Mùn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Mùn là sản phẩm hình thành trong đất do quá trình tích lũy và phân giải không hoàn toàn trong điều kiện yếm khí xác thực vật và các tồn dư sinh vật khác trong đất do các vi sinh vật đất. Thành phần của mùn gồm được đặc trưng bởi các hợp chất chính: Axit Humic, Axit Fulvic, axit ulmic và các muối của chúng, thường gọi là humin, fulvin hay ulvin. Hiểu theo nghĩa rộng nhất, mùn trong đất bao gồm cả mùn nhuyễn(mùn theo nghĩa hẹp) và mùn thô (chất hữu cơ trong đất):

Mùn nhuyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Là loại mùn mà ở đó các chất hữu có đã phân hủy thành các axit mùn (humic và fulvic) và các humin, cũng như các chất khó tiêu với cây trồng khác như tanin, lignin. Có 2 loại mùn nhuyễn:

Mùn canxi[sửa | sửa mã nguồn]

Là loại mùn nhuyễn được hình thành ở những nơi mà ở đó quá trình hình thành được thuận lợi về độ ẩm và nhiệt độ, pH trung tình hàm lượng Ca++ và Mg++ trong đất khá phong phú.

Mùn dưới tán rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Là loại mùn nhuyễn gần như loại hình mùn canxi, nhưng được hình thành ở điều kiện không thuận lợi bằng: pH thấp (chỉ gần trung tính), hàm lượng Ca++ và Mg++ thấp. Loại hình mùn nhuyễn này thường thấy ở dưới tán rừng cây lá rộng hoặc cây hỗn giao là rộng và lá kim.

Mùn thô[sửa | sửa mã nguồn]

Là loại mùn mà ở đó các vật thể hữu cơ mới bị phân giải một phần, thường được hình thành trong điều kiện đất chua, hàm lượng Ca++ và Mg++ trong đất thấp. Thường xuất hiện ở các vùng có khí hậu lạnh.

Mùn trung gian[sửa | sửa mã nguồn]

Là loại mùn trung gian giữa mùn nhuyễn và mùn thô. Loại mùn này phần nào có tính chất tương tự như lớp đất A0' ' '

Than bùn[sửa | sửa mã nguồn]

Là một loại mùn mà ở đó các vật thể hữu cơ đã bị phân giải nhưng chưa hết, môi trường thường chứa nước, đồng thời môi trường đất thường rất chua, rất nghèo Ca++ và Mg++ làm cho các vật thể hữu cơ biến đổi không hoàn toàn, có màu đen, thường tơi xốp, đôi khi khô, hàm lượng các bon rất cao. Xem thêm Than bùn.