Nikolai II của Nga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nikolai II
Николай II
Nicholas II of Russia painted by Earnest Lipgart.jpg
Chân dung của Nikolai II
Hoàng đế, Sa hoàng nước Nga
Trị vì 1 tháng 11 năm 189415 tháng 3 năm 1917
Đăng quang 26 tháng 5 [ 14 tháng 5] năm 1896
Tiền nhiệm Aleksandr III Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Lật đổ chế độ Nga hoàng
Trên thực tế:
Georgy Yevgenyevich Lvov (Thủ tướng Chính phủ Lâm thời)
Thông tin chung
Hoàng hậu
Tình nhân
Hậu duệ
Tước vị
Hoàng tộc Nhà Holstein-Gottorp-Romanov
Thân phụ Aleksandr III của Nga
Thân mẫu Dagmar của Đan Mạch
Sinh 21 tháng 5, 1868(1868-05-21)
Hoàng Thôn, Sankt-Peterburg, Đế quốc Nga
Mất 17 tháng 7, 1918 (50 tuổi)
Yekaterinburg, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên Bang Nga
An táng Sankt-Peterburg, Liên bang Nga
Tôn giáo Chính Thống giáo Đông phương
Chữ ký của Nikolai II

Nikolai II, cũng viết là Nicolas II (tiếng Nga: Николай II, Николай Александрович Романов, chuyển tự. Nikolay II, Nikolay Alexandrovich Romanov [nʲɪkɐˈlaj ftɐˈroj, nʲɪkɐˈlaj əlʲɪkˈsandrəvʲɪʨ rɐˈmanəf], phiên âm tiếng ViệtNicôlai II Rômanốp[1] hay Ni-cô-la II) (19 tháng 5 năm 186817 tháng 7 năm 1918) là vị Hoàng đế, hay Sa hoàng cuối cùng trong lịch sử Nga, cũng là Đại Công tước Phần LanVua Ba Lan trên danh nghĩa.[2] Tên đầy đủ của Nikolai II là Nikolai Aleksandrovich Romanov (tiếng Nga: Николай Александрович Романов). Tước hiệu chính thức của ông là Nikolai Đệ nhị, Hoàng đế và Đấng cai trị chuyên chính của toàn nước Nga[3]. Hiện nay, do sự phong thánh ông được Giáo hội Chính Thống giáo Nga xem là Thánh Nikolai Người chịu nổi thống khổ.

Hoàng đế Nikolai II trị quốc từ năm 1894 đến khi thoái vị vào ngày 15 tháng 3 năm 1917. Dưới triều ông, Nga - một trong những đế quốc hùng mạnh nhất thế giới thòi đó - đã lâm vào khủng hoảng kinh tế và quân sự. Những phê phán ông đã gọi ông là Nikolai Kẻ khát máu, vì vụ thảm kịch Khodynka, Ngày chủ nhật đẫm máu, và những vụ trấn áp người Xê-mít xảy ra dưới triều ông. Ông đã đẩy nước Nga vào cuộc chiến tranh với đế quốc Nhật Bản, mà Nga là đế quốc bại trận. Cũng chính ông là người đã ra lệnh tổng động viên quân đội Nga vào tháng 8 năm 1914, đưa Nga vào cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong cuộc đại chiến, quân Nga tham chiến phe Đồng Minh, cùng quân Anh, Pháp chống lại quân Đức, Áo-Hung.

Năm 1917, phong trào Cách mạng Tháng Hai thắng lợi, Nikolai II phải thoái vị. Đầu tiên, ông và gia đình bị giam lỏng tại Cung điện Aleksandr ở Hoàng Thôn, rồi được chuyển tới Dinh Tổng đốc tại Tobolsk, sau đó lại chuyển tới ngôi nhà Ipatiev tại Yekaterinburg. Đêm ngày 16 rạng sáng ngày 17 tháng 7 năm 1918, Nikolai II, Hoàng hậu, các công chúa và hoàng tử, quan Thái y, đầy tớ của Nga hoàng, nữ tỳ của Hoàng hậu cùng với đầu bếp của Hoàng gia cùng bị những người Bolshevik xử bắn trong một căn phòng. Năm 2000, Nikolai II cùng toàn bộ gia quyến được Giáo hội Chính Thống giáo Nga phong thánh.[4] Năm 2008, theo tuyên bố của Tòa án Tối cao Nga, Nga hoàng Nikolai II và gia đình là những "nạn nhân của các cuộc đàn áp chính trị và đã bị giết một cách bất hợp pháp".[5]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nikolai Aleksandrovich Romanov là con của Nga hoàng Aleksandr III và hoàng hậu Maria Feodorovna của Nga, tức công chúa Dagmar của Đan Mạch. Ông bà nội của ông là Nga hoàng Aleksandr II và hoàng hậu Maria Alexandrovna của Nga, tức là Công chúa Marie xứ Hesse. Ông bà ngoại của ông là vua Christian IX của Đan MạchCông chúa Louise xứ Hesse-Kassel. Năm 1881, ông được phong làm Tsaverich, tức Hoàng thái tử.

Những bức thư của Nikolai II sau khi vua Aleksandr III mất năm 1894 cho thấy ông vẫn lưu luyến vua cha. Thưở bé, ông thường ghen tỵ với sức khỏe của Aleksandr III, chẳng hạn như khi vua cha nâng được một tảng đá nặng 60 pao bằng một tay. Ông và người mẹ Maria Feodorovna rất yêu thương nhau, thường viết thư gửi cho nhau.[6] Nikolai II có ba người em trai (Alexander [1869-1870], Georgi [1871-1899], và Mikhail [1878-1918]) hai người em gái.

Do người em con chú của Aleksandr III, Đại Công tước Nikolai Nikolayevich, cũng có tên là Nikolai, vị Đại Công tước này được Hoàng gia gọi là "Nicholasha" để tránh nhầm lẫn với Nga hoàng tương lai. Thông qua mẹ ông, Nikolai II là cháu của một số vua chúa, trong số đó có George I của Hy Lạp, Frederick VIII của Đan Mạch, Hoàng hậu Alexandra của AnhVương phi Thyra xứ Hanover.

Nga hoàng Nikolai II, cùng với Hoàng đế Đức Wilhelm II, vua Anh George V đều là cháu của nữ hoàng Anh Victoria.[7] Nikolai II, Hoàng hậu Nga Alexandra, và Hoàng đế Đức Wilhelm II đều là anh em họ của vua Anh George V. Mẹ của Nikolai, Hoàng hậu Marie (Công chúa Dagmar của Đan Mạch), là chị của vợ vua Edward VII là Hoàng hậu Alexandra - mẹ của George V. Vợ Nikolai II là con gái của Công chúa Alice - con gái của nữ hoàng Anh Nữ hoàng Victoria, vì vậy bà cháu gọi vua Edward VII bằng bác (bên họ mẹ) và là em họ của Hoàng đế Wilhelm II; và cùng là hậu duệ trực tiếp của Nữ hoàng Victoria. Wilhelm II là con của Hoàng đế Đức Friedrich III và công chúa Vicky - con gái cả của nữ hoàng Victoria. Wilhelm II - anh họ của Hoàng hậu Nga Alexandra - và Nikolai II đều là con cháu của vua nước Phổ Friedrich Wilhelm III.

Hoàng thái tử nước Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Chúa phù hộ cho Nga hoàng. Tranh sơn dầu trên vải bạt của Ivan Makarov, cho thấy cảnh vua Aleksandr III, Hoàng hậu và các con yết kiến Chúa Giê-su.

Năm 13 tháng 3 năm 1881, ông trở thành Hoàng thái tử (Tsarevich) còn cha ông thì trở thành Nga hoàng Aleksandr III, sau khi ông nội Nikolai là Nga hoàng Aleksandr II bị tổ chức "Dân ý" ám sát. Ông và nhiều hoàng thân khác đã chứng kiến được sự kiện này khi đang ở Cung điện Mùa Đông tại kinh thành Sankt-Peterburg.[8] Vì lý do an toàn, Nga hoàng Aleksandr III và Hoàng gia thường sống ở Cung điện Gatchina phía ngoài Sankt-Peterburg, chứ không phải là Cung điện Mùa Đông.

Một cuộc hành trình với những mục đích mang tính giáo dục là một phần quan trọng của việc dạy cho các hoàng thân Nga làm quen với hoạt động nhà nước. Năm 1890, Nga hoàng Aleksandr III tuyên bố thiết lập tuyến đường sắt xuyên Xibia. Thái tử Nikolai đã tham gia lễ khai mạc tuyến đường sắt trên Xibia, và từ nơi này, nhà vua hạ lệnh cho ông thực hiện chuyến hành trình khắp thế giới - mà người ta gọi là "Cuộc hành trình về phía Đông của Nikolai II". Năm đó ông đã 22 tuổi, mới hoàn thành khóa học tại Học viện sĩ quan cận vệ đã, và cũng đã hoàn tất chương trình đào tạo nhân văn của Đại học tổng hợp quốc gia. Bấy giờ, nước Nga đã làm chủ của một đội Hải quân hùng hậu. Vì thế, với chuyến du hành này Nikolai học được về công việc ngoại giao cũng như với sóng nước trên biển. Ông cùng đoàn tàu đã hành trình dọc bờ Đại Tây Dương qua Địa Trung Hải và Ấn Độ, tới nhiều hải cảng có tên tuổi ở Hy Lạp, Ấn Độ, Xiêm La,… Công tước Esper Ukhtomsky - người được Thái tử rất tin cậy - là người tư vấn cho Thái tử thực hiện chuyến Đông du trong những năm 1890 - 1891.[9] Đến ngày 28 tháng 3 năm 1891 Thái tử nước Nga đến cửa sông Đồng Nai, sau đó cập bến cảng Sài Gòn. Ngay trên bến cảng, Toàn quyền Đông Dương khi đó là Jules Georges Piquet cùng quan quân triều Nguyễn và Pháp đã tổ chức đón tiếp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử một chính khách người Nga đến thăm Việt Nam - bấy giờ còn nằm dưới ách đô hộ của đế quốc Pháp.[10] Đến Nhật Bản, ông bị một người Nhật mưu sát hụt tại Otsu.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ đăng quang của Hoàng đế Nikolai II và Hoàng hậu Alexandra

Tháng 5 năm 1896, sau khi vua cha Aleksandr III qua đời, Thái tử Nikolai lên nối ngôi. Giống như các vua đời trước, ông được xem là “đệ nhất tín đồ của Chính Thống giáo nước Nga”. Ông đã làm lễ đăng quang tại Đại giáo đường Upensky, trong điện Kremli. Khi đó, cho dù triều đình Nga đóng đô tại Sankt-Peterburg và Hoàng gia Nga ngụ tại Cung điện Mùa Đông, các Nga hoàng vẫn tổ chức lễ đăng quang tại Đại giáo đường Upensky (Cái chết của Đức Mẹ Đồng Trinh) ở Moskva, dưới sự chỉ đạo của Thượng phụ. Điều này thể hiện sự sùng Chính Thống giáo Đông phương đã lưu truyền qua các thế hệ Hoàng gia Nga.[11]

Thời bấy giờ có nhà văn nổi tiếng Lev Nikolayevich Tolstoy (1828 - 1910) là người đã truyền bá tư tưởng cách mạng cho nhân dân Nga, đặc biệt là tầng lớp học sinh, thông qua thơ văn. Nhờ có nhà văn này mà trong đầu người Nga đã có tư tưởng cách mạng. Thấy vậy, Giáo hội Nga tố cáo Lev Nikolayevich Tolstoy tội tuyên truyền sai lệch và khai trừ nhà văn. Vài ba vạn học sinh thành phố Sankt-Peterburg tỏ ra bất bình, gây náo loạn vào năm 1901. Họ kiện lên Nga hoàng Nikolai II, cho rằng nhà văn L. N. Tolstoy bị oan. Nikolai II không đồng ý với họ, và truyền lệnh bắt họ phải im lặng. Ngày 17 tháng 3 năm 1901, học sinh Sankt-Peterburg bèn nổi dậy, cờ xí của họ toàn mang màu đỏ, ám chỉ rằng cách mạng không thể không đổ máu. Họ còn công bố một bản Tuyên ngôn rất dài, tố cáo Nikolai II và quyết định phải vùng dậy, lật đổ Hoàng gia và giành lấy quyền tự do. Cùng ngày, xảy ra xô xát giữa quân triều đình và các học sinh. Quân triều đình áp đảo các học sinh về trang bị và quan số. Vì vậy, quân triều đình đã dập tắt được cuộc loạn của học sinh. Hai bên đều thiệt hại nặng nề, tổ chức "Chữ thập đỏ" phái người đến giúp binh lính triều đình, chẳng khác nào kết quả của một cuộc chiến giữa hai đại đế quốc.[12]

Tuy thất bại, các lực lượng học sinh đã tập hợp lại, toan đấu tranh với triều đình thêm một lần nữa. Học sinh trú ẩn ở nhiều nơi, việc bắt và hành hình tất cả các học sinh là điều khó đối với triều đình Nikolai II, vì vậy Nga hoàng khó có thể mà dùng vũ lực để ổn định tình hình. Sau đó, học sinh còn gửi thư đe dọa đến các Bộ trưởng của vua Nikolai II. Nga hoàng đành phải chủ trì một cuộc họp trong cung, cho phép Tolstoy được phục hồi vai vế trong Giáo hội, và cũng hạ lệnh cho học sinh được miễn làm lính đồng thời thực hiện cải cách về chế độ trường đại học. Sự kiện này đã khiến cho lực lượng học sinh chấm dứt hoạt động. Thủ đô Sankt-Peterburg kết thúc cuộc náo loạn sau một tuần lễ.[12]

Triều đại ông chứng kiến một thời kì sóng gió trong lịch sử Nga.[11] Trong cuộc Chiến tranh Nga-Nhật (1904 - 1905), đế quốc Nga bại trận và mất nhiều đất. Ông còn tuyên chiến với Đức năm 1914, đẩy nhân dân Nga vào cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và khiến cho nước Nga rơi vào tình trạng bi thảm. Triều đình Nga tỏ ra bất lực, không có có khả năng trị vì như trước nữa. Các phong trào Cách mạng liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là Cách mạng Nga 1905.

Ngày 6 tháng 8 năm 1905, Nikolai II “Tuyên ngôn và đạo luật về việc thành lập Đuma Quốc gia”. Tầng lớp quý tộc, tư sản, trí thức và một số người đại diện nông dân giàu có chiếm đa số trong Đuma Quốc gia. Sau 12 năm hoạt động, Đuma Quốc gia Nga giải thể khi Cách mạng Tháng Hai 1917 bùng nổ.[13]

Năm 1917, ông bị hạ bệ trong cuộc Cách mạng Tháng Hai. Cuộc cách mạng tư sản này đã đánh đổ chế độ phong kiến lâu đời của nước Nga.[14] Theo quyết định của Xô Viết Ural,[15] ông bị xử bắn tại Yekaterinburg. Nikolai cùng vợ, con trai, bốn con gái, ngự y của Hoàng gia, đầy tớ của Nga hoàng, nữ tỳ của hoàng hậu và đầu bếp của Hoàng gia bị những người Bolshevik hành quyết trong một căn phòng vào đêm ngày 16 rạng sáng ngày 17 tháng 7 năm 1918.

Quan hệ với Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Nga hoàng Nikolai II là một tín đồ ngoan đạo của Chính Thống giáo Đông phương, thậm chí được Giáo hội Chính Thống giáo Nga tôn thánh sau khi bị sát hại. Tuy nhiên, theo Minh Thạnh, ông là “một nhân vật mà chúng ta không thể không nhắc đến khi tìm hiểu về Phật giáo Nga”, “xứng đáng ghi nhận như là một vị vua có phần đóng góp cho sự phát triển của mình cho sự phát triển của Phật giáo”. Thật vậy, dưới triều đại ông, đạo Phật trên toàn nước Nga, đạt được bước phát triển quan trọng.[11]

Là một Nga hoàng cầm quyền chuyên chính của đế quốc Nga, ông kế thừa quan điểm về một nước Nga có lãnh thổ ở cả châu Á lẫn châu Âu, một đất nước đa sắc tộc, đa tôn giáo. Với quan điểm này, dĩ nhiên là ông tôn trọng đạo Phật - được xem là “tôn giáo tượng trưng cho nền văn phương Đông”.[11]

Dưới triều vua Aleksandr III, Vương công Esper Ukhtomsky là người được Nikolai rất tin tưởng. Esper Ukhtomsky - vốn am hiểu và ủng hộ sự phát triển của đạo Phật - đã đến xứ Buryat, một vùng đất theo Phật giáo nằm trong đế quốc Nga.

Năm 1905, ông đã phong chức Đại sứ Nga ở Bắc Kinh cho Pokotilov - một nhà phương Đông học, cũng là bạn và người có cùng quan điểm với Vương công Ukhtomsky.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, kênh truyền hình Rossia cùng với Viện Lịch sử Nga thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga và Quỹ ý kiến xã hội đã tổ chức của cuộc thăm dò dư luận xã hội mang tên "Tên của nước Nga - Sự lựa chọn lịch sử năm 2008". Tính đến ngày 14 tháng 7 năm đó, trên website cuộc cuộc tham dò này, nhân vật lịch sử đứng đầu trong số những người được nhân dân Nga xem là tiêu biểu cho nước Nga là Iosif Vissarionovich Stalin - một nhà lãnh đạo Liên bang Xô viết. Những nhân vật lịch sử được nhiều người bình chọn nhất sau Stalin là Nga hoàng Nikolai II và nhà lãnh đạo Vladimir Ilyich Lenin.[16]

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là những người con của Nga hoàng Nikolai II và Hoàng hậu Alexandra:

Chân dung Tên Sinh Mất Chú thích
Olgachair.jpg Nữ Đại Công tước Olga Nikolaevna của Nga 15 tháng 11 [ 3 tháng 11] năm 1895 17 tháng 7 năm 1918 bị những người Bolshevik bắn ở Yekaterinburg
Tatiana Nikolaevna.jpg Nữ Đại Công tước Tatiana Nikolaevna của Nga 10 tháng 6 [ 29 tháng 5] năm 1897 17 tháng 7 năm 1918 bị những người Bolshevik bắn ở Yekaterinburg
GrandDuchessMaria1914formal2.jpg Nữ Đại Công tước Maria Nikolaevna của Nga 26 tháng 6 [ 14 tháng 6] năm 1899 17 tháng 7 năm 1918 bị những người Bolshevik bắn ở Yekaterinburg
Anastasia1916.jpg Nữ Đại Công tước Anastasia Nikolaevna của Nga 18 tháng 6 [ 5 tháng 6] năm 1901 17 tháng 7 năm 1918 bị những người Bolshevik bắn ở Yekaterinburg
Thái tử Aleksei Nikolayevich 12 tháng 8 [ 30 tháng 7] năm 1904 17 tháng 7 1918 bị những người Bolshevik bắn ở Yekaterinburg

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 (Nguyễn Anh Thái (chủ biên) - Lịch sử Thế giới hiện đại, NxbGD - 2009)
  2. ^ Năm 1831, Nga hoàng Nikolai I đã bị phế truất khỏi vương vị Ba Lan, nhưng triều đình Nga đã sớm đoạt lại quyền kiểm soát đất nước này làm thành một phần của Nga và truất phế vua riêng của Ba Lan. Sau đó, các Nga hoàng tiếp tục sử dụng vương hiệu này. Xem Khởi nghĩa tháng 11.
  3. ^ Danh hiệu đầy đủ của Nikolai II là Божьей поспешествующей милостью, Мы, Николай Второй, Император и Самодержец Всероссийский, Московский, Киевский, Владимирский, Новгородский; Царь Казанский, Царь Астраханский, Царь Польский, Царь Сибирский, Царь Херсонеса Таврического, Царь Грузинский; Государь Псковский и Великий Князь Смоленский, Литовский, Волынский, Подольский и Финляндский; Князь Эстляндский, Лифляндский, Курляндский и Семигальский, Самогитский, Белостокский, Корельский, Тверский, Югорский, Пермский, Вятский, Болгарский и иных; Государь и Великий Князь Новагорода низовския земли, Черниговский, Рязанский, Полотский, Ростовский, Ярославский, Белозерский, Удорский, Обдорский, Кондийский, Витебский, Мстиславский и всея северныя страны Повелитель; и Государь Иверския, Карталинския и Кабардинския земли и области Арменския; Черкасских и Горских Князей и иных Наследный Государь и Обладатель, Государь Туркестанский; Наследник Норвежский, Герцог Шлезвиг-Голштейнский, Стормарнский, Дитмарсенский и Ольденбургский и прочая, и прочая, и прочая».
  4. ^ Tìm thấy hài cốt con trai Sa hoàng?
  5. ^ “Nga: Sa hoàng Nicholas Đệ nhị là nạn nhân của các cuộc đàn áp chính trị”. 14 thàng1, 2010. Truy cập 25 thàng 12, 2012. 
  6. ^ Book - The letters of Tsar Nicholas and Empress Marie: being confidential correspondence between Nicholas II, last of the Tsars, and his mother, Dowager Empress Maria Feodorovna / edited by Edward J. Bing - London: Nicholson and Watson, 1937.
  7. ^ Những sự thật kỳ lạ có thể bạn không biết (2)
  8. ^ Massie, R, Nicholas and Alexandra, p.38
  9. ^ “Sa hoàng Nicholas II và Phật giáo Nga”. 
  10. ^ Bản mẫu:Chú thích bào
  11. ^ a ă â b Thư Viện Hoa Sen
  12. ^ a ă Bản mẫu:Chú thích bào
  13. ^ Mục từ Viện Đuma Quốc gia Nga trong Bách khoa toàn thư Việt Nam
  14. ^ “Sở Khoa học Đồng Tháp - 91 năm Cách mạng Tháng Mười Nga”. 
  15. ^ Mục từ Nikôlai II trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam
  16. ^ Những biểu tượng quốc gia

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • The Sokolov Report, in Victor Alexandrov, "The End of The Romanovs", London: 1966
  • Boris Antonov, Russian Czars, St.Petersburg, Ivan Fiodorov Art Publishers (ISBN 5-93893-109-6)
  • Michael M. Baden, Chapter III: Time of Death and Changes after Death. Part 4: Exhumation, In: Spitz, W.U. & Spitz, D.J. (eds): Spitz and Fisher’s Medicolegal Investigation of Death. Guideline for the Application of Pathology to Crime Investigations (Fourth edition). Charles C. Thomas, pp.: 174-183, Springfield, Illinois: 2006
  • Paul Grabbe, "The Private World of the Last Czar" New York: 1985
  • Ferro, Marc, Nicholas II: Last of the Czars. New York: Oxford University Press (USA), 1993 (hardcover, ISBN 0-19-508192-7); 1995 (paperback, ISBN 0-19-509382-8)
  • Genrikh Ioffe, Revoliutsiia i sud'ba Romanovykh Moscow: Respublika, 1992 (tiếng Nga)
  • Coryne Hall & John Van der Kiste, Once A Grand Duchess: Xenia, Sister of Nicholas II, Phoenix Mill, Sutton Publishing Ltd., 2002 (hardcover, ISBN 0-7509-2749-6)
  • Greg King, The Court of the Last Czar: Pomp, Power and Pageantry in the Reign of Nicholas II 2006
  • Greg King and Penny Wilson, "The Fate of the Romanovs" 2003
  • Dominic Lieven, Nicholas II: Emperor of All the Russias. 1993.
  • Andrei Maylunas and Sergei Mironenko, A Lifelong Passion: Nicholas & Alexandra 1999
  • Marvin Lyons, Nicholas II The Last Czar, London, Routledge & Kegan Paul, 1974 (hardcover, ISBN 0-7100-7802-1)
  • Shay McNeal, "The Secret Plot to Save the Czar" 2001
  • Robert K. Massie, Nicholas and Alexandra 1967
  • Robert K. Massie, The Romanovs. The Final Chapter 1995, ISBN 0-394-58048-6
  • Bernard Pares, "The Fall of the Russian Monarchy" London: 1939, reprint London: 1988
  • John Perry [cần làm rõ nghĩa ] and Konstantin Pleshakov, The Flight of the Romanovs. 1999.
  • Edvard Radzinsky, The Last Tsar: The Life and Death of Nicholas II (1992) ISBN 0-385-42371-3
  • Mark D. Steinberg and Vladimir M. Khrustalev, The Fall of the Romanovs: Political Dreams and Personal Struggles in a Time of Revolution, New Haven: Yale University Press, 1995.
  • Anthony Summers and Tom Mangold, The File on the Czar. 1976.
  • Richard Tames, Last of the Czars, London, Pan Books Ltd, 1972
  • Andrew M. Verner, The Crisis of the Russian Autocracy: Nicholas II and the 1905 Revolution 1990
  • Ian Vorres, The Last Grand Duchess, London, Finedawn Publishers, 1985 (hardcover)
  • Richard Wortman, Scenarios of Power: Myth and Ceremony in Russian Monarchy, vol. 2 2000
  • Prince Felix Yussupov, Lost Splendour
  • Elisabeth Heresch, "Nikolaus II. Feigheit, Lüge und Verrat". F.A.Herbig Verlagsbuchhandlung, München, 1992
  • The Complete Wartime Correspondence of Czar Nicholas II and the Empress Alexandra, April 1914 – March 1917. Edited by Joseph T. Furhmann Fuhrmann. Westport, Conn. and London: 1999
  • Letters of Czar Nicholas and Empress Marie Ed. Edward J. Bing. London: 1937
  • Letters of the Czar to the Czaritsa, 1914–1917 Trans. from Russian translations from the original English. E. L. Hynes. London and New York: 1929.
  • Nicky-Sunny Letters: correspondence of the Czar and Czaritsa, 1914–1917. Hattiesburg, Miss: 1970.
  • The Secret Letters of the Last Czar: Being the Confidential Correspondence between Nicholas II and his Mother, Dowager Empress Maria Feodorovna. Ed. Edward J. Bing. New York and Toronto: 1938
  • Willy-Nicky Correspondence: Being the Secret and Intimate Telegrams Exchanged Between the Kaiser and the Czar. Ed. Herman Bernstein. New York: 1917.
  • Paul Benckendorff, Last Days at Czarskoe Selo. London: 1927
  • Sophie Buxhoeveden, The Life and Tragedy of Alexandra Fedorovna, Empress of Russia: A Biography London: 1928
  • Pierre Gilliard, Thirteen Years at the Russian Court New York: 1921
  • A. A. Mossolov (Mosolov), At the Court of the Last Czar London: 1935
  • Anna Vyrubova, Memories of the Russian Court London: 1923
  • A.Yarmolinsky, editor, "The Memoirs of Count Witte" New York & Toronto: 1921
  • Sir George Buchanan (British Ambassador) My Mission to Russia & Other Diplomatic Memories (2 vols, Cassell, 1923)
  • Meriel Buchanan, Dissolution of an Empire, Cassell, 1932
  • Gleb Botkin, The Real Romanovs, Fleming H. Revell Co, 1931
  • Mark D. Steinberg and Vladimir M. Khrustalev, The Fall of the Romanovs: Political Dreams and Personal Struggles in a Time of Revolution. New Haven: Yale University Press, 1995
  • “The Personality Of The Czar: An Explanation, By A Russian Official Of High Authority”. The World's Work: A History of Our Time VIII: 5414–5430. October năm 1904. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nikolai II của Nga
Nhánh thứ của Nhà Oldenburg
Sinh: 18 tháng 5 1868 Mất: 17 tháng 7 1918
Hiệu
Tiền vị:
Aleksandr III
Hoàng đế/Sa hoàng nước Nga
1 tháng 11 năm 1894 – 15 tháng 3 năm 1917
Chế độ Nga hoàng bị phế bỏ
Vua Ba Lan
1 tháng 11 năm 1894 – 15 tháng 3 năm 1917
Đại công tước xứ Phần Lan
1 tháng 11 năm 1894 – 15 tháng 3 năm 1917
Trống ngôi
Danh hiệu được kế thừa bởi
Vương công Frederick Charles xứ Hesse
như là King-elect
Russian royalty
Tiền nhiệm:
Aleksandr III của Nga
Thái tử nước Nga
1881–1894
Kế nhiệm:
George của Nga