Đá vôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đá vôi là loại một loại đá trầm tích, về thành phần hóa học chủ yếu là khoáng chất canxit (tức cacbonat canxi CaCO3). Đá vôi ít khi ở dạng tinh khiết, mà thường bị lẫn các tạp chất như đá phiến silic, silicađá mácma cũng như đất sét, bùncát, bitum... Nên nó có màu sắc từ trắng đến màu tro, xanh nhạt, vàng và cả màu hồng sẫm, màu đen. Đá vôi có độ cứng 3, khối lượng thể tích 2600 ÷ 2800 kg/m3, cường độ chịu nén 1700 ÷ 2600 kg/cm2,[cần dẫn nguồn] độ hút nước 0,2 ÷ 0,5%. Đá vôi nhiều silic có cường độ cao hơn, nhưng giòn và cứng. Đá vôi đôlômit có tính năng cơ học tốt hơn đá vôi thường. Đá vôi chứa nhiều sét (lớn hơn 3%) thì độ bền nước kém. Đá vôi không rắn bằng đá granit, nhưng phổ biến hơn, khai thác và gia công dễ dàng hơn, nên được dùng rộng rãi hơn. Đá vôi thường được dùng làm cốt liệu cho bê tông, dùng rải mặt đường ô tô, đường xe lửa, và dùng trong các công trình thuỷ lợi nói chung, cũng như để chế tạo tấm ốp, tấm lát và các cấu kiện kiến trúc khác. Đá vôi là nguyên liệu để sản xuất vôi và xi măng.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

khối lượng thể tích là 2,6-->2,8 g/cm3 độ chịu nén 60-->180 MPa dễ dàng gia công thành các loại vật liệu dạng hạt

Phong cảnh vùng đất đá vôi[sửa | sửa mã nguồn]

Xâm thực núi đá vôi[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tượng này có thể thấy qua quá trình tạo thành các thạch nhũ trong các hang động.

Phương trình hóa học:

(1)CaCO3 + CO2 + H2O <---> Ca(HCO3)2 (2)

Chiều phản ứng thuận (1)-> (2) Diễn tả quá trình xâm thực núi đá vôi. Chiều phản ứng (2) ->(1) Diễn tả quá trình hình thành thạch nhũ trong các hang động.

Các cách sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]