Wilhelm II, Hoàng đế Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Wilhelm II của Đức)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Flag of the German Empire.svg Wilhelm II
Hoàng đế nước Đức
Quốc vương nước Phổ
Wilhelm II AEHering.jpg
Hoàng đế Wilhelm II qua nét vẽ của Adolf Emil Hering, 1910. Hiện được trưng bày tại viện Bảo tàng Bang Hạ Sachsen, nước Đức.
Hoàng đế/Quốc vương triều Hohenzollern
Trị vì 15 tháng 6 năm 18889 tháng 11 năm 1918
Tiền nhiệm Friedrich III Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Chế độ quân chủ bị xóa bỏ
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên thật tiếng Đức: Friedrich Wilhelm Viktor Albrecht
tiếng Anh: Frederick William Victor Albert
Tước vị
Vương triều Nhà Hohenzollern
Thân phụ Friedrich III Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Victoria, Công chúa Hoàng gia Anh
Sinh 27 tháng 1 năm 1859
Berlin, Phổ
Mất 4 tháng 6 năm 1941 (tuổi 82)
Doorn, Hà Lan
An táng Huis Doorn, Hà Lan
Tôn giáo Giáo hội Phúc Âm Ki-tô giáo
Chữ ký của  Wilhelm II

Friedrich Wilhelm Viktor Abert von Hohenzollern, Wilhelm II của PhổĐức, (27 tháng 1 năm 18594 tháng 6 năm 1941) là vị Hoàng đế (Kaiser) cuối cùng cuả Đế quốc Đức, đồng thời cũng là vị Quốc vương cuối cùng của Vương quốc Phổ, trị vì từ năm 1888 cho đến năm 1918. Ông là một trong những nhân vật chủ chốt trong lịch sử châu Âu vào thế kỷ 20, và những chính sách của ông đóng vai trò quyết định đối với sự bùng nổ của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.[1] Thưở thiếu thời, ông lâm vào sự mâu thuẫn gay gắt đối với song thân của ông, và đặc biệt là thân mẫu của ông - Công chúa Victoria, con gái cả của Nữ hoàng Victoria nước Anh.[2] Ông lên nối ngôi lúc đã gần 30 tuổi và hai năm sau đó ông sa thải Thủ tướng Otto von Bismarck do bất đồng với chính sách ngoại giao khôn khéo của Bismarck.[2] Wilhelm II thực hiện chính sách cô lập nước Đức, tạo điều kiện cho Nga liên minh với Pháp vào năm 1894.[3] Ông là người có chủ nghĩa quân phiệtchủ nghĩa dân tộc cháy bỏng cùng với mong muốn xây dựng lực lượng hải quân mạnh nhằm đưa nước Đức trở thành cường quốc hàng đầu thế giới.[4]

Wilhelm II là một trong những danh nhân lịch sử có sức hút lớn nhất đối vơi hậu thế.[5] Là người có tính cách mâu thuẫn, ông mong muốn trở thành một vị vua - chiến binh lỗi lạc nhưng lại yếu ớt. Thừa hưởng Đế quốc Đức hùng mạnh, ông quyết tâm mở mang nền văn hóa, nghệ thuật, kịch nghệ, nhạc kịchkiến trúc, với không ít thành công. Chính sách này khiến ông tự coi mình là vị "Hoàng đế hiếu hòa" (Friedenskaiser). Tuy không thích người Do Thái nhưng vị Hoàng đế khoan dung một nhóm doanh nghiệp Do Thái bởi lẽ ông nhận thấy tầm quan trọng của họ.[6] Với tính khí khác thường, ông thường nói thế này nhưng lại làm thế khác.[7] Ông cũng khuếch trương xây dựng lực lượng Hải quân Đức, và cuộc chạy đua hải quân giữa Đế quốc Đức và Đế quốc Anh chính là một nhân tố quan trọng dẫn đến quan hệ ngoại giao tồi tệ giữa chính phủ 2 nước.[8] Cho đến năm 1914, nước Đức đã có nền kinh tế vượt trội so với Anh, và lớn mạnh hơn bất kỳ một liệt cường nào khác - một thành tựu lẫy lừng của triều đại Wilhelm II. Trong khi ấy chính sách cô lập nước Đức của ông gặp một hậu quả là nước Anh liên minh với Nga và Pháp, mặc dù Đế quốc Áo-Hung ủng hộ Đức.[6] Wilhelm II cũng thiết lập liên minh với Đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ.[9]

Dù có người tố cáo ông là kẻ gây ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực chất ông đã không ít lần ngăn cản sự bùng nổ và tiếp diễn của cuộc chiến này kể từ những mầm mống của nó, và cả lúc nó đang tiếp diễn.[8] Trong chiến tranh, vai trò Tổng tư lệnh tối cao của ông chỉ còn là danh nghĩa, bị các tướng lĩnh Đức chi phối.[10] Trong cuộc chiến, quân Đức không hề được đồng minh của họ hỗ trợ tận tình, song họ vẫn cầm chân được phần còn lại của thế giới, thậm chí còn giành chiến thắng huy hoàng như trận Tannenberg (1914) đánh tan tác quân Nga tại vùng Đông Phổ.[11][12] Vào năm 1918, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến hồi kết thúc, vị Hoàng đế lại phải đối mặt với một cơn bão Cách mạng của nhân dân chống lại Chính phủ Đế chế Đức. Nước Đức khó thể tránh khỏi thất bại trong Đại chiến và nhà vua cũng khó thể nào bảo vệ ngai vàng của ông trước tình hình nội loạn.[13][14] Ông tuyên bố thoái vị vào năm 1918 và bị đày ải sang Hà Lan. Kể từ năm 1920, ông sinh sống tại nhà riêng ở Doorn trên đất khách quê người. Khi ấy, ông vẫn luôn khao khát về nước khôi phục nền quân chủ, nhưng khi nhận thấy Đức Quốc Xã không hề muốn điều này xảy ra, ông cắt đứt mọi quan hệ với chính phủ Đức Quốc Xã vào năm 1934, và ông vẫn an trí tại Hà Lan cho đến khi qua đời vào năm 1941 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai.[6] Trong lịch sử, ông là một vị Quân vương gây tranh cãi: ông đã mắc sai lầm trong chính sách của mình, nhưng xét ra thì thật đáng thương.[7]

Tuổi trẻ của Wilhelm II[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tôn Wilhelm ra đời vào ngày 27 tháng 1 năm 1859 tại kinh kỳ Berlin, là con trai của Hoàng tử Friedrich Wilhelm nước Phổ (tức Hoàng đế Friedrich III sau này) và Công nương Victoria - Công chúa nước Anh. Ông là cháu ngoại thứ nhất của Nữ hoàng Anh Victoria, nhưng quan trọng hơn nữa, với tư cách là con trưởng của vị Hoàng thái tử nước Phổ, kể từ năm 1861 Wilhelm trở thành người thứ hai trong thứ tự kế vị của Hoàng gia Phổ, và sau năm 1871, là của Hoàng gia Đế chế Đức (theo Hiến pháp Đế chế Đức thì Quốc vương nước Phổ là người thống trị Đế chế này). Ông liên quan đến nhiều nhân vật Vương giả trên khắp châu Âu, và khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1914, Wilhelm II đã là anh em họ thứ nhất của Hoàng đế Nga Nikolai II và Quốc vương Anh George II.[15] Ông thường thử chọc tức những nhân vật Hoàng gia thân thuộc của mình.[16]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Wilhelm kết hôn năm 1881 công chúa Auguste Viktoria von Schleswig-Holstein-Sonderburg-Augustenburg. Họ có được 7 người con.
Sau khi vợ chết, vào năm 1922 ông lấy bà công chúa góa chồng Hermine von Schönaich-Carolath.
Hoàng đế Anh, ông Georg V. là anh em họ gần với ông.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải
  1. ^ Christopher Clark, Kaiser Wilhelm II, Bìa sau
  2. ^ a ă John C. G. Röhl, Young Wilhelm: the Kaiser's early life, 1859-1888, trang XIII
  3. ^ Giles MacDonogh, The Last Kaiser: The Life of Wilhelm II, Lời Mở đầu
  4. ^ John C. G. Röhl, Wilhelm II: the Kaiser's personal monarchy, 1888-1900, Bìa sau
  5. ^ John C. G. Röhl, Nicolaus Sombart, Kaiser Wilhelm II New Interpretations: The Corfu Papers, Bìa sau
  6. ^ a ă â Giles MacDonogh, The Last Kaiser: The Life of Wilhelm II, các trang 1-5.
  7. ^ a ă Giles MacDonogh, The Last Kaiser: The Life of Wilhelm II, Bìa sau
  8. ^ a ă Giles MacDonogh, The Last Kaiser: The Life of Wilhelm II, các trang 7-9.
  9. ^ Giles MacDonogh, The Last Kaiser: The Life of Wilhelm II, các trang 333-346.
  10. ^ John C. G. Röhl, Nicolaus Sombart, Kaiser Wilhelm II New Interpretations: The Corfu Papers, trang 185
  11. ^ John C. G. Röhl, Nicolaus Sombart, Kaiser Wilhelm II New Interpretations: The Corfu Papers, trang 145
  12. ^ Christopher M. Clark, Kaiser Wilhelm II, trang 229
  13. ^ Giles MacDonogh, The Last Kaiser: The Life of Wilhelm II, các trang 405-407.
  14. ^ Christopher M. Clark, Kaiser Wilhelm II, trang 241
  15. ^ Miranda Carter, George, Nicholas and Wilhelm: Three Royal Cousins and the Road to World War I (2010) [cần số trang]
  16. ^ Roderick R. McLean, "Kaiser Wilhelm II and the British Royal Family: Anglo-German Dynastic Relations in Political Context, 1890-1914." History 2001 86(284): 478-502. Issn: 0018-2648 in Ebsco
Tư liệu tham khảo
  • MacDonogh, Giles. The Last Kaiser: William the Impetuous, London: Weidenfeld & Nicolson, 2001. ISBN 978-1-84212-478-9
  • Cecil, Lamar. Wilhelm II: Prince and Emperor, 1859–1900, Chapel Hill: University of North Carolina Press, 1989. ISBN 0-8078-1828-3 online edition
  • Cecil, Lamar. Wilhelm II: Emperor and Exile, 1900–1941, (1996). ISBN 0-8078-2283-3 online edition,
  • McLean, Roderick R. "Kaiser Wilhelm II and the British Royal Family: Anglo-German Dynastic Relations in Political Context, 1890–1914." History 2001 86(284): 478–502. Issn: 0018-2648
  • Röhl, John C. G., and Nicholaus Sombart, eds. Kaiser Wilhelm II: New Interpretations − the Corfu Papers, Cambridge: Cambridge University Press, 1982 (reprinted 2005).
  • Röhl, John C. G. Young Wilhelm: The Kaiser's Early Life, 1859–1888, (Cambridge University Press, 1998)
  • Röhl, John C. G. The Kaiser's Personal Monarchy, 1888–1900, (Cambridge University Press, 2004); 1310pp excerpt and text search ISBN 978-0-521-81920-6
  • Röhl, John C. G.. The Kaiser and His Court: Wilhelm II and the Government of Germany, (Cambridge University Press, 1994. ISBN 0-521-40223-9

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Carter, Miranda. George, Nicholas and Wilhelm: Three Royal Cousins and the Road to World War I (2010)
  • Clark, Christopher. Kaiser Wilhelm II. Longman, 2000. ISBN 0-582-24559-1. Tiểu sử ngắn do một học giả viết.
  • Clay, Catrine., King Kaiser Tsar: Three Royal Cousins Who Led the World to War. (2007). 432 pp. popular narrative
  • Eley, Geoff. "The View From The Throne: The Personal Rule of Kaiser Wilhelm II," Historical Journal, June 1985, Vol. 28 Issue 2, pp 469–485
  • Hull, Isabel V. The Entourage of Kaiser Wilhelm II, 1888–1918, Cambridge: Cambridge University Press, 1982. ISBN 978-0-521-23665-2
  • Kohut, Thomas A. Wilhelm II and the Germans: A Study in Leadership, New York: Oxford University Press, 1991. ISBN 978-0-19-506172-7
  • Ludwig, Emil. Wilhelm Hohenzollern: The Last of the Kaisers, G.P. Putnam's Sons, New York, 1927 ISBN 0-404-04067-5.
  • Mombauer, Annika, and Wilhelm Deist, eds. The Kaiser: New Research on Wilhelm II's Role in Imperial Germany, (Cambridge University Press, 2003) 299pp; 12 essays by scholars ISBN 978-0-521-82408-8
  • Mommsen, Wolfgang J. "Kaiser Wilhelm II and German Politics." Journal of Contemporary History 1990 25(2–3): 289–316. Issn: 0022-0094 in Jstor
  • Retallack, James. Germany in the Age of Kaiser Wilhelm II, Basingstoke: St. Martin's Press, 1996. ISBN 978-0-333-59242-7
  • Van der Kiste, John. Kaiser Wilhelm II: Germany's Last Emperor, Sutton Publishing, 1999. ISBN 978-0-7509-1941-8
  • Waite, Robert G. L. Kaiser and Führer: A Comparative Study of Personality and Politics. (1998). 511 pp. Psychohistory that compares him with Adolf Hitler

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]