Ulaanbaatar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ulaanbaatar
—  Thành phố tự trị  —
Chuyển tự Tiếng Mông Cổ
 - Chữ viết Mông Cổ Ulaghanbaghatur.svg
 - Chuyển tự Ulaγanbaγatur
Chuyển tự Kirin
 - Kirin Mông Cổ Улаанбаатар
 - Chuyển tự Ulaanbaatar
UlaanBaatar-2009.jpg
Lá cờ Ulaanbaatar
Lá cờ
Huy hiệu của Ulaanbaatar
Huy hiệu
Biệt danh: УБ (UB), Нийслэл (thủ đô), Хот (thành phố), Азийн цагаан дагина (Nàng tiên trắng châu Á)
Mongolia ES.PNG
Ulaanbaatar trên bản đồ Mông Cổ
Ulaanbaatar
Ulaanbaatar
Vị trí tại Mông Cổ
Tọa độ: 47°55′B 106°55′Đ / 47,917°B 106,917°Đ / 47.917; 106.917
Quốc gia Mông Cổ
Thành lập Örgöö: ᠥᠭᠦᠭᠡ 1639
Vị trí hiện tại 1778
Ulaanbaatar 1924
Diện tích
 - Tổng cộng 4.7.044 km² (1.8.163 mi²)
Độ cao 1.350 m (4.429 ft)
Dân số (2011-04-30)
 - Tổng cộng 1,172,400
 - Mật độ 235/km² (603/mi²)
Múi giờ H (UTC+8)
Mã bưu chính 210 xxx
Mã điện thoại +976 (0)11
Thành phố kết nghĩa Adana, Q774015[?], Oakland, California, New Delhi, Delhi, Irkutsk, Seoul, Denver, Colombo, Đài Bắc sửa dữ liệu
Biển số xe УБ_ (_ thay đổi)
ISO 3166-2 MN-1
Website: http://www.ulaanbaatar.mn/
Ulaanbaatar

Ulan Bator hay Ulaanbaatar (tiếng Việt: U-lan Ba-to; tiếng Nga: Улан-Батор, Ulan Bator; tiếng Mông Cổ: Улаанбаатар, ᠤᠯᠠᠭᠠᠨᠪᠠᠭᠠᠲᠤᠷ, Ulaγanbaγatur; nghĩa là "Anh hùng Đỏ") là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Mông Cổ. Với vị thế là một đô thị trực thuộc trung ương, thành phố không thuộc bất kỳ một tỉnh nào, và có dân số trên một triệu người vào năm 2008.[1]

Nằm tại phía bắc của miền trung Mông Cổ, thành phố có độ cao 1.310 mét (4.300 ft) trên một thung lũng nằm bên sông Tuul. Ulaanbaatar là trung tâm văn hóa, kinh tế và tài chính của toàn bộ đất nước Mông Cổ. Thành phố cũng là trung tâm của mạng lưới đường bộ tại Mông Cổ, và có thể kết nối với cả Đường sắt xuyên Siberi của Nga và hệ thống đường sắt Trung Quốc.[2]

Thành phố được hình thành từ năm 1639 với vai trò là một trung tâm tu viện Phật giáo và di chuyển dần cùng với những người dân du mục. Năm 1778 thành phố được hình thành một cách cố định tại địa điểm hiện nay, nơi hợp lưu của hai dòng sông Tuul và Selbe. Trước đó thành phố đã thay đổi vị trí 28 lần, mỗi địa điểm trước đó đều được chọn lựa một cách kỹ lưỡng. Trong thế kỷ 20, Ulaanbaatar đã phát triển thành một trung tâm sản xuất của Mông Cổ.[2]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

"Ulaanbaatar" (Ulaγanbaγatur) trong chữ cái Mông Cổ truyền thống

Ulaanbaatar trước đó đã từng mang nhiều tên gọi trong lịch sử. Từ 1639 đến 1706, thành phố được gọi là Urga (tiếng Mông Cổ: Өргөө, Örgöö, "Cư trú"), và từ năm 1706 đến 1911 với tên gọi Kuren (Хүрээ, Xüree, "Lều"), Da-Kuren (Даа Хүрээ, Daa Xüree, từ tiếng Trung: , đại, chuyển tự của tiếng Mông Cổ: Их Хүрээ, Ix Xüree, "Trại Lớn"), hoặc Kulun (tiếng Trung: 庫倫 Khố Luân, chuyển tự của Xüree). Sau khi Mông Cổ độc lập vào năm 1911, cả chính quyền thế tục và cung điện của Khan/Hãn Bogd đều đổi tên thành phố thành Niĭslel Xüree (Нийслэл Хүрээ, "Lều Thủ đô"). Thành phố được gọi là Bogdiin Khuree (Богдийн Хүрээ, Bogdiĭn Xüree, "Lều Thánh") trong bài dân ca "Tôn kính Bogdiin Khuree".

Năm 1924, thành phố trở thành thủ đô của nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ mới được thành lập, tên của thành phố được đổi thành Ulaanbaatar (Улаанбаатар, Ulaanbaatar, nghĩa là "Anh hùng Đỏ") để tỏ lòng kính trọng đối với anh hùng dân tộc Mông Cổ Damdin Sükhbaatar, người đã kề vai sát cánh với Hồng quân Liên Xô giải phóng Mông Cổ khỏi sự chiếm đóng của Trung Quốc và chống lại quân đội xâm lược của Roman von Ungern-Sternberg. Tượng của ông nay vẫn được đặt tại quảng trường trung tâm thủ đô.

Do ảnh hưởng lâu dài của Liên Xô tại Mông Cổ, tên gọi Ulan Bator chuyển tự từ tiếng Nga (tiếng Nga: Улан-Батор, Ulan-Bator) đã trở thành tên gọi thông dụng của thành phố trong nhiều ngôn ngữ. Cách viết tên thành phố trong chữ cái tiếng Nga khác với trong chữ cái tiếng Mông Cổ là do liên quan đến các vấn đề về định nghĩa phát âm, và chữ cái Kirin mới chỉ được giới thiệu tại Mông Cổ 17 năm sau khi mước này giành được độc lập. Với người Mông Cổ, thành phố có biệt danh là Aziĭn Cagaan Dagina (Азийн Цагаан Дагина, "Nàng tiên Trắng [Dakini của châu Á") vào cuối thế kỷ 20. Tại Mông Cổ ngày nay, thành phố đôi khi được gọi một cách châm biếm là Utaanbaatar (Утаанбаатар, "Anh hùng Sương khói") do có sương mù dày đặc vào mùa đông.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Định cư trước-1778[sửa | sửa mã nguồn]

Con người đã bắt đầu tới định cư tại nơi là Ulaanbaatar ngày nay từ thời đại đồ đá cũ thấp. Nhà khảo cổ học Alexey Okladnikov đã làm việc từ năm 1949 và đến năm 1960 ông đã phát hiện ra nhiều di chỉ từ thời đồ đá cũ trên các ngọn núi Bogd Khan Uul, Buyant-Ukhaa và Songinokhairkhan. Đến năm 1962 nhiều dụng cụ từ thời đồ đá cũ khác nhau đã được tìm thấy tại núi Songinokhairkhan và núi Buyant-Ukhaa (23 dụng cụ bằng đá) và các học giả cho rằng các dụng cụ này có niên đại từ 300.000 năm đến 40.000-12.000 trước. Okladnikov phát hiện ra các di chỉ từ thời đồ đá cũ cao (40.000-12.000 năm trước) ở góc đông nam của Đồi Zaisan Hill ở phía bắc Núi Bogd Khan Uul. Byambyn Rinchen cho rằng đây là một nguồn cảm hứng cho cuốn truyện thời tiền sử của ông mang tên Zaan Zaluudai. Những người sống ở Thời đại đồ đá cũ Cao đã đi săn voi ma múttê giác lông mịn, xương của hai loài này được tìm thấy nhiều tại khu vực xung quanh Ulan Bator.

Các bức vẽ trên đá màu vàng nhạt từ thời đại đồ đồng (3000 năm trước) đã được tìm thấy tại hẻm núi Ikh Tenger Gorge ở mặt phía bắc của núi Bogd Khan Uul đối diện với thành phố. Các bức vẽ mô tả con người, ngựa, đại bàng và các hình vẽ trừu tượng như đường nằm ngang và hình vuông lớn có một trăm chấm nhỏ bên trong. Các lối vẽ tương tự trong thời kỳ này cũng xuất hiện tại Gachuurt ở phía tây của thành phố, cũng như tại tỉnh Khövsgöl và ở miền nam Siberi, chỉ dấu của một sự tương đồng với văn hóa du mục nam Siberi. Núi Bogd Khan Uul gần như chắc chắn đã là một địa điểm thờ cúng tôn giáo quan trọng của những cư dân thời đó.

Vương tọa do hoàng đế Khang Hi ban cho Zanabazar (La Bố Tạng Vượng Bố Trát Mộc Tát), sau này được Jebtsundamba Khutuktu (Triết Bố Tôn Đan Ba Hô Đồ Khắc Đồ) sử dụng tại Urga

Phía bắc Ulan Bator có các gồ mộ hoàng gia Hung Nô rất lớn và đã 2000 năm tuổi. Một ngôi mộ Hung Nô cũng được tìm thấy tại quận Chingeltei thuộc nội thành. Nằm bên bờ dòng sông thiêng Tuul ("Khatun Tuul" hay Nữ hoàng Tuul trong truyền thuyết), khu vực Ulan Bator nằm bên trong phạm vi của các đế chế du mục như Hung Nô (209BC-93AD), Tiên Ti (93AD-4th century), Nhu Nhiên (402-555), Đột Quyết (555-745), Hồi Hột (745-840), Khiết Đan (907-1125) và Đế quốc Mông Cổ (1206–1368). Tại quận Nalaikh District có bức bia Tonyukuk (thôn dục cốc) (khoảng năm 697 SCN) khắc chữ Run của người Turk (Thổ). Câu khắc này dài và nó có giá trị lưu ý rằng ở đây người ta có thể tìm thấy một người được gọi là "Khiết Đan" vốn là một người nói tiếng Mông Cổ ở phía đông. Một bia Kurgan (balba) hay tượng người cổ đã được lựa chọn để hình thành thành phố từ năm 1778 và vị trí thành phố hiện nay và được coi là một địa điểm thành lập lọng trọng (Shav). Một con rùa đá hiện đại nay nằm trên đỉnh của balbal cổ gần quảng trường Sukhbaatar ở trung tâm thành phố.

Vương Hãn của bộ lạc Khắc Liệt, một quốc vương Thiên chúa giáo Nestoria (Thiên chúa giáo Đông), đã tuyên bố rằng ông có cung điện tại đây (Rừng Đen của Sông Tuul) và ngăn cấm săn bắn trên ngọn núi thánh Bogd Uul. Các tàn tích của cung điện này (15x27 mét với một cửa hường về phía nam) được tìm thấy tại khu vực quận Songinokhairkhan vào năm 1949 và được D.Navaan kahi quật vào năm 2006. Cung điện xây bằng gạch này chịu ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa, cũng được gọi là Đệ Tam Cung điện của Thành Cát Tư Hãn hay cung Yesui Khatun, là nơi Thành Cát Tư Hãn sóng cùng Yesui Khatun trước khi tấn công Đảng Hạng. Năm 1984, một ngôi mộ có nhiều của cải từ thế kỷ 13 của một người 50-60 tuổi, cao 175 cm với một dây lưng trang trí bằng vàng đã được khai quật tại Dadart Uul thuộc khu vực núi Songinokhairkhan. Một bức khắc trên đá đơn giản từ thế kỷ 13 kể về một phụ nữ Mông Cổ cùng chiếc mũ Mông Cổ đặc trưng đã được tìm thấy tại núi Bogd Khan Uul. Hãn Abtai Sain được cho là đã tôn thờ ngọn núi vào thế kỷ 16. Một sứ thần nhà Thanh đã viết một thư tịch nói về chuyến đi của ông qua khu vực này vào năm 1712, trong đó những người tùy tùng đã nghỉ ngơi và đã bắt được 10 tới 12 con cá hồi và cá chó trên dòng sông trong khi một người khác đã giết được một con hươu bằng một phát súng. Ông cũng miêu tả cảnh thiên nhiên "dồi dào và phong phú" xung quanh một dãy núi mà có thể là núi Songino Khairkhan ngày nay.[3]

Tu viện di động[sửa | sửa mã nguồn]

Được thành lập năm 1639 và ban đầu là một tu viện yurt (lều tròn truyền thống Mông Cổ), Ulan Bator, khi đó được gọi là Örgöö (cung-yurt), đầu tiên nằm gần hồ Shireet Tsagaan, nay thuộc Övörkhangai, cách địa điểm thủ đô hiện nay 250 km, và chủ yếu dùng để làm nhà ở cho Jebtsundamba Khutughtu (người đứng đầu dòng Phật giáo Cách-lỗ phái tại Mông Cổ) đầu tiên tên là Zanabazar.

Với vai trò là một khu vực gắn với tu viện động, thành phố thường "di chuyển" tới những địa điểm khác nhau dọc theo các sông Selenge, OrkhonTuul. Trong chiến tranh Dzungar vào cuối thế thế kỷ 17, thành phố thậm chí còn từng được di dời đến Nội Mông ngày nay.[4] Sau này, khi phát triển hơn trước, thành phố dần dần giảm tần suất di chuyển.[5] Năm 1778, thành phố gần như ổn định tại vị trí ngày nay, gần nơi hợp lưu của sông Selbe và sông Tuul và nằm dưới chân núi Bogd Khan Uul, sau đó cũng nằm trên tuyến lữ hành từ Bắc Kinh đến Kyakhta.[6] Xét theo đơn tỉnh cầu của Yundendorji, hoàng đế Càn Long đã chính thức công nhận một nghi lễ hàng năm trên núi Bogd Khan Uul vào năm 1778 với điều kiện phải giao nộp triều cống hàng năm. Thành phố không chỉ là nơi Lạt-ma Jebtsundamba Khutugtus cư ngụ mà còn có hai trú tráp đại thần của nhà Thanh và có một Mãi mại thành của người Hán (tiếng Trung: 買賣城; bính âm: Măimàichéng) được đặt cách thành phố khoảng 4,24 km về phía đông. Một cột trụ được trang trí công phu cao 11 mét vẫn còn tại chùa Quan Âm tại khu vực Mãi mại thành cũ và hiện được nhà nước Mông Cổ bảo tồn. Từ năm 1778, Urga có thể đã là nơi cư ngụ của 10.000 sư thầy, Urga cũng từng được nhiều người ngoại quốc viếng thăm, bao gồm Egor Fedorovich Timkovskii (1820), N.M.Przhevalsky, Pyotr Kozlov, M. De Bourbolon (1860) và A.M.Pozdneev. Đoàn sứ thần Nga gồm 130 người đã đến Urga vào thành giêng năm 1806, trong số đó có Bá tước Yury Golovkin, Bá tước Jan Potocki, Julius KlaprothAndrey Yefimovich Martynov.[7] Năm 1863, tòa lãnh sự Nga tại Urga được hình thành với trụ sở là một tòa nhà mới xây gồm có hai tầng. Một Nhà thờ Thánh Ba Ngôi có mái vòm hình củ hành cũng được hình thành cùng năm.

Cách mạng 1911 và 1921 và thời kỳ Cộng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Chợ ngoài trời gần đồi Gandan năm 1972. Hậu cảnh là Cửa hàng quốc doanh

Đầu thế kỷ 20, Ikh Khüree có dân số khoảng 25.000 người, trong đó có khoảng 10.000 là sư sãi Phật giáo.[8] Năm 1911, khi triều đình nhà Thanh sụp đổ hoàn toàn, các lãnh đạo người Mông Cổ tại Ikh Khüree đã bí mật họp kín tại Naadam và quyết tâm kết thúc 200 năm mất tự chủ. Vào ngày 29 tháng 12 năm 1911, Jeptsundamba Khutughtu thứ 8 được tuyên bố là người cai trị nước Mông Cổ độc lập và dược phong tước hiệu Bogd Khan.[5] Khüree trở thành nơi đặt trụ sở của chính quyền Jebtsundamba Khutugtu và được coi là một sự lựa chọn hợp lý cho thủ đô của quốc gia mới. Tuy nhiên, theo thỏa thuận ba bên Kyakhta vào năm 1915 (giữa Nga, Mông Cổ và Trung Quốc), Mông Cổ chỉ giành được quyền tự trị. Năm 1919, các quý tộc Mông Cổ đối lập với Bogd Khan, đã đồng ý với đại diện của Trung Quốc về việc giải quyết "vấn đề Mông Cổ" theo vị thế vốn có từ thời nhà Thanh, nhưng trước khi giải pháp này được thực hiện, Khüree đã bị quân phiệt Trung Quốc Từ Thụ Tranh chiếm đóng, ông đã ép buộc giới quý tộc và tăng lữ Mông Cổ phải từ bỏ hoàn toàn các quyền tự trị.

Năm 1921 thành phố đã trải qua tới hai lần đổi chủ. Lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1921, lực lượng hỗn hợp Nga-Mông Cổ do quân phiệt Bạch vệ Baron Ungern von Sternberg lãnh đạo đã chiếm được thành phố, giải thoát Bogd Khan khỏi nhà tù và tiêu diệt hầu hết quân đồn trú Trung Quốc. Việc chiếm giữ Urga của Baron Ungernwas sau đó đã kéo theo các hành vi cướp bóc và giết người cũng như việc thảm sát một cộng đồng Do Thái nhỏ tại thành phố.[9] Vào ngày 22 tháng 2, 1921 Bogd Khan một lần nữa trở thành Hãn Mông Cổ tại Urga.[10] Tuy nhiên, vào lúc Baron Ungern đang kiểm soát Urga, một lực lượng Cộng sản Mông Cổ được Xô viết ủng hộ do Damdin Sükhbaatar lãnh đạo đã được thành lập tại Nga, và đến tháng 3 cùng năm họ đã vượt qua biên giới.[11] Ungern và những cùng chí hướng cũng đã đến vào tháng 5 để gặp họ song đã gặp phải thất bại thảm hại vào tháng 6.[12] Đến tháng 7, quân đội cộng sản Nga-Mông Cổ đã tiến vào Urga.[13] Ngày 29 tháng 10, 1924 đô thị được đổi tên thành Ulaanbaatar ("anh hùng đỏ") để tướng nhớ đến Sükhbaatar, người đã hi sinh một năm trước đó.[5]

Trong thời kỳ cộng sản, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các căn hộ kiểu Xô viết đã thay thế hầu hết các khu nhà yurt (nhà truyền thống Mông Cổ, và thường được Liên Xô viện trợ kinh phí xây dựng. Quy hoạch đô thị bắt đầu từ thập niên 1950, và hầu hết các công trình tại thành phố hiện nay được xây dựng trong thời kỳ từ 1960 đến 1985.[14] Đường sắt Xuyên Mông Cổ, kết nối Ulaanbaatar với Moskva và Bắc Kinh được hoàn thành vào năm 1956, các rạp chiếu phim, nhà hát hay bảo tàng cũng đã xuất hiện. Trên một khía cạnh khác, nhiều đền chùa và tu viện từ trước đó đã bị phá hủy trong các cuộc thanh trừng tôn giáo vào cuối thập kỷ 1930.

Dân chủ hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ulaanbaatar đã diễn ra các cuộc biểu tình với kết hóa là dân chủ hóa và kinh tế thị trường vào năm 1990. Ngày 10 tháng 12, 1989, có nhiều người biểu tình bên ngoài Trung tâm Văn hóa Thanh niên kêu gọi Mông Cổ thi hành perestroika (cải tổ) và glasnost (công khai) một cách đầy đủ. Các lãnh đạo biểu tình yêu cầu bầu cử tự do và cải cách kinh tế. Ngày 14 tháng 1, 1990 những người biểu tình đã phát triển từ hai trăm lên đến trên một nghìn người, họ tụ tập tại Bảo tàng Lênin tại Ulaanbaatar. Một cuộc biểu tình lớn tại quảng trường Sukhbaatar cũng diễn ra vào ngày 21 tháng 1 năm đó. Sau đó, các cuộc biểu tình tuần hành diễn ra vào mỗi dịp cuối tuần tháng một và tháng hai đã được tổ chức và đi kèm với đó là việc hình thành đảng đối lập đầu tiên của Mông Cổ. Vào ngày 7 tháng 3, mười người phản đối đã tụ tập tại quảng trường Sukhbaatar và tiến hành tuyệt thực. Hàng nghìn người đã tham gia ủng hộ họ. Đến ngày 8 tháng 3, đám đông biểu tình trở nên lộn xộn và kết quả là bảy mươi người bị thương cùng một người thiệt mạng. Đến ngày 9 tháng 3, chính phủ cộng sản của Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ đã tuyên bố từ chức. Chính phủ lâm thời sau đó tuyên bố tiến hành cuộc bầu cử tự do đầu tiên tại Mông Cỏ sẽ được tổ chức vào tháng 7 cùng năm. Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ đã thắng cử và phục hồi lại quyền lực.[15]

Từ khi Mông Cổ chuyển sang nền kinh tế thị trường vào năm 1990, thành phố đã có những bước phát triển rất nhanh - đặc biệt là tại các khu nhà yurt, chúng đã cơ bản bị xóa sổ và cuối thập niên 1990. Dân số thành phố ăng gấp đôi lên trên một triệu người, và chiếm gần một nửa dân số cả nước. Tuy nhiên điều này đã dẫn tới một số vấn đề về xã hội, môi trường và giao thông. Trong những năm gần đây, việc xây dựng các công trình mới đã được tiến hành, đặc biệt là tại khu vực trung tâm thành phố.

Địa lí[sửa | sửa mã nguồn]

Nuvola apps kweather.svg Biểu đồ khí hậu Ulaanbaatar
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
 
 
1.1
 
−16
−27
 
 
1.7
 
−11
−24
 
 
2.7
 
−2
−15
 
 
8.3
 
8
−6
 
 
13
 
17
3
 
 
42
 
22
8
 
 
58
 
23
11
 
 
52
 
22
9
 
 
26
 
16
2
 
 
6.4
 
7
−6
 
 
3.2
 
−4
−16
 
 
2.5
 
−14
−24
Nhiệt độ trung bình tối cao và tối thấp (°C)
Lượng mưa trung bình (mm)
Ảnh vệ tinh thành phố (vệ tinh EO-1, 23/07/2009)

Ulan Bator nằm trên độ cao 1.350 mét (4.430 ft) so với mực nước biển, hơi lệch về phía đông ở miền trung Mông Cổ và nằm bên sông Tuul, một phụ lưu của Selenge, thuộc một thung lũng nằm tại chân núi Bogd Khan Uul. Ulan Bator là một thủ đô có vị trí biệt lập.

Do nằm trên độ cao lớn, vĩ độ cao và ở rất sâu trong nội địa, và chịu ảnh hưởng của áp cao Siberi, Ulan Bator là thủ đô lạnh nhất trên thế giới,[17] với một khí hậu bán khô hạn lạnh và chịu ảnh hưởng của gió mùa (Köppen BSk) và gần với ranh giới của kiểu khí hậu cận Bắc cực. Thành phố có đặc điểm là có mùa hè ngắn, ấm và mùa đông dài, băng giá và khô. Hầu hết lượng mưa trung bình năm (216 milimét (8,50 in)) tập trung từ tháng 6 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình của thành phố là −2,4 °C (27,7 °F)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ].[16] Thành phố nằm trên một vùng đất đóng băng ttheo mùa và điều này có nghĩa là các tòa nhà tại đây gặp khó khăn để phòng tránh các tác động xấu khi lớp băng này tan đi vào mùa hè. Các cư dân ven đô sống trong các yurt truyền thống.

Toàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn từ Đài tưởng niệm Zaisan năm 2005
Nhìn từ Đài tưởng niệm Zaisan năm 2009

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Düüreg
Bản đồ các khu vực của Ulaanbaatar

Ulaanbaatar được chia thành chín quận (Düüregs): Baganuur, Bagakhangai, Bayangol, Bayanzürkh, Chingeltei, Khan Uul, Nalaikh, Songino Khairkhan, và Sükhbaatar. Mỗi quận được chia tiếp thành các Khoroo, tổng cộng có 121 khoroo.[17]

Hội đồng thành phố (Hural Đại biểu Nhân dân) với bốn mươi thành viên, được bầu với nhiệm kì bốn năm. Hồi đồng thành phố lựa chọn Thị trưởng. Khi người tiền nhiệm trở thành thủ tướng vào tháng 1 năm 2006, Gombosuren Monkhbayar đã được bầu làm thị trưởng.[18] Ulan Bator được quản lý độc lập và không phụ thuộc vào tỉnhTöv bao quanh.

Thành phố có một khu trung tâm có các kiến trúc Xô viết thập niên 1940 và 1950, bao quanh là các tòa nhà ở cao tầng bằng bê tông cùng các khu yurt lớn. Trong những nằm gần đây, tầng trệt tại nhiều khu nhà cao tầng đã được cải tạo, sửa chữa thành các cửa hàng nhỏ, và nhiều tòa nhà mới cũng đã mọc lên.

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng trường Sukhbaatar

Ulaanbaatar chưa từng bị cuộc chiến nào gây ảnh hưởng đến ngoại trừ trong trận Urga diễn ra vào tháng 2 năm 1921 khi Baron Ungern von Sternberg đè bẹp 10.000 quân đồn trú người Hán lúc đó đang chiếm giữ thành phố. Tuy vậy, trận Urga cũng chủ yếu diễn ra khu vực ngoại vi thành phố và thiệt hại phần lớn là do hỏa hoạn. Tuy nhiên, dưới chế độ hà khắc của thủ tướng Khorloogiin Choibalsan, gần như toàn bộ thành phố đã bị phá hủy vào năm 1937. Trong đó khu phức hợp đền-chùa trung tâm Zuun Khuree, nơi cư ngụ của giới quý tộc, nhiều khu vực ger (nhà truyền thống) cũng như các khu chợ chính đã bị phá hủy hoàn toàn để mở đường cho việc xây dựng các toàn nhà hiện đại hơn. Do vậy hiện Ulan Bator chỉ còn lại một vài công trình từ trước 1937.

Các công trình kiến trúc trước năm 1937 gồm có: Tu viện Dambadarjaalin tại quận Sukhbaatar (xây từ năm 1765), các nhà nguyện yurt lớn của Tu viện Dashchoilin (hình thành từ năm 1778), Chùa Gandantegchinlen mài vàng của Tu viện Gandan hay còn được gọi là Tsogchin dugan (từ năm 1838), chùa Vajradhara (1841), chùa Zuu (1869), chùa Didan Laviran (thế kỉ 19), tòa nhà Lãnh sự quán Nga được phục hồi (được xây lần đầu năm 1863), chùa Erdem Itgemjit (năm 1893) tại Cung điện Mùa Đông của Bogd Khan (Bác Khắc Đạt Hãn), phần còn lại của các công trình như Cung điện (1893–1906), Bảo tàng Lịch sử Ulaanbaatar nguyên là tư gia của một thương gia Buryat tên là Tsogt Badamjav (từ năm 1904), kiến trúc Bảo tàng Nghệ thuật Zanabazar trước đây được gọi là Ondor Khorshoo (1905), Trụ sở hai tầng xây bằng gạch của công ty khai mỏ "Mongolore" (năm 1905), chùa Megjid Janraisig (1913–1914) nguyên là nơi ở của Chin Wang Khanddorj, một quý tộc có ảnh hưởng và là một chính trị gia trong những năm đầu Mông Cổ độc lập (1913), tòa nhà có điện thoại đầu tiên là nơi mà đội hợp xướng Chính Thống giáo Nga từng ở (1914), Bảo tàng Marshal Zhukov và một số công trình khác. Tòa nhà Học viện Giáo dục vốn là trụ sở chính quyền được xây từ năm 1930. Nơi sinh sống của Thủ tướng được xây vào năm 1930.

Tu viện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số các tu viện cổ nổi tiếng có Tu viện Lạt-ma Choijin (Hưng Nhân Lạt-ma tự), một tu viện Phật giáo được hoàn tất việc xây dựng vào năm 1908. Nó đã tránh được số phận bị phá hủy giống như các tu viện Phật giáo khác khi được chính quyền cộng sản chuyển thành một bảo tàng năm vào năm 1942.[19] Tu viện nổi tiếng khác là Tu viện Gandan (Cam Đan tự), được xây dựng từ thế kỷ 19. Điểm thu hút chính của tu viện là một tượng Quán Thế Âm cao 26,5 mét.[20] Các tu viện này là một trong số rất ít các công trình tôn giáo tại Mông Cổ thoát khỏi việc bị phá hủy dưới thời Khorloogiin Choibalsan.

Cung điện Mùa đông[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong các cổng của Cung điện Mùa Đông

Ikh Khüree trước đây đã có một số cung điện và các dinh thự của giới quý tộc trong một khu vực được gọi là Öndgiin sürgiin nutag. The Jebtsundamba Khutughtu, người sau này kế nhiệm Bogd Khan (Bác Khắc Đạt Hãn), có tới bốn dinh thự hoàng gia, nằm giữa Trung tâm (Dund gol) và sông Tuul. Cung điện Mùa hè được gọi là Erdmiin dalai buyan chuulgan süm hay Bogd khaanii serüün ord. Các dinh thự khác là Bạch dinh (Tsagaan süm hay Gьngaa dejidlin), và Dinh Pandelin (cũng được gọi là süm Naro Kha Chod), nằm ở bờ tả của sông Tuul. Một số dinh thự cũng được sử dụng cho mục đích tôn giáo.[21] Cung đienẹ duy nhất còn lại đến ngày nay là Cung điện Mùa đông. Cung điện Mùa đông của Bogd Khan (Bogd khaanii nogoon süm hay Bogd khaanii öwliin ordon) hiện là một bảo tàng về vị hãn Mông Cổ cuối cùng. Khu phức hợp này bao gồm sáu ngôi chùa, nhiều đồ vật do Bogd Khan (Bác Khắc Đạt Hãn) và hoàng hậu của ông sở hữu được trưng bày tại khu nhà chính.

Bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ulaanbaatar có một số bảo tàng chuyên về lịch sử và văn hóa Mông Cổ. Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên có một số hóa thạch khủng long và thiên thạch được tìm thấy tại Mông Cổ.[22][23] Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Mông Cổ có các hiện vật từ thời tiền sử cho đến thời đế quốc Mông Cổ và thời kì hiện đại.[24][25] Bảo tàng Mĩ thuật Zanabazar có một bộ sưu tập lớn về nghệ thuật Mông Cổ, bao gồm các tác phẩm của nhà điêu khắc/họa sĩ Zanabazar từ thế kỉ 17, xũng như bức họa nổi tiếng nhất, Một ngày tại Mông Cổ của B. Sharav.[26][27]

Các hiện vật trước năm 1778 chưa từng rời khỏi thành phố từ khi chúng được phát hiện bao gồm tượng Chấp Kim Cương Thần (Vajradhara) do chính Zanabazar (La Bố Tạng Vượng Bố Trát Mộc Tát) tạo nên vào năm 1683, một vương tọa lộng lẫy do hoàng đế Khang Hi tặng cho Zanabazar (trước năm 1723), một chiếc mũ làm bằng gỗ đàn hương do Đạt-lai Lạt-ma tặng cho Zanabazar (khoảng năm 1663), Bộ áo choàng lớn bằng lông thú của Zanabazar do hoành đế Khang Hi tặng và một con số lớn các bức tượng do chính Zanabazar tạo ra.

Nhà hát nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà hát Lớn Ulaanbaatar nằm tại trung tâm thành phố, là nơi tổ chức các buổi biểu diễn hòa nhạc và âm nhạc.

Quảng trường Sukhbaatar[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng trường Sukhbaatar nằm tại khu hành chính ở trung tâm Ulaanbaatar. Quảng trường rộng 31.068 mét vuông.[28] Ơr trung tâm quảng trường Sükhbaatar, có một tượng đài Damdin Sükhbaatar trên lưng ngựa. Địa điểm này được chọn vì đây là nơi ngựa của Sukhbaatar đã đi tiểu (một điềm tốt) vào ngày 8 tháng 7 năm 1921 trong khi hội họp với Hồng quân. Ơr phía bắc quảng trường Sükhbaatar là tòa nhà Quốc hội Mông Cổ, với nét đặc biệt là có một bức tượng Thành Cát Tư Hãn ở mặt tiền. Đại lộ Hòa Bình (Enkh Taivny Urgon Chuloo), tuyến đường chính chạy dọc thành phố, đi qua phía nam quảng trường.[29]

Đài tưởng niệm Zaisan[sửa | sửa mã nguồn]

Đài tưởng niệm Zaisan, một đài tưởng niệm các binh lính Xô viết đã thiệt mạng trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, nằm trên một ngọn đồi ở phía nam thành phố. Đài tưởng niệm Zaisan có một chiếc xe tăng Xô viết và một bức họa tưởng niệm theo phong cách hiện thực xã hội chủ nghĩa miêu tả tình hữu nghị giữa nhân dân Liên Xô và Mông Cổ. Du khách sẽ có một hành trình dài để lên được đến phần cao nhất của đài tưởng niệm và ở nơi này có thể nhìn được toàn cảnh thành phố.

Sân vận động quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ kỷ niệmNaadam 2006 tại Sân vận động Thể thao Quốc gia

Sân vận động Thể thao Quốc gia là nơi thi đấu chính cho các mông thể thao tại Mông Cổ. Lễ hội Naadam được tổ chức tại đây vào mỗi tháng bảy hàng năm.

Lâu đài Hồ Nhân Tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu đài Hồ Nhân Tạo được xây dựng vào năm 1969, khi Công viên giải trí quốc gia được thành lập tại trung tâm thủ đô Ulaanbaatar.

Vùng phụ cận[sửa | sửa mã nguồn]

Công viên quốc gia Gorkhi-Terelj, một khu bảo tồn thiên nhiên được nhiều du khách viếng thăm, nằm cách Ulaanbaatar xấp xỉ 70 km. Có thể đi đến trên một tuyến đường được đầu tư xây dựng. Tượng Thành Cát Tư Hãn cưỡi ngựa có chiều cao 40 mét nằm cách Ulaanbaatar 54 km from, là bức tượng về người trên lưng ngựa lớn nhất thế giới.

Đại sứ quán[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều nước đã có cơ quan đại diện ngoại giao tại Ulaanbaatar như Úc, Áo, Bulgaria, Canada, Trung Quốc, Cuba, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Kazakhstan, Lào, Nga, Slovakia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraina, Anh Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam.[30][31][32]

Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng chính thức của Ulaanbaatar là garuḍa (Ca-lâu-la hoặc Kim sí điểu),[33] là một loài chim lớn có tính cánh mãnh liệt trong Thần Thoại của Ấn Độ, và cũng là một loài chim thần thoại trong kinh Phật giáoẤn Độ giáo, được người Mông Cổ gọi là Hãn Garuda hay Khangar'd (tiếng Mông Cổ: Хангарьд).

Biểu trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Ca-câu-la xuất hiện trên huy hiệu của Ulaanbaatar. Tren bàn tay phải của loài chim thánh này có một chiếc khóa, một biểu tượng của phồn thịnh và cởi mở, và trên tay trái của chim là một bông hoa sen, một biểu tượng của hòa bình, bình đẳng và tinh khiết. Móng vuốt của chim giữ một con rắn, một biểu tượng của việc sự xấu xa sẽ không được dung thú. Trên trán của Ca-câu-la là soyombo (Tác/Sách-vĩnh-bố), một biểu tượng trên quốc kỳ Mông Cổ.

Cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ của thành phố có nền màu xanh da trời với biểu tượng garuḍa ở trung tâm.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Ulan Bator có sáu trường đại học chính:

Mặc dù tương đối nhỏ song Học viện Tài chính và Kinh tế là một trường kinh tế khá nổi tiếng tại Mông Cổ. Thư viện Quốc gia Mông Cổ có rấ nhiều tài liệu bằng tiếng Anh về các chủ đề liên quan đến Mông Cổ.[34] Trường Hoa Kỳ Ulaanbaatar và Trường Quốc tế Ulaanbaatar đều áp dụng mô hình giáo dục K-12 bằng tiếng Anh cho công dân Mông Cổ cũng như người nước ngoài.[35][36]

Thư viện[sửa | sửa mã nguồn]

Thư viện Quốc gia Mông Cổ nằm tại Ulan Bator và có rất nhiều tài liệu bằng các ngoại ngữ khác bên cạnh tiếng Mông Cổ, đặc biệt là sách cho thiếu nhi.[37] Thư viện Trung ương Thủ đô Ulaanbataar, đôi khi còn được gọi là Thư viện Công cộng Ulaanbaatar là một thư viện công cộng và sở hữu tời 500.000 tài liệu. Thư viện có khoảng 232.097 độc giả và tổng số lượt mượn hàng năm là 497.298 lần. Năm 1986, chính quyền Ulaanbaatar đã thành lập một hệ thống tập trung bao phủ tất cả các thư viện trong thành phố, được gọi là Hệ thống thư viện thủ đô Ulaanbaatar (MLSU). Hệ thống này còn có tên chính thức là, Dashdorjiin Natsagdorj, người đã sáng lập nền văn học hiện đại Mông Cổ.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Ulaanbaatar có sân bay quốc tế Thành Cát Tư Hãn (Chinggis Khaan) (nguyên là sân bay Buyant Ukhaa) nằm cách thành phố 18 km về phía tây nam.[38] Sân bay Thành Cát Tư Hãn là sân bay duy nhất tại Mông Cổ có các đường bay quốc tế. Hiện Ulan Bator có các tuyến bay quốc tế nối với Tokyo, Seoul, Berlin, Moskva, Irkutsk, và Bắc Kinh.[39] Đường sắt Xuyên Mông Cổ đi qua Ulaanbaatar và có thể nối với Đường sắt xuyên Siberi tại Naushki và nối với hệ thống đường sắt Trung Quốc qua ngả tại Tập Ninh. Ulan Bator có kết nối bằng đường bộ với hầu hết các đô thị chính tại Mông Cổ, nhưng hầu hết các tuyến đường bộ này không được lát đá và theo dõi nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn. Bên trong thành phố, không phải tất cả mọi tuyến đường đều được lát đá hay trải nhựa do có những khu vực có điều kiện tự nhiên bất lợi.[40]

Bên trong thành phố, chính quyền trung ương và thành phố quản lí một hệ thống xe buýt tư rộng lớn trải dài khắp thành phố. Cũng có một xe điện tại Ulaanbaatar. Một hệ thống chuyên chở tư nhân khác là các xe khách nhỏ hoạt động đồng thời với các tuyến xe buýt. Ngoài ra, Ulaanbaatar còn có trên 4000 taxi.[41] Thủ đô Mông Cổ có khoảng 418,2 km đường bộ, trong đó 76,5 km đã được lát đá hay trải nhựa.[42]

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng thể hiện các thành phố kết nghĩa với Ulaanbaatar.

Theo trang thông tin chính thức:[43]:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ulan Bator Statistic Bulletin May.2008 http://statis.ub.gov.mn/index.php?option=com_docman&task=doc_download&gid=170&Itemid=99999999
  2. ^ a ă Ulan Bator Official Web Portal
  3. ^ Staunton, Sir George Thomas Narrative of the Chinese embassy to the Tourgouth Tartars 1821, London, p. 30
  4. ^ This Shireet tsagaan nuur is located năm Övörkhangai's Bürd sum. P. Enkhbat, O. Pürev, Улаанбаатар, Ulaanbaatar 2001, p. 9f
  5. ^ a ă â Brief history of Ulaanbaatar
  6. ^ Kohn, Michael Lonely Planet Mongolia 4th edition, 2005 ISBN 1740593596, p. 52
  7. ^ Timkowski, George Travels of the Russian mision through Mongolia to China and residence năm Peking năm the years 1820-1821 Vol.1, 1827 London, p. 128
  8. ^ Palmer, James The Bloody White Baron 2008, Faber and Faber Limited Press, ISBN 9780571230235, p. 45
  9. ^ Palmer, pp. 131-159
  10. ^ Palmer, 161-163
  11. ^ Palmer 178-9
  12. ^ Palmer 205-7
  13. ^ Palmer 208-9
  14. ^ Montsame News Agency. Mongolia. 2006, ISBN 9992906278, p. 33-34
  15. ^ Rossabi, Morris Modern Mongolia: From Khans to Commissars to Capitalists 2005, University of California Press, ISBN 0520244192. pp. 1-28
  16. ^ a ă “Climatological Normals of Ulaanbaatar”. Đài khí tượng Hồng Kông. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2010. 
  17. ^ a ă Montsame News Agency. Mongolia. 2006, ISBN 9992906278, p. 35
  18. ^ Writethru: Ulan Bator Mayor Enkhbold elected Mongolia's new PM, Xinhua news agency, Beijing, 25 January 2006. Accessed: 25 October 2010
  19. ^ Choijin Lama Monastery
  20. ^ Kohn, pp. 63-4
  21. ^ Majer, Zsuzsa; Teleki, Krisztina. “Monasteries and Temples of Bogdiin Khьree, Ikh Khьree or Urga, the Old Capital City of Mongolia năm the First Part of the Twentieth Century”. Budapest: Documentation of Mongolian Monasteries. tr. 36. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2009. 
  22. ^ Natural History Museum
  23. ^ Kohn, p. 60
  24. ^ Kohn, pp. 61, 66
  25. ^ National Museum
  26. ^ Kohn, p. 61
  27. ^ Zanazabar Museum of Fine Arts
  28. ^ Montsame News Agency. Mongolia. 2006, ISBN 9992906278, p. 34
  29. ^ Kohn, p. 52
  30. ^ Kohn, Michael. Lonely Planet Mongolia. 2008, fifth edition, ISBN 9781741045789, p. 255
  31. ^ GoAbroad.com
  32. ^ Welcome2Mongolia.com
  33. ^ “Thủ Ấn Ca Lâu La”. Phật giáo Việt Nam net. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2011. [
  34. ^ Kohn, pp. 54-5
  35. ^ American School of Ulaanbaatar
  36. ^ International School of Ulaanbaatar
  37. ^ "Metropolitan Central Library of Ulaanbaatar" Libraries of Asia Pacific Directory (2005). Accessed 7 May 2008.
  38. ^ Kohn, p. 88
  39. ^ MIAT Route Map
  40. ^ Transport năm Mongolia
  41. ^ Montsame News Agency. Mongolia. 2006, Foreign Service Office of Montsame News Agency, ISBN 9992906278, p. 90
  42. ^ Montsame News Agency. Mongolia. 2006, ISBN 9992906278, p. 36
  43. ^ Ulaanbaatar.mn: Улаанбаатар хотын ах, дүү хотууд
  44. ^ Seoul Metropolitan Government. “Sister Cities”. 
  45. ^ Irkustsk sister cities
  46. ^ Chairman of the Committee for External Relations of St. Petersburg
  47. ^ Ulan Ude looking for sister cities
  48. ^ Denver Sister Cities
  49. ^ http://businessgc.com.au/index.php?page=sister-cities
  50. ^ “Delhi to London, it's a sister act”. The Times Of India. 7 tháng 7 năm 2002. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]