Sparta

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sparta nằm trong vùng đồng bằng Laconiathành bang Hy Lạp nổi tiếng nhất bán đảo Peloponnesus, người Dorian đến định cư ở đây vào khoảng năm 110 trước công nguyên. Xứ Sparta theo chủ nghĩa quân phiệt và thành bang này chẳng khác gì một trại lính, với những chiến binh hết sức tinh nhuệ.[1][2] Ngày xưa, Nhà nước quân phiệt khắt khe Sparta là một trong hai cường quốc hùng mạnh nhất trên lục địa Hy Lạp, cùng với Nhà nước dân chủ Athena.[3] Trải qua nhiều cuộc chiến tranh và bị hủy diệt nhiều lần, các di tích ở đây không được tìm thấy nhiều.

Khi đại quân Ba Tư xâm lược Hy Lạp, thành bang này nổi tiếng với cuộc tranh đấu và hy sinh của vua Leonidas I và cả thảy 298 chiến binh của ông trong trận đánh tại Thermopylae (480 trước Công Nguyên).[4] Hiện tại Sparta là một đơn vị hành chính nhỏ, thủ phủ của vùng Laconia, Hi Lạp.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với các thành bang Hy Lạp khác đã từ lâu đánh đuổi các vị vua, Sparta có hai nhà vua cùng cai trị trong suốt lịch sử tồn tại, cả hai đều thuộc dòng dõi Heracles. Hai vị vua này thống lĩnh ba quân trên trận tiền và chăm lo các vấn đề tôn giáo. Nhà nước Sparta là một sự kết tinh giữa các yếu tố của chế độ quân chủdân chủ dưới sự lãnh đạo của một nhóm chính trị đầu sỏ. Rất ít người phải thực hiện công việc của quần chúng.[5] Plato kể rằng sau khi trở về từ cuộc chiến tranh muời năm ở thành Troia, người Dorian giành lấy quyền cai trị vùng đất Messene, Argos và Lacedaemon (sau này là thành bang Sparta). Thành Troia bị tiêu diệt khoảng năm 1250 trước công nguyên. Ba nhà nước này hợp thành liên minh của người Dorian nhưng sau này, chỉ có Sparta giữ nguyên thể chế ban đầu đó. Về sau, Sparta chinh phục nhiều vùng đất khác, bao gồm cả vùng Messene.

Vào thế kỷ 18 trước công nguyên, các thành bang ở Hi Lạp lớn mạnh đến mức không còn đủ đất đai cho dân số ngày một gia tăng. Họ chỉ còn cách là tiến ra biển. Từ khoảng năm 750 trước công nguyên người Hy Lạp bắt đầu một tiến trình kéo dài 250 năm nhằm mở rộng, thiết lập thuộc địa về mọi hướng. Về hướng Đông, bờ biển Aegea thuộc Tiểu Á được chiếm làm thuộc địa đầu tiên, tiếp theo là Kypros, những vùng ven biển của Thrace, vùng biển Marmara và vùng phía nam Biển Đen. Cuối cùng thuộc địa của Hy Lạp mở tới tận phía Đông Bắc vùng Ukraina ngày nay. Về phía Tây, Albania, Sicilia và Nam Ý được thiết lập thuộc địa, sau đó là vùng ven biển phía Nam của Pháp, Corse, và kết thúc ở Đông Bắc Tây Ban Nha. Những thuộc địa của Hy Lạp cũng được lập tại Ai cậpLibya. Siracusa, Napoli, MarseilleIstanbul ngày nay đã bắt đầu từ những thuộc địa của Hy Lạp là Syracusa, Neapolis, MassiliaByzantium.

Vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên Hy Lạp đã trở thành một khu vực văn hóa và ngôn ngữ rộng lớn hơn nhiều so với diện tích địa lý của Hy Lạp hiện nay. Những vùng đất thuộc địa của Hy Lạp không bị kiểm soát về mặt chính trị vẫn duy trì những kết nối tôn giáo và thương mại với những thành phố thiết lập ra chúng. Người Hy Lạp tổ chức thành những xã hội độc lập cả ở quê nhà và bên ngoài. Thành phố (polis) trở thành đơn vị chính quyền cơ bản của Hy Lạp.

Cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Hoàng đế Cyrus Đại Đế dấy lên lập Đế quốc Ba Tư, ông làm vua xứ LydiaKroisos lo sợ. Vua Kroisos đã thành lập liên minh với người Sparta để đánh vua nước Ba Tư.[6] Nhưng rồi cuộc chiến Lydia - Ba Tư kết thúc với thất bại của vua xứ Lydia và sự thất thủ của kinh đô Sardis về tay vua nước Ba Tư, không những thế vua xứ Lydia còn bị bắt sống vào năm 547 trước Công Nguyên.[7] Người Sparta rất đau buồn trước sự xấu số của Kroisos.[8] Sau khi Cyrus Đại Đế thắng trận, các thành bang Hy Lạp ven biển cũng rơi vào tay của ông. Nhưng xứ Sparta cử một nhóm người Sparta bơi thuyền đến bờ biển châu Á, theo suy nghĩ của nhà sử học Herodotos, hẳn là để họ theo dõi vua Ba Tư. Trên đường đến Phocaea, họ phái những người xuất sắc nhất trong số họ đến Sardis Lacrines để - trên danh nghĩa người Sparta - cấm chỉ nhà vua được quyền gây chiến tranh với toàn dân Hy Lạp. Phái bộ sứ thần Sparta nói xong, Cyrus Đại Đế giận dữ hỏi những người Hy Lạp ở gần ông:[9]

Bọn Sparta gồm những ai ? Bọn chúng có bao nhiêu tên, mà dám vô lễ đến thế ?

—Cyrus Đại Đế

Những người Hy Lạp xung quanh trả lời. Nhà vua sau đó đe dọa phái bộ sứ thần Sparta, ông nói: "...Quả nhân mà còn ở đây thì bọn Sparta sẽ chịu những tai họa đủ để chúng phải lo sợ..." Sau đó, ông giao một viên tướng cai quản thành Sardis, còn ông thì bỏ về.[9] Khi Hoàng đế Ba Tư là Xerxes I xua đại quân chinh phạt Hy Lạp, vua xứ Sparta là Leonidas I thân chinh thống lĩnh ba quân kháng chiến trong trận Thermopylae vào năm 480 trước Công Nguyên. Ông chỉ có 298 chiến binh đánh "rợ Á" trong trận chiến này, nhưng ông sẵn sàng hy sinh, làm gương cho ba quân. Sau một cuộc đấu tranh anh dũng, vua Leonidas I hy sinh cùng với nhiều vị danh tướng thành Sparta.[10] Cũng theo Herodotos, toàn quân Sparta vẫn chiến đấu khốc liệt, đẩy lui quân Ba Tư và giữ được thi hài của vua Leonidas I.[11] Sau thất bại cuối cùng của quân Sparta, vua nước Ba Tư lấy được thi hài của Leonidas, và "hành quyết" ông.[12] Tuy thất trận nhưng đây là một trận đánh vinh quang của các chiến binh Sparta.[4] Cuối cùng, Hải quân các thành bang Hy Lạp do Đô đốc Sparta là Eurybiades chỉ huy đại phá tan tác quân Ba Tư do vua Xerxes I thân chinh thống lĩnh trong trận thủy chiến tại Salamis vào năm 480 trước Công Nguyên.[13] Với thất bại này, Xerxes I phải chạy tháo thân về nước, nhưng để lại cận tướng Mardonius ở Hy Lạp. Sau khi Mardonius đốt cháy thành Athena, ông ta chinh phạt vùng Plataea làm nhân dân ở đây phải cầu cứu người Sparta, người Sparta nhận lời và danh tướng Pausanias kéo những chiến binh tinh nhuệ nhất thành Sparta đến đánh. Trong trận chiến ở Plataea, nhờ vào tài năng tác chiến và binh khí thượng hạng của mình, kết hợp với lòng quyết tâm trả thù cho Leonidas I, quân Sparta đại thắng và tiêu diệt được cả Mardonius.[14][15] Không những thế, trong trận thủy chiến tại Mycale, Hải quân Sparta do vua Leotychides thân chinh thống lĩnh đập tan nát Hải quân Ba Tư.[16]

Những năm tháng hoàng kim và suy sụp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc chiến tranh Peloponnesus, lực lượng hải quân Sparta non trẻ đã đánh tan tác quân Athena, làm chấm dứt vai trò liệt cường của Athena thời đó và đưa thành bang nhà trở thành một liệt cường quân sự số một tại Hy Lạp.[17] Nhưng rồi, vào năm 371 trước Công Nguyên, với chiến thuật "đánh dọc sườn", danh tướng xứ ThebesEpaminondas đánh tan tác quân Sparta trong trận Leuctra.[18][19] Như vậy là đúng 180 năm sau khi danh tướng Pausanias đại phá tan tành quân Ba Tư của thống soái Mardonius trong trận Plataea, các chiến binh Sparta đã phải nếm mùi thất bại, tại cái nơi chỉ cách Plataea có 5 dặm. Quân Thebes phát huy thế thượng phong, xâm lược Lacedaemon, lấy mất vùng Messene. Từ một liệt cường bá chủ Hy lạp, Sparta suy sụp thành một liệt cường hạng trung bình.[20]

Trong cuộc Chiến tranh Thần thánh lần thứ ba (356 - 346 trước Công Nguyên), vua Archidamos III thân chinh cầm đầu đại quân Sparta đi đánh vùng Megalopolis, nhằm lấy lại vùng Messene cũng như đưa thành bang nhà trở thành liệt cường thống trị vùng Peloponnesus như năm xưa. Ông kéo đại binh đến Arcadia, và cắt đường của người Argos đến Megalopolis. Sau đó, ông xuất binh đánh tan tác người Argos. Đại quân Thebes kéo rốc đến hợp binh với người Arcadia và người Argos, và dù đông hơn hẳn quân Sparta, do kỷ luật yếu kém nên quân Thebes bại trận. Người Argos và Arcadia phải tháo chạy về thành. Sau khi tàn phá Arcadia cho đã đời, người Sparta rút về nước. Quân Sparta bị quân Thebes đánh bại trong hai trận chiến, nhưng rồi trong trận đánh cuối cùng họ đánh thắng được quân Thebes. Cuộc chiến trở nên bế tắc để rồi người Sparta và Megalopolis phải tái lập hòa bình với nhau. Mùa Thu năm 338 trước Công Nguyên, vua xứ MacedoniaPhilippos II thân chinh xuất binh đánh Peloponnesus. Ông giáng cho người Thebes một đòn sấm sét trong trận đánh ở Chaeronea, trong khi người Sparta vẫn giữ thái độ trung lập. Toàn bộ vùng Peloponnesus phải thần phục Philippos II, nhưng do tự hào với truyền thống lịch sử của mình, người Sparta cương quyết không chịu khuất phục vua xứ Macedonia.[21] Sau đó, Philippos II có đến xâm phạm vùng Laconia nhưng ông chẳng dám đánh trận với người Sparta, song với việc người Sparta không tham gia liên minh với ông, họ đã bị cô lập một cách hiểm nguy.[22]

Vào năm 336 trước Công Nguyên, Alexandros Đại Đế nối chí vua cha Philippos II, lên đường chinh phạt Ba Tư. Trong lúc vị vua trẻ tuổi đang thân chinh thống lĩnh các chiến binh tinh nhuệ Macedonia chinh chiến ở Á châu, người Sparta tiến hành khiêu chiến. Vua Agis III dan díu với Triều đình Ba Tư, đồng thời ông đánh tan nát một đạo quân Macedonia do Corrhagus chỉ huy, buộc quan Tổng đốc quân sự xứ ThraceAntipatros phải kéo đại quân ra đánh. Hai đoàn quân giáp chiến ác liệt với nhau vào năm 331 trước Công Nguyên tại vùng Megalopolis. Vua Agis III chiến đấu anh dũng và tiêu diệt được nhiều binh sĩ Macedonia, nhưng rồi quân Macedonia đại thắng, Agis III trận vong cùng với biết bao binh sĩ Sparta. Khi Antipatros báo tin chiến thắng cho Alexandros Đại Đế, vua không hài lòng với chiến thắng này, nhưng dù sao đây cũng là một thất bại quyết định của quân Sparta.[23]

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Sparta bị núi non vây quanh, không có lối trổ ra biển nên nhân dân Sparta không phải là dân đi biển, chỉ còn một cách duy nhất là phải gây hấn với những thành bang chung quanh, sau một chuỗi những xung đột kéo dài hơn trăm năm, kết quả là họ gồm thu được một vùng đất rộng lớn cho cư dân canh tác.

Dân số những vùng ấy đông gấp nhiều lần dân số Sparta, chắc chắn rồi một ngày nào đó sẽ xảy ra một trận phục thù khủng khiếp. Vả lại, thành bang nổi tiếng là thiếu thốn tài nguyên nghiêm trọng.[24] Thế nên xứ Sparta đã hình thành một xã hội hướng về thuật chiến tranh. Nhân dân Sparta phải mạnh mẽ hơn, cứng rắn hơn, hung hãn hơn những người láng giềng. Chỉ có cách này thì họ mới tiếp tục sống còn và ổn định. Khác với thành bang Athena láng giềng, người Sparta không gầy dựng nhiều công trình đồ sộ.[5]

Ở một xứ sở như Sparta, nghệ thuật không có cửa mà vào...

—Nhà sử học nghệ thuật Đức Johann Joachim Winckelmann[25]

Khi vừa lên bảy, đứa bé trai thành Sparta sẽ bị bắt khỏi gia đình để đưa vào một loại câu lạc bộ quân sự, nơi huấn luyện nó chiến đấu và sinh hoạt theo kỷ luật sắt. Ngủ trên giường cứng lót sậy, chỉ được phát một bộ quần áo mặc suốt cả năm, không được học hỏi hay thực hành bất kỳ một bộ môn văn hoá nghệ thuật nào. Dân Sparta chỉ cho phép bọn nô lệ sản xuất ra những sản phẩm tiểu thủ công nào tối cần thiết cho sinh hoạt. Những kỹ năng duy nhất được dậy là kỹ năng quân sự. Đứa bé nào sinh ra mà bị dị tật hoặc yếu ớt sẽ bị bỏ cho chết đói trong hang động trên núi, một đứa bé như vậy theo quan điểm của người Sparta là không được phép sống. Đứa bé mới sinh ra được cho tắm bằng rượu nho để có sức khỏe tốt, chúng lớn lên phóng khoáng nên không có đứa bé nào hay khóc và yếu đuối. Trẻ con ở Sparta không sợ bóng tối và rất dễ ăn uống. Sparta không cho phép bất kỳ hình thức mậu dịch hay tiền tệ nào, vì họ tin rằng tiền tệ gây ra chia rẽ và ích kỷ, làm suy yếu kỷ luật chiến binh. Nhà làm luật huyền thoại Sparta xưa là Lycurgus đã cấm vàng và sự giàu có cá nhân.[24] Nguồn thu nhập duy nhất là nông nghiệp, hầu hết những cánh đồng đều thuộc sở hữu Nhà nước.

Cuối cùng Sparta đã xây dựng được binh chủng bộ binh được mệnh danh là hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Họ đánh đâu thắng đó, vinh quang nối tiếp vinh quang, trong thời kỳ cực thịnh của mình, Sparta được coi là thành bang hùng mạnh nhất trong toàn thể Đại Hy Lạp. Những chiến binh Sparta tinh nhuệ luôn gây cho quân thù phải khiếp sợ, kể cả khi họ sống sót lẫn họ hy sinh, giống như những người lính ném lựu đạn của vị vua - chiến binh Friedrich II Đại Đế nước Phổ và các cỗ xe tăng Liên Xô về sau.[26] Trong mọi cuộc chiến tranh chống lại Đế quốc Ba Tư của người Hy Lạp, Sparta bao giờ cũng được chọn làm minh chủ của liên minh Hy Lạp. Sau đại thắng trong cuộc Chiến tranh Peloponnesus (431 - 404 trước Công Nguyên), thành bang Sparta vươn lên làm liệt cường bá chủ của toàn thể Hy Lạp. Nhưng sau khi quân Sparta bị quân Thebes đánh tan nát trong trận đánh tại Leuctra (371 trước Công Nguyên) thì Sparta không còn xưng hùng xưng bá được nữa.[24]

Sparta trong nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

thế kỷ thứ XIX, khi Hy Lạp bị vua Thổ Nhĩ Kỳ đô hộ, nhà thơ Anh Lord Byron, đã viết nên bài thơ về cuộc kháng chiến của vua Leonidas I và 300 chiến binh tinh nhuệ thành Sparta, để kêu gọi nhân dân Hy Lạp vùng lên phá tan xiềng xích nô lệ. Dù Sparta được coi là một thành bang khắc nghiệt tàn bạo, trận chiến này thường mang lại cảm xúc về độc lập tự do ở phương Tây, như nhà tiểu thuyết William Golding có nói. Song, bên cạnh nhà văn Pháp Montaigne và bao thế hệ yêu chuộng tự do sau này, Đức Quốc Xã cũng rất đề cao hình ảnh các chiến binh thành Sparta trong trận Thermopylae. Quốc trưởng Adolf Hitler coi họ là biểu tượng đích thực của một chủng tộc bá chủ, luôn luôn đề cao chiến tranh đích đáng. Vào ngày 6 tháng 1 năm 1943, khi trận Stalingrad lên tới đỉnh điểm ác liệt, Hitler ví von đạo quân Đức thứ sau với 300 chiến binh Sparta, nhưng rồi tướng Đức đầu hàng, làm ông thất vọng vì Quân đội Đức đã không thể làm nên một trận Thermopylae mới.[4][27] Bộ phim 300, ra đời mùa hè năm 2007, được chuyển thể từ truyện tranh dài của Frank Miller miêu tả cuộc chiến không cân sức giữa 300 chiến binh dũng mãnh Sparta, dưới sự thống soái của đích thân vua Leonidas I, với 1 triệu quân[cần dẫn nguồn] của Đế quốc Ba Tư cổ đại. Trung thành với nguyên tác truyện tranh, bộ phim là tiếng nói ca ngợi tự do và là khúc tráng ca của lòng yêu nước[28].

Trò chơi Sparta: Ancient Wars được xây dựng trên hình ảnh thế giới của những năm 500 đến 300 trước công nguyên, cho phép người chơi lựa chọn 3 đội quân với sức mạnh và các khả năng hoàn toàn khác nhau, bao gồm đội quân Sparta là những chiến binh oai hùng có sức khỏe phi thường và luôn sẵn sàng lao vào đánh giáp lá cà khốc liệt; đội quân của Ba Tư với tài điều khiển mãnh thú trên chiến trận như voi, lạc đà, ngựa; và phe còn lại là những dũng sỹ châu Phi đến từ Ai Cập[29]

Các vua Sparta:

  1. Lelex: 1600 TCN
  2. Mylesa
  3. Eurotas
  4. Sparta
  1. Lacedaemon
  2. Amyklas
  3. Argalus
  4. Kynortas
  5. Perieres
  6. Oibalos
  7. Tyndareos
  8. Hippocoon
  9. Tyndareos
  1. Menelaus: 1250 TCN
  2. Orestes: 1200 TCN
  3. Tisamenos
  4. Dion: 1200 TCN
  1. Aristodemos, con trai của Aristomachus và là chồng của Argeia
  2. Theras (nhiếp chính), con trai của Autesion và là anh trai của Aristodemos, chồng của Argeia, người gốc Theban, là nhiếp chính cho hai cháu trai, EurysthenesProcles
  • Triều Agiad (triều đại này được đặt theo tên vị vua thứ hai, Agis):
  1. Eurysthenes ? - 930 TCN
  2. Agis I, 930 - 900 TCN
  3. Echestratus, 900 - 870 TCN
  4. Labotas, 870 - c.840 TCN
  5. Doryssus, 840 - c.820 TCN
  6. Agesilaus I, 820 - c.790 TCN
  7. Archelaus, 790 - c.760 TCN
  8. Teleclus, 760 - c.758 TCN
  9. Alcamenes, 758 - c.741 TCN
  10. Polydorus, 741 - c.665 TCN
  11. Eurycrates, 665 - c.640 TCN
  12. Anaxander, 640 - c.615 TCN
  13. Eurycratides, 615 - 590 TCN
  14. Lindius, 590 - 560 TCN
  15. Anaxandridas II, 560 - c.520 TCN
  16. Cleomenes I, 520 - 490 TCN
  17. Leonidas I, 490 - 480 TCN
  18. Pleistarchus, 480 - c.459 TCN
  19. Pleistoanax, 459 - 409 TCN
  20. Pausanias 409 - 395 TCN
  21. Agesipolis I, 395 - 380 TCN
  22. Cleombrotus I,380 - 371 TCN
  23. Agesipolis II, 371 - 370 TCN
  24. Cleomenes II, 370 - 309 TCN
  25. Areus I, 309 - 265 TCN
  26. Acrotatus II, 265 - 262 TCN
  27. Areus II, 262 - 254 TCN
  28. Leonidas II, 254 - 242 TCN
  29. Cleombrotus II, 242 - 241 TCN
  30. Leonidas II, 241 - 235 TCN
  31. Cleomenes III, 235 - 222 TCN

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Manoj Sharma, History of World Civilization, trang 189
  2. ^ Manoj Sharma, History of World Civilization, trang 190
  3. ^ Tom Holland, Persian Fire: The First World Empire and the Battle for the West, trang XIV
  4. ^ a ă â Tom Holland, Persian Fire: The First World Empire and the Battle for the West, trang XVI
  5. ^ a ă Philip De Souza, Waldemar Heckel, Lloyd Llewellyn-Jones, The Greeks at war: from Athens to Alexander, tran 113
  6. ^ Herodotus, George Rawlinson, The Histories, trang 22
  7. ^ Herodotus, George Rawlinson, The Histories, trang 28
  8. ^ Herodotus, George Rawlinson, The Histories, trang 27
  9. ^ a ă Herodotus, George Rawlinson, Histories, trang 46
  10. ^ Herodotus, George Rawlinson, The Histories, trang 314
  11. ^ Herodotus, George Rawlinson, The Histories, trang 315
  12. ^ Herodotus, George Rawlinson, The Histories, trang 318
  13. ^ William Shepherd, Peter Dennis, Salamis 480 BC, các trang 18-21.
  14. ^ Herodotus, George Rawlinson, The Histories, trang 379
  15. ^ Louise Park, Timothy Love, The Spartan Hoplites
  16. ^ Mark Henderson Munn, The Mother of the Gods, Athens, and the tyranny of Asia: a study of sovereignty in ancient religion, các trang 276-277.
  17. ^ Richard A. Gabriel, Donald W. Boose, The great battles of antiquity: a strategic and tactical guide to great battles that shaped the development of war, trang 150
  18. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 309
  19. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 211
  20. ^ Tom Holland, Persian Fire: The First World Empire and the Battle for the West, trang 371
  21. ^ James R. Ashley, The Macedonian Empire: The Era of Warfare Under Philip II and Alexander the Great, 359-323 B.C., trang 159
  22. ^ Paul Cartledge, Antony Spawforth, Hellenistic and Roman Sparta: a tale of two cities, các trang 17-18.
  23. ^ Waldemar Heckel, The Wars of Alexander the Great: 336-323 BC, trang 48
  24. ^ a ă â Waldemar Heckel, The Wars of Alexander the Great: 336-323 BC, trang 14
  25. ^ Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed and Letters, trang 325
  26. ^ Christopher Duffy, Red storm on the Reich: the Soviet march on Germany, 1945, trang 60
  27. ^ Tom Holland, Persian Fire: The First World Empire and the Battle for the West, trang XVII
  28. ^ Xem "bom tấn đầu mùa hè Hollywood" - phim 300: Khúc tráng ca của lòng yêu nước
  29. ^ Sparta: Chiến trường cổ đại

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]