Chủ nghĩa quân phiệt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chủ nghĩa quân phiệt là trào lưu tư tưởng của một chính phủ hay của quần chúng chủ trương tăng cường sức mạnh quân sự, chuẩn bị dùng nó một cách hung tợn để bảo vệ hay đòi hỏi quyền lợi của quốc gia. Chủ nghĩa quân phiệt luôn luôn là yếu tố quan trọng của những ý thức hệ đế quốc, hay xâm lược của nhiều quốc gia trong suốt lich sử loài người. Những thí dụ tiêu biểu như thành phố Hy Lạp Sparta, Đế quốc La Mã, Đế quốc Phổ, Đế quốc Anh, Đế quốc Nhật Bản, Liên Xô, Đức Quốc Xã và chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Sau thế chiến thứ hai chủ nghĩa quân phiệt xuất hiện qua nhiều nước sau thời kỳ thực dân tại châu Á (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Myanma và Campuchia của Pol Pot) và ở châu Phi như (Liberia, Nigeria và Uganda). Các chế độ quân phiệt cũng thấy hiện lên ở Mỹ Latinh như chính quyền cực hữu của Augusto Pinochet ở Chile, giành được quyền lực nhờ đảo chánh và dựa vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ, trong khi những nước khác chính phủ quân sự có khuynh hướng thiên tả như của Hugo ChávezVenezuela, được dân bầu lên.

Quân đội và chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Khuynh hướng Chủ nghĩa quân phiệt là ý muốn trang bị vũ khí quá mức, vai trò của quân đội gia tăng trong chính trị đối nội và đối ngoại hoặc là sử dụng bạo động như vũ khí cho chính trị. Họ thường tạo ra một lãnh tụ độc đoán, có nhiều quyền lực, và hung tợn. Những xã hội quân phiệt thường chú trọng đến những tập quán quân sự và địa vị như phân chia cấp bậc, huy chương, danh dự và anh hùng.
Chủ nghĩa quân phiệt không đồng nghĩa với bộ phận quân đội. Nó nói lên một định hướng xã hội thiên nặng về tư tưởng quân sự. Một xã hội nặng về quân sự không phải lúc nào cũng dẫn tới chiến tranh. Ngược lại cũng có những trụ sở quân sự mà nhìn không thấy có nét quân phiệt.

Đặc điểm của chủ nghĩa quân phiệt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mặc đồng phục, tuân lời và phân biệt cấp bậc rõ ràng
  • Huy chương, huyền thoại, sùng bái anh hùng
  • Say mê quyền lực và tính ưu việt
  • Ca tụng bạo lực, chiến tranh và vũ khí
  • Khoe khoang sức mạnh và sự bất khuất

Trong những xã hội mà bị quân sự hóa nặng nề, thường là có một thể chế độc tài, các thành viên thường bị đòi hỏi, từ bỏ giá trị cá nhân và đạo đức cho chính phủ quân đội. Con người được mài dũa phải từ bỏ cá tính riêng mình để có được đặc tính chung thích hợp với xã hội đó. Lãnh tụ được thành tượng hóa. Người ta chấp nhận cái chế độ đó không xét lại.
Sự trao dồi về quân sự với mục đích là để luyện cho binh lính tuân lệnh, không đắn đo khi phải giết người khác. Con người bị ảnh hưởng của tập thể phải từ bỏ cá tính riêng của mình. Những hệ thống như vậy được duy trì nhờ sự kiểm soát, tội lỗi, sợ bị phạt. Một mặc khác những phần thưởng như tăng lương, tăng chức và các gương mẫu chiêu dụ người ta làm theo.[1]

Xã hội quân phiệt ở thành bang Sparta[sửa | sửa mã nguồn]

Xứ Sparta cho đến thế kỷ thứ ba trước công nguyên là một thành phố tự trị, theo chủ nghĩa quân phiệt và thành bang này chẳng khác gì một trại lính. Số người nô lệ và helots (không phải nô lệ nhưng không có quyền công dân, chỉ làm việc ruộng đồng) đông hơn công dân Sparta. Khi vừa lên bảy, đứa bé trai thành Sparta sẽ bị bắt khỏi gia đình để đưa vào một loại câu lạc bộ quân sự, nơi huấn luyện nó chiến đấu và sinh hoạt theo kỷ luật sắt. Những kỹ năng duy nhất được dậy là kỹ năng quân sự, mạnh khỏe, kỷ luật và cam đảm, chứ không phải để trao dồi văn hóa, nghệ thuật. Đứa bé nào sinh ra mà bị dị tật hoặc yếu ớt sẽ bị bỏ cho chết đói trong hang động trên núi, một đứa bé như vậy theo quan điểm của người Sparta là không được phép sống.[2]
Cở sở quân sự được đào tạo để giữ những người nô lệ và người helots khỏi nổi loạn. Đàn ông đựoc khuyến khích lấy vợ vào tuổi 20, nhưng chỉ được ở với gia đình từ tuổi 30 sau thời gian tích cực trong quân đội. [3]

Con đường của Nhật bản tiến tới chủ nghĩa quân phiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa quân phiệt và tham vọng đế quốc tại Nhật phát triển dần dần từ thời Minh Trị vì 5 lý do chính[4]:

Hâm mộ chủ nghĩa đế quốc kiểu Tây phương

Các nhà lãnh tụ Minh Trị tìm kiếm con đường để làm cho Nhật trở thành một quốc gia thượng hạng, bao gồm thế lực và sức mạnh nhờ chiếm đóng lãnh thổ ngoại bang. Trong thế kỷ thứ 19 những cường quốc Tây phương như Anh quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Nga và Ý chiếm được rất nhiều lãnh thổ, nhiều lần bằng những phương tiện quân sự. Do biết rất rõ lịch sử lâu đời của chủ nghĩa đế quốc Tây phương, mà đã bắt đầu từ thế kỷ thứ 16, những nhà lãnh đạo thời Minh Trị muốn tham dự với những cường quốc Tây phương để đòi hỏi quyền lợi và những ưu tiên tại các nước Á châu khác. Tuy nhiên các nhà lãnh đạo này biết rằng quốc gia họ cần hiện đại hóa và gây sức manh cho quân đội trước khi họ bắt đầu đạt điều kiện với các nước Tây phương.
Ngay cả sau khi Nhật đã bỏ công xây dựng quân đội trong nhiều năm, các nhà lãnh tụ Nhật hiểu rằng vào năm 1895 họ vẫn chưa được ngang hàng với các đế quốc tây phương khác. Mặc dầu Nhật thắng trận trong cuộc chiến tranh Hoa-Nhật vào năm 1894-95, và nhờ vậy chiếm được Đài Loan và đã đòi được Trung Hoa bồi thường cho một số tiền lớn, Nhật không thể chống cự lại các thế lực Tây phương khác khi Nga, Đức, và Pháp đòi Nhật phải từ bỏ bán đảo Liêu Đông mà họ đã chiếm được trong chiến tranh. Việc này đã dẫn tới sự phát triển quân sự nhanh chóng giữ năm 1895 và 1904.

Lo ngại về an ninh

Những khuynh hướng về quân phiệt càng phát triển mạnh khi các nhà lãnh đạo trong chính phủ nhận thấy sự cần thiết để bảo vệ quốc gia chống lại Nga và các cường quốc phuơng Tây khác. Quan sát những tiến bộ về kỹ thuật và sự vượt trội về sức mạnh quân sự nói chung và hải quân nói riêng của phương Tây, Nhật đã sợ là sẽ bị xâm chiếm bởi một nước phương Tây như là Nga. Và với một nước Trung Hoa quá yếu về quân sự và kinh tế vào cuối thế kỷ thứ 19, các nhà lãnh đạo Nhật sợ rằng, khi các thế lực phương Tây tranh giành lẫn nhau có thể làm sụp đổ chính thể Trung Hoa và như vậy có thể gây ảnh hưởng nặng tới sự an ninh của Nhật Bản. Yamagata Aritomo, được xem như là cha đẻ của quân đội Nhật cấp tiến cổ võ cho sự bành trướng lãnh thổ vì lý do an ninh hơn là muốn chế ngự.
Kiểm soát lãnh thổ của Hàn quốc tiêu biểu một yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ Nhật chống lại các nước phương Tây, bởi vì Hàn Quốc có cả biên giới với Nga và Trung Hoa. Nhật chẳng bao lâu nhận ra rằng, họ phải kiểm soát cả bán đảo Liêu Đông nằm phía nam của Mãn Châu để đảm bảo cho việc phòng thủ Hàn quốc. Mặc dù Nhật đã chiếm được bán đảo Liêu Đông trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật, Sự can thiệp của Nga, Đức, và Pháp vào năm 1895 buộc Nhật phải từ bỏ bán đảo này. Nga chiếm cảng Arthur ở đỉnh của bán đảo Liêu Đông vào năm 1898, làm gia tăng cái cảm tưởng không được an ninh của Nhật. Mặc dù liên hiệp quân sự với Anh vào năm 1902 đã cho Nhật một đồng minh trong trường hợp bị tấn công, những tranh chấp liên tục với Nga đã dẫn tới cuộc chiến tranh Nga-Nhật vào năm 1904-5.

Tin tưởng vào vai trò lãnh đạo ở Á châu

Amaterasu

Vào cuối thế kỷ thứ 19, nhiều nhà lãnh tụ Nhật tin tưởng là nước họ có một "vận mạng hiển nhiên" để giải thoát các nước Á châu khác thoát khỏi vòng kìm tỏa của các đế quốc phương Tây và để dẫn dắt các quốc gia này tới một sức mạnh và thịnh vượng tập thể. Fukuzawa Yukichi và các nhà văn khác vào cuối thế kỷ 19 ủng hộ sự bành trướng của Nhật ra hải ngoại và chánh sách xã hội Darwin, mà đã đề xướng sự sinh tồn của những nền văn hóa mạnh nhất qua một quá trình chọn lọc tự nhiên.
Vào năm 1905, Nhật trở thành một quốc gia Á châu đầu tiên mà đã đánh bại một cường quốc phương Tây, đó là Nga trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật 1904-5, mà đã làm vững lòng tin của Nhật trong sứ mạng của họ dẫn dắt các nước Á châu và khuyến khích các vị lãnh đạo của các quốc gia Á châu khác là họ có khả năng đứng lên chống lại các mưu đồ của các đế quốc phương Tây.
Nhiều nhóm và các nhà văn quốc gia quá khích, chả hạn như nhóm đảng Hắc Long và Kita Ikki, giành được sự cảm tình càng ngày càng tăng với quan điểm của họ rằng Nhật nên lãnh đạo Á châu để đuổi các thế lực ngoại bang bằng một chiến tranh cho chính nghĩa nếu cần thiết. Nhiều nhóm quốc gia quá khích này tin tưởng rằng đạo đức trong sáng của dòng giống Yamato và dòng giống đặc biệt của Nhật bản là con cháu của nữ thần mặt trời Amaterasu cho quyền người Nhật để đóng vai trò lãnh đạo tại Á châu.

Khiêu khích bởi các thế lực phương Tây

Một loạt các hành động ép buộc, khiêu khích bởi các đế quốc phương Tây từ thập niên 1850 cho tới 1930 gây ra những sự bực tức lớn lao lan ra giữa những người dân Nhật. Nhật đã phải ký những hòa ước không bình đẳng với Mỹ, Pháp, Hà lan, và Nga vào năm 1858 hạn chế chủ quyền của Nhật, như nhường đất ngay trên lãnh thổ của mình. Nó có nghĩa là người ngoại quốc ở Nhật không phải bị xử theo luật pháp Nhật. Hòa ước hải quân tại hội nghị Washington 1921-22 buộc Nhật phả chấp nhận tỷ lệ về số tàu chiến không có lợi là 5:5:3 theo thứ tự cho Mỹ, Anh và Nhật, và các thế lực phương Tây lại bắt buộc Nhật tại hội nghị Hải quân London chấp nhận với cùng tỷ lệ cho các Tàu tuần dương hạng nặng
Những thành kiến kỳ thị chủng tộc nặng nề đối với người Nhật, thêm vào đối với những người Hoa và các người Á châu khác, đã dẫn tới những việc xô xát nhục mạ nghiêm trọng đối với người Nhật. Vào năm 1919 tại hội nghị hòa bình Paris, các nước phương Tây đã từ chối một lời yêu cầu đơn giản của Nhật chỉ thêm một câu về sự bình đẳng của các chủng tộc trong hiến chương của Hội Quốc Liên. Năm 1905 California đã ban hành luật lệ kỳ thị người Nhật (anti-Japanese legislation). Năm sau đó, hội đồng giáo dục tại San Francisco ra lệnh cho trẻ em Nhật và các nước Á châu khác phải học những trường riêng biệt. Năm 1924, Mỹ ra luật Japanese Exclusion Act để ngăn ngừa không cho dân Nhật di cư tới Mỹ. Hàng loạt những sự lăng mạ quốc tế tới sự tự hào và địa vị của người Nhật đã châm dầu vào những tư tưởng quân phiệt và đế quốc của các lãnh tụ chính quyền và các phần tử quốc gia quá khích nhật.

Những lợi ích về kinh tế

Bởi vì Nhật lệ thuộc rất nặng về thương mãi quốc tế, nên tình trạng kinh tế suy thoái trên thế giới mà đã bắt đầu vào năm 1929 đã gây nhiều thử thách kinh tế lớn lao đối với người dân Nhật. Sự suy thoái lớn lao và lan rộng trên khắp thế giới lại xảy ra ngay sau cuộc động đất Kantô vào năm 1923 gây nhiều thiệt hại và đã làm cho nền kinh tế trì trệ suốt thập niên 1920, mà đã gây nhiều gian khổ cho nông dân và những người làm việc cho những hãng nhỏ. Bước vào thập niên 1930 những động cơ kinh tế cho đế quốc Nhật trở nên rất mạnh để bảo đảm những thương mại quốc tế được tiếp tục.
Kinh tế phát triển đòi hỏi một thị trường xuất cảng mạnh cho vải vóc của Nhật cùng các thứ hàng hóa khác. Các nước Á châu khác, đặt biệt là Trung Quốc, đã cung cấp những cơ hội thị trường tốt đẹp nhất cho các sản phẩm xuất cảng của Nhật. Bởi vậy chính phủ Nhật cần phải đảm bảo là nền thương mại này sẽ không bị gián đoạn bằng cách đạt được các quyền về thương mại và chuyên chở tại Trung Quốc. Kinh tế Nhật cũng đòi hỏi sự nhập cảng các nguyên liêu để mà cung cấp các hãng xưởng của nền kỹ nghệ.
Những đất đai rộng rãi và những nguồn tài nguyên dồi dào tại Mãn châu như là sắt và than đá cung cấp một lời giải cho khó khăn của nước Nhật vì quá đông dân và nhu cầu về nguyên liệu cho các kỹ nghệ nặng, mà tập trung vào việc xây dựng những dung cụ quân sự. Nhật bản xâm chiếm Mãn châu vào năm 1931. Nhật sau đó xâm lấn tới những quốc gia khác tại Nam Á để bảo đảm có đầy đủ tài nguyên để duy trì sự tự túc. Thí du, Nhật cần dầu hỏa từ công ty Dutch East Indies để mà cung cấp cho nền kỹ nghệ và quân sự của nó.

Khuynh hướng quân phiệt ở Venezuela[sửa | sửa mã nguồn]

Hugo Chávez mặc dù được bầu lên bởi người dân nhưng đã có những khuynh hướng độc tài, quân phiệt, đưa tới đe dọa là xã hội sẽ bị kiểm soát chặt chẽ, quyền lực sẽ bị tập trung vào một thế lực độc đoán.[5]

Bày tỏ cảm tình của Chavez đối với những chế độ độc tài

  • Theo BBC, Chávez viếng thăm vào tháng bảy năm 2006 nhà độc tài xứ Belarus, Alexander Lukashenko, và đã nói: "Tôi đã thấy ở đây một mô hình xã hội mà chúng tôi đang bắt đầu tạo ra."[6]
  • Chávez đích thân nhận giải thưởng cao nhất của chính quyền Iran được trao bởi tổng thống Mahmoud Ahmadinejad vào năm 2006. Theo như Breitbart.com, Chávez nói: "Ông ta thán phục tổng thống Iran vì sự khôn ngoan và sự kiên trì của ông ta."
  • Tại Libya, Chávez nói trong bài diễn văn nhân giải thưởng nhân quyền của Muammar Qaddafi vào tháng tám năm 2005, theo như tờ Weekly Standard: " Cũng như Yasser Arafat, tôi bây giờ chỉ có một khẩu súng cách mạng, khi cành ô liu đã rụng."[7]
  • Trong một buổi nói chuyện giữa Chávez and Castro trên đài truyền thanh và truyền hình, được tường thuật lại bởi Associated Press vào tháng tám năm 2005, Chávez nói: " Người ta đã hỏi tôi tại sao tôi lại ủng hộ ông Fidel mặc dù ông ta là một nhà độc tài. Nhưng Cuba không có độc tài; đó là thể chế dân chủ cách mạng."[8]
  • Chávez gặp Robert Mugabe, nhà độc tài của Zimbabwe, vào tháng mười năm 2005 và khen ngợi những cải cách ruộng đất đầy tham ô của Mugabe.[9]

Quân phiệt hóa
Venezuela phát triển quá độ về quân sự.

  • Theo như đài BBC, "Nga đang dự định sẽ cung cấp cho Venezuela 30 Sukhoi Su-30 phản lực cơ chiến đấu and 30 trực thăng. Venezuela cũng định mua 100 ngàn AK-103 súng trường của Nga và dự định lập hãng xưởng để sản xuất súng Kalashnikovs."[10]
  • Vào tháng mười một năm 2007, hãng xuất cảng vũ khí của chính phủ Nga, Rosoboronexport, nói, họ mong đợi sẽ tăng gấp đôi, gấp ba con số 4 tỷ dollar hợp đồng buôn bán võ khí quân sự cho Venezuela, theo như tờ Defense Industry Daily.[11]
  • Đài BBC tường thuật là Chávez đã tuyên bố vào tháng hai năm 2006, ông ta dự định tăng số quân lính dự bị từ hiện thời 500 ngàn lên tới 2 triệu, và sẽ trang bị vũ khí cho tất cả các người đó.[12]
  • War Resisters International tường thuật vào năm 2006 là tất cả các học trò trung học ở Venezuela sẽ phải tham dự 2 năm huấn luyện quân sự.[13]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Militär und Krieg”. 
  2. ^ “Sparta”. 
  3. ^ “Sparta - A Military State”. 
  4. ^ “Japan's March Toward Militarism”. Bill Gordon, wesleyan.edu. Tháng ba 2000. 
  5. ^ “Militarism in Venezuela: Warning Signs of Dictatorship?”. Peace work. Tháng 12 2007. 
  6. ^ “Chavez forges ties with Belarus”. bbc. 25 tháng 7 năm 2006. 
  7. ^ “Hurricane Hugo”. Weekly Standard. 8 tháng 8 năm 2005. 
  8. ^ “Chávez slams U.S. in show with Castro”. Cubanet. 17 tháng 10 năm 2005. 
  9. ^ “Chavez and Mugabe blame US for world's woes”. Ireland Online. 23 tháng 8 năm 2005. 
  10. ^ “Chavez in Russia for arms deals”. BBC. 25 tháng 7 năm 2006. 
  11. ^ “Russia Looks to Triple Arms Exports to Venezuela”. Defense Industry Daily. 11 tháng 11 năm 2007. 
  12. ^ “Venezuela gets 2m reserve troops”. BBC. 16 tháng 2 năm 2006. 
  13. ^ “Venezuela: pre-military education in schools obligatory”. War Resisters International. 31 tháng 3 năm 2006.