Đông khác.

Beirut đã lấy lại được vị trí trung tâm thương mại khu vực của mình. Beirut đã đăng cai Hội nghị thượng đỉnh khối Pháp ngữ (Francophonie) và Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn Ả Rập năm 2002. Năm 2007, Beirut đăng cai tổ chức lễ kỷ niện Le Prix Albert Londres, trao giải cho các phóng viên khối Francophone xuất sắc hàng năm.[6] Thành phố sẽ tổ chức Ngày Pháp ngữ (Jeux de la Francophonie năm 2009. Beirut đang xem xét xin ứng cử đăng cai Thế vận hội mùa Hè 2024.

Thành phố là nơi có nhiều tổ chức quốc tế như Ủy ban Kinh tế Xã hội Tây Á (ESCWA) của Liên Hiệp Quốc có trụ sở ở trung tâm Beirut còn Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và UNESCO đều có văn phòng khu vực ở Beirut đảm trách khu vực thế giới Ả Rập. Tổ chức các hãng hàng không Ả Rập (AACO) cũng có trụ sở ở Beirut.

Tạp chí du lịch Travel and Leisure đã bầu chọn Beirut là thành phố 9/10 thành phố tốt nhất về "Giải thưởng Tốt nhất thế giới năm 2006", chỉ sau New York City và trên San Francisco.

Những người sinh ra ở Beirut nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh Beirut với đỉnh Sannine của Núi Liban có tuyết bao bọc ở phía sau - thế kỷ 19

Các thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]