Bình Nhưỡng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bình Nhưỡng
Chuyển tự Tiếng Hàn
 - Hangul 평양 직할시
 - Hanja 平壤直轄市
 - Romaja quốc ngữ Pyeongyang Jikhalsi
 - McCune–Reischauer P'yŏngyang Chikhalsi
0322 Pyongyang Turm der Juche Idee Aussicht.jpg
Pyongyang-chikhalsi in North Korea.svg
Tọa độ: 39°02′B 125°44′Đ / 39,03°B 125,73°Đ / 39.03; 125.73 sửa dữ liệu
Quốc gia Hàn Quốc
Vùng
Chính quyền
 - Thị trưởng
Múi giờ UTC+09:00 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa Kathmandu, Kuala Lumpur, Thiên Tân, Jakarta sửa dữ liệu
Tiếng địa phương

Bình Nhưỡng (평양, phát âm:[pʰjɔŋjaŋ]) là thủ đô và thành phố lớn nhất của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Bình Nhưỡng nằm ở hai bên bờ sông Đại Đồng và theo kết quả điều tra năm 2008, dân số thành phố là 3.255.388 người.[1] Thành phố được tách ra từ tỉnh Pyongan Nam vào năm 1946. Bình Nhưỡng được quản lý như một thành phố trực thuộc trung ương (chikhalsi, trực hạt thị) và tương đương với các tỉnh khác.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, các nhà khảo cổ đã khai quật được những bằng chứng về một ngôi làng cổ đại gọi là Kŭmtan-ni ở khu vực Bình Nhưỡng từ các thời kỳ đồ gốm Trất Văn (Chŭlmun)Vô Văn (Mumun).[2] Những người Bắc Triều Tiên liên hệ Bình Nhưỡng với "A Tư Đạt (Asadal)" (아사달; 신시), hay Vương Kiệm Thành (Wanggŏmsŏng) (왕검성; 王儉城), tức kinh đô đầu tiên (thế kỷ 2 TCN) của vương quốc Cổ Triều Tiên theo các sử sách Triều Tiên, đặc biệt là theo Tam quốc di sự (Samguk Yusa). Nhiều sử gia Hàn Quốc tranh cãi về điều này, vì theo các sử sách Triều Tiên khác thì Asadal nằm quanh Liêu Hà ở phía tây Mãn Châu. Dù sao, Bình Nhưỡng đã là một điểm định cư lớn dưới thời Cổ Triều Tiên.

Do không tìm thấy các vết tích của thời kỳ Tây Hán ở khu vực xung quanh Bình Nhưỡng nên có khả năng khu vực quanh Bình Nhưỡng đã ly khai khỏi vương quốc Cổ Triều Tiên và thuộc về các vương quốc Triều Tiên khác khi Vệ Mãn Triều Tiên (một giai đoạn kéo dài nhất của Cổ Triều Tiên) sụp đổ sau chiến tranh Cổ Triều Tiên-Hán vào năm 108 TCN. Một số phát hiện khảo cổ học từ thời kỳ Hậu Đông Hán (25-220) tại khu vực Bình Nhưỡng dường như củng cố quan điểm cho rằng quân Hán về sau đã có những cuộc thâm nhập ngắn vào khu vực quanh Bình Nhưỡng.

Khu vực xung quanh Bình Nhưỡng được gọi là Nanglang (Lạc Lãng) vào giai đoạn sơ khởi của thời Tam Quốc Triều Tiên. Với vai trò là kinh đô của vương quốc Nanglang (낙랑국; 낙랑), Bình Nhưỡng vẫn giữa được vai trò là một tiền đồn thương mại và văn hóa quan trọng sau khi Lạc Lãng quận bị phá hủy trong cuộc chinh phục của Cao Câu Ly vào năm 313 SCN. Cao Câu Ly đã chuyển kinh đô của mình tới Bình Nhưỡng vào năm 427. Theo Christopher Beckwith, Bình Nhưỡng (Pyongyang) là cách đọc Hán-Triều của từ Piarna, nghĩa là "đất bằng".[3]

Năm 676, Bình Nhưỡng rơi vào tay Tân La nhưng sau lại nằm trên vùng biên thùy giữa Tân La và Bột Hải, điều này kéo dài cho đến thời Cao Ly. Dưới thời Cao Ly, Bình Nhưỡng được gọi là Tây Kinh (서경; 西京; "Sŏgyŏng"), mặc dù nơi này chưa từng là kinh đô của vương quốc. Bình Nhưỡng trở thành đô phủ của Đạo Pyongan (Bình An đạo) dưới thời nhà Triều Tiên. Thành phố từng bị quân đội Nhật Bản chiếm đóng vào năm 1592-1593 trong Chiến tranh Nhật Bản-Triều Tiên và bị quân Hậu Kim Mãn Châu chiếm đóng trong năm 1627. Năm 1890, thành phố có 40.000 cư dân.[4] Đây là nơi đã diễn ra một trận đánh quan trọng trong chiến tranh Thanh-Nhật, điều này đã dẫn tới hủy diệt và suy giảm đáng kể dân số của thành phố. Sau đó, khi đạo Pyongan được chia thành đạo Pyongan Bắc và Pyongan Nam vào năm 1896, Bình Nhưỡng lại trở thành đô phủ của Pyongan Nam. Cuối thế kỷ 19, tàu buôn "General Sherman" của Hoa Kỳ đã ngược sông Đại Đồng đến Bình Nhưỡng và bị dân quân địa phương đốt cháy. Sau đó, triều đình Triều Tiên đã phải cho mở cửa Bình Nhưỡng và Nampho (Nam Phố), thành phố trở thành trung tâm thương mại và công nghiệp chủ yếu của miền bắc Triều Tiên. Dưới thời Nhật Bản cai trị, thành phố đã trở thành một trung tâm công nghiệp và được gọi với cái tên Heijō (Bình Thành) trong tiếng Nhật. Năm 1938, dân số Bình Nhưỡng đã đạt 235.000 người.[4]

Năm 1945, quân đội Xô-viết tiến vào Bình Nhưỡng, thành phố trở thành thủ đô lâm thời của Ủy ban Nhân dân Bắc Triều Tiên. Trường Thương mại Bình Nhưỡng nằm bên đồi Mansudae, tòa nhà chính quyền tỉnh Pyongan Nam nằm ở phía sau. Tòa nhà chính quyền tỉnh là một trong các tòa nhà đẹp nhất Bình Nhưỡng. Lực lượng vũ trang Xô viết được giao quản lý tòa nhà để làm trụ sở còn Tòa thị chính được phân cho các quan chức Bắc Triều Tiên, trong khi trụ sở của đảng Cộng sản được phân về Nha Hải quan.[5] Bình Nhưỡng trở thành thủ đô trên thực tế của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên kể từ khi được thành lập vào năm 1948. Vào thời điểm đó, chính quyền Bình Nhưỡng nhắm lấy mục tiêu giành lại thủ đô chính thức là Seoul. Bình Nhưỡng một lần nữa bị thiệt hại nặng nề trong chiến tranh Triều Tiên, từng bị lực lượng miền Nam chiếm đóng một cách nhanh chóng. Năm 1952, thành phố trở thành mục tiêu của các cuộc không kích bất ngờ có quy mô lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến, với 1.400 máy bay của liên quân Liên Hiệp Quốc. Sau chiến tranh, thành phố nhanh chóng được xây dựng lại với sự giúp đỡ của Liên Xô, các tòa nhà mới mang phong cách kiến trúc Stalin. Thành phố Bình Nhưỡng sau khi được xây dựng lại có đặc trưng là các công viên rộng lớn, các đại lộ và các chung cư cao tầng. Bình Nhưỡng trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và giao thông của Bắc Triều Tiên. Chỉ những công dân chọn lọc bao gồm những quan chức nhà nước và gia đình họ, những người có lý lịch trong sạch nhất và trung thành nhất với chế độ mới được phép cư trú tại Bình Nhưỡng. Việc cư trú tại Bình Nhưỡng là một đặc quyền.[6] Để ra vào thành phố phải có giấy phép của chính quyền.[7] Năm 1962, thành phố có tổng dân số là 653.000 người. Dân số tăng lên 1,3 triệu năm 1978 và lên trên 3 triệu người vào năm 2007.[4]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Nhưỡng nằm ở phần tây-trung của Bắc Triều Tiên; thành phố nằm trên một vùng đồng bằng bằng phẳng cách 50 km (30 mi) về phía đông của vịnh Triều Tiên, một bộ phận của Hoàng Hải. Sông Đại Đồng chảy theo hướng tây nam qua thành phố và đổ vào vịnh Triều Tiên. Phía tây bắc Bình Nhưỡng có các dãy núi thấp và phía đông có một số ngọn đồi nhỏ.

Cấu tạo địa chất Bình Nhưỡng nằm trên địa hệ đá vôi và đá hoa cương của kỷ Jura vào thời kỳ Đại Trung Sinh, Triều Tiên gọi là "hệ Đại Đồng". Thành phần thổ nhưỡng gồm đất cát đỏ hình thành từ phân giải đá vôi. Các loại khoáng sản chủ yếu là than non, bô xít, than bùn, đồng. Thảm thực vật thuộc vành đai cây lá kim.

Bình Nhưỡng có khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dwa). Vào mùa đông, các cơn gió lạnh và khô từ Siberi về khiến cho khí hậu trở nên rất lạnh; nhiệt độ thường xuyên xuống dưới mức O°C từ giữa tháng 11 đến đầu tháng 3, mặc dù nhiệt độ trung bình ngày lên trên mức đóng băng vào mọi tháng trừ tháng 1. Thời tiết mùa đông thường khô hơn mùa hè, tuyết rơi trung bình 37 ngày trong năm.[8]

Việc chuyển giao giữa mùa đông lạnh và khô sang mùa hè ấm và ẩm diễn ra khá nhanh vào tháng 4 và đầu tháng 5, và tương tự đối với sự quay trở lại của mùa đông vào tháng 10 và 11. Mùa hè thường nóng và ẩm, với gió mùa Đông Á thổi từ tháng 6 cho đến tháng 8; đây cũng là những tháng nóng nhất, với nhiệt độ trung bình là từ 21 °C (70 °F) đến 25 °C (77 °F), nhiệt độ vào ban ngày có thể cao đến trên 30 °C (86 °F).

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình tối cao °C (°F) −0.8 (31) 2.4 (36) 8.9 (48) 17.1 (63) 22.6 (73) 26.7 (80) 28.6 (83) 28.9 (84) 24.7 (76) 18.2 (65) 9.4 (49) 1.7 (35) 15,7 (60)
Trung bình tối thấp °C (°F) −10.7 (13) −7.8 (18) −1.8 (29) 4.9 (41) 10.9 (52) 16.5 (62) 20.7 (69) 20.5 (69) 14.3 (58) 6.7 (44) −0.3 (31) −7.2 (19) 5,6 (42)
Lượng mưa mm (inch) 12.2 (0.5) 11.0 (0.4) 24.7 (1) 49.9 (2) 72.2 (2.8) 90.3 (3.6) 275.2 (10.8) 212.8 (8.4) 100.2 (3.9) 39.9 (1.6) 34.9 (1.4) 16.5 (0.6) 939,8 (37)
Nguồn: Tổ chức Khí tượng Thế giới[9]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Nhưỡng nhìn từ vệ tinh vào năm 2007

Bình Nhưỡng được chia thành 18 khu vực (ku- hay guyŏk) và 1 huyện (kun hay gun).[10]

  • Chung-guyok (중구역; 中區域; Trung khu vực)
  • Pyongchon-guyok (평천구역; 平川區域; Bình Xuyên khu vực)
  • Potonggang-guyok (보통강구역; 普通江區域; Phổ Thông Giang khu vực)
  • Moranbong-guyok (모란봉구역; 牡丹峰區域; Mẫu Đơn Phong khu vực)
  • Sosong-guyok (서성구역; 西城區域; Tây Thành khu vực)
  • Songyo-guyok (선교구역; 船橋區域; Thuyền Kiều khu vực)
  • Tongdaewon-guyok (동대원구역; 東大院區域; Đông Đại Viện khu vực)
  • Taedonggang-guyok (대동강구역; 大同江區域; Đại Đồng Giang khu vực)
  • Sadong-guyok (사동구역; 寺洞區域; Tự Động khu vực)
  • Taesong-guyok (대성구역; 大城區域; Đại Thành khu vực)
  • Mangyongdae-guyok (만경대구역; 萬景台區域; Vạn Cảnh Đài khu vực)
  • Hyongjesan-guyok (형제산구역; 兄弟山區域; Huynh Đệ Sơn khu vực)
  • Ryongsong-guyok (룡성구역; 龍城區域; Long Thành khu vực)
  • Samsok-guyok (삼석구역; 三石區域; Tam Thạch khu vực)
  • Ryokpo-guyok (력포구역; 力浦區域; Lực Phố khu vực)
  • Nakrang-guyok (락랑구역; 樂浪區域; Nhạc/Lạc Lãng khu vực)
  • Sunan-guyok (순안구역; 順安區域; Thuận An khu vực)
  • Unjong-guyok (은정구역; 恩情區域; Ân Tình khu vực)
  • Kangdong-gun (강동군; 江東郡; Giang Đông quận)

Truyền thông nước ngoài năm 2010 đưa tin rằng Kangnam, Chunghwa, Sangwon, và Sŭngho-guyŏk đã được chuyển từ Bình Nhưỡng sang tỉnh Hwanghae Bắc.[11]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Nhưỡng là trung tâm công nghiệp của đất nước với các ngành như cơ khí, dệt may, điện tử, công nghệ thực phẩm. Vào đầu thập niên 1990, kinh tế thủ đô đã bị ảnh hưởng nặng nề sau khi bị mất các bạn hàng truyền thống. Sản lượng công nghiệp của thành phố đã từng suy giảm ở mức 5% mỗi năm cho đến tận năm 2000. Theo một số ước tính của phương Tây, có một nửa số nhà máy đã bị đóng cửa, một số nguồn còn đưa ra con số 90%. Nền kinh tế Bình Nhưỡng hiện được cho là ở trong tình trạng tự cung tự cấp.

Nguồn điện cung cấp cho Bình Nhưỡng chủ yếu đến từ các nhà máy thủy điện, nhiệt điện và các lò phản ứng plutonium. Kể từ khi các nhà máy này hoạt động gián đoạn thì nguồn điện dược cung cấp theo số lượng cố định. Kết quả là thủ đô hầu như chìm trong bóng tối vào ban đêm. Các địa điểm quan trọng như khu ngoại giao đoàn, các tòa nhà chính quyền, khách sạn cho người nước ngoài, các doanh trại quân đội Nhân dân Triều Tiên và hệ thống chiếu sáng tại các đài tưởng niệm chủ tịch Kim Nhật Thành có nguồn cung cấp điện riêng. Thành phố Bình Nhưỡng có các đường ống ngầm để sưởi ấm đến từng căn hộ, từng tòa nhà, tuy nhiên, một lượng nhiệt đáng kể bị tiêu hao dọc chiều dài đường ống.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ United Nations Statistics Division; Preliminary results of the 2008 Census of Population of the Democratic People’s Republic of Korea conducted on 1–15 October 2008 (pdf-file) Retrieved on 2009-03-01.
  2. ^ National Research Institute of Cultural Heritage. 2001. Geumtan-ri. Hanguk Gogohak Sajeon [Dictionary of Korean Archaeology], pp. 148–149. NRICH, Seoul. ISBN 89-5508-025-5
  3. ^ Beckwith, Christopher I. (2009). Empires of the Silk Road: A History of Central Eurasia from the Bronze Age to the Present. Princeton University Press. tr. 104. ISBN 9780691135892. 
  4. ^ a ă â Jan Lahmeyer, University of Utrecht: Populstat: North Korea - Urban Population
  5. ^ "The Red Army Descends on Pyongyang", Hwang Jang Yop's Memoirs
  6. ^ Inside Under Cover In North Korea, National Geographic
  7. ^ Một thoáng nhìn về cuộc sống Bắc Hàn, Juliet Rix, BBC online
  8. ^ “Weather Centre - World Weather - Country Guides - North Korea”. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2010. 
  9. ^ “World Weather Information Service - Pyongyang” (bằng tiếng Anh). 
  10. ^ “행정구역현황 (Haengjeong Guyeok Hyeonhwang)”. NK Chosun. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2006. 
  11. ^ “Pyongyang now more than one-third smaller; food shortage issues suspected”, Asahi Shimbun, 17 tháng 7 năm 2010, truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Thành phố của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
'Thành phố trực thuộc trung ương: Bình Nhưỡng | Rasŏn
Thành phố đặc biệt trực thuộc tỉnh : Namp'o
Thành phố thuộc tỉnh : Anju · Ch'ŏngjin · Chŏngju · Haeju · Hamhŭng · Hoeryŏng · Hŭich'ŏn · Hyesan · Kaech'ŏn · Kaesŏng · Kanggye · Kimch'aek · Kusŏng · Manp'o · Munch'ŏn · Sariwŏn · Sinp'o · Sinŭiju · Songrim · P'yŏngsŏng · Sunch'ŏn · Tanch'on · Tŏkch'ŏn · Wŏnsan