Cường quốc
Cường quốc, còn là cường quyền. đại quốc, nước lớn là từ dùng để chỉ một quốc gia hay một đất nước có khả năng tạo tầm ảnh hưởng của mình ở phạm vi toàn cầu. Những cường quốc thường sở hữu sức mạnh về kinh tế, vũ khí, ngoại giao và văn hóa. Những thứ mà có thể khiến những quốc gia nhỏ hơn phải xem xét ý kiến của những cường quốc trước khi tự mình hành động.
Sau thời kỳ Napoléon, người ta bắt đầu dùng từ "Cường quốc" để chỉ những quốc gia có thế lực lớn ở châu Âu.[1] Chẳng hạn như nhà sử học vĩ đại nước Đức là Leopold von Ranke, ông cho rằng một nước trở thành liệt cường sau khi đánh bại được mọi nước láng giềng. Quốc vương Friedrich II Đại Đế, nhờ chiến thắng vẻ vang trong cuộc đấu tranh bảo vệ nước Phổ chống liên minh Áo - Pháp - Nga - Thụy Điển và phần lớn các nước trong Đế quốc La Mã Thần thánh, đã hoàn toàn đưa nước Phổ trở thành một trong những liệt cường của châu Âu.[2] Trên thực tế, kể từ sau khi ông chinh phạt tỉnh Silesia vào năm 1745 thì Vương quốc của ông đã vươn lên thành liệt cường.[3]
Từ thời Napoléon đến nay, đã có nhiều thay đổi về cục diện sức mạnh, phần lớn là từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong khi một vài nước được công nhận rộng rãi là Cường quốc, không có một danh sách cụ thể nào về những Cường quốc, và danh sách những cường quốc vẫn đang được tranh cãi.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Có nhiều quốc gia lớn mạnh từng tồn tại trong lịch sử; thực chất, trong thế kỷ 18 châu Âu đã có năm liệt cường: Anh Quốc, Áo, Nga, Pháp và Phổ. Sau cuộc Chiến tranh Bảy Năm (1756 - 1763), uy thế của Anh Quốc và Pháp ở châu Âu yếu dần đi, và các liệt cường ở Đông Âu trội lên là Nga và Phổ, nhờ những chiến thắng quân sự của họ.[4] Nước Nga vốn đã vươn dần thành liệt cường quân sự kể từ khi Sa hoàng Pyotr Đại Đế (trị vì: 1689 - 1725) cải cách quân đội và đánh thắng Thụy Điển trong cuộc Đại chiến Bắc Âu (1700 - 1721). Vào năm 1725, có người đã coi Đế quốc Nga là liệt cường vì đất nước làm chủ được vùng biển Baltic. Nước Nga khi ấy còn có lực lượng Hải quân hùng hậu.[5] Đời Nữ hoàng Elizaveta, Nga tham chiến chống Vương quốc Phổ - khi ấy là liệt cường quân sự hàng đầu Âu châu - trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm. Vài chiến thắng của quân Nga trước những đạo quân Phổ hùng cường (như trận Kunersdorf) khiến Nga trở nên mạnh mẽ hơn cả so với đồng minh của họ là Đế quốc Áo, Thụy Điển và Pháp. Đến năm 1763, chiến sự kết thúc và thực lực của nước Nga được củng cố. Cho dù Đế quốc Nga không chiếm được một đất đai nào trong cuộc chiến này, uy danh của họ gia tăng. Tuy nhiên, quan niệm thế kỷ 18 đòi hỏi một nước phải là liệt cường khi đánh bại một nước khác mà không cần nước nào giúp đỡ, do đó Nga chỉ thực sự là liệt cường sau năm 1763, dưới triều Nữ hoàng Ekaterina II Đại Đế.[6][7] Quân bà liên tiếp đánh thắng quân Ottoman, buộc Đế quốc Ottoman phải nhượng quá chừng đất đai cho Nga trong các năm 1774, 1783 và 1792.[6] Những cuộc chinh phạt này có ý nghĩa rất lớn lao và đưa nước Nga trở thành một liệt cường khủng khiếp, đáng gờm.[8] Bà cũng thiết lập chính sách bảo vệ lãnh thổ, qua đó Quân đội Nga ngày càng phát triển và đến năm 1790 thì trở thành lực lượng quân sự lớn nhất của Đông Âu, dễ dàng tung hoành ngang dọc.[9]
Cũng trong thế kỷ này, Quốc vương Friedrich Wilhelm, (trị vì: 1713 - 1740) nước Phổ, đã cải tổ sâu rộng để đổi mới đất nước. Thành quả của ông là nước Phổ có một lực lượng Quân đội tinh nhuệ không ai sánh bằng và một bộ máy Hành chính rất hiệu quả, dù khác với Nga, Phổ có dân số, tài nguyên và đất đai rất ít ỏi. Sang đời Quốc vương Friedrich II Đại Đế (trị vì: 1740 - 1786), tài mưu lược kiệt xuất của ông cũng tạo điều kiện cho Vương quốc Phổ vươn lên thành liệt cường. Ông thân chinh thống lĩnh nhuệ binh đánh chiếm tỉnh Silesia của Áo vào năm 1740 và buộc Áo hoàn toàn phải nhượng tỉnh này sau chiến thắng trong hai cuộc Chiến tranh Silesia (1740 - 1745). Song, đất nước vẫn còn yếu ớt và Phổ vẫn chưa thực sự là liệt cường.[10] Trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm, nước Phổ phải chống nhau với liên minh Nga - Áo (cùng phần lớn các lãnh chúa trong Đế quốc La Mã Thần thánh) - Pháp - Thụy Điển hùng mạnh, với tài nguyên áp đảo.[11] Tuy khó khăn vậy nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình của Friedrich II Đại Đế, với bộ máy Hành chính xuất sắc và binh tướng hùng hậu, nhờ ông nhận viện trợ của Anh Quốc và khai thác tài nguyên ở vùng chiếm đóng Sachsen, Vương quốc Phổ dũng mãnh vẫn đấu tranh bền bỉ và chiến thắng trong cuộc chiến tranh này, với nhiều đại thắng huy hoàng tỷ như trận Roßbach (1757) và trận Torgau (1760). Khi chiến tranh kết thúc vaò năm 1763, nước Phổ giữ vững được Silesia và không ai có thể chối cãi họ là liệt cường, chí ít thì cũng phải là liệt cường quân sự. Người đương thời thán phục vị Quốc vương thiên tài Friedrich II Đại Đế - một kỳ nhân của cả thiên hạ - và những chiến binh vũ dũng của ông, trong khi nước Phổ đạt thành tích chính trị to lớn là trở thành một nhân tố không thể thiếu được trong nền ngoại giao.[6] Những cuộc duyệt binh hoành tráng và việc nhà vua cho xây "Tân Hoàng cung" (Neues Palais) tại thành Potsdam chứng tỏ thực lực đất nước đang trên đà lớn mạnh, du khách kéo nhau đến thăm viếng.[11] Ông cũng tấn công vào Ba Lan nhằm xây dưng nước Phổ giàu mạnh hơn.[12] Trong khi nhiều người ngọai quốc thán phục và gia nhập Quân đội Phổ lừng lẫy, những cuộc chinh phạt của Friedrich II Đại Đế mở rộng hơn hẳn lãnh thổ và dân số của Vương quốc ông.[10][11]
Trong khi ấy, Pháp - do đại bại ê chề trước quân Phổ của Friedrich II Đại Đế tại Rossbach[6] và trước Đế quốc Anh trong các trận chiến giành thuộc địa ở hải ngoại - bị giảm sút vai trò liệt cường. Pháp trở nên yếu hèn, uy tín quốc tế bị tổn hại nặng.[13] Khủng hoảng nghiêm trọng của Pháp tạo nên cách nhìn rằng bọn họ không còn là liệt cường nữa. Nội bộ Pháp chia rẽ, với những thất bại cá nhân của Quốc vương Louis XV và kẻ kế tục là Louis XVI sau năm 1774.[14] Nhờ tài nghệ ngoại giao xuất sắc của mình, Friedrich II Đại Đế liên minh với Ekaterina II Đại Đế, khiến cho Vương quốc Phổ hoàn toàn ổn định (1764). Liên minh này cũng tạo điều kiện cho Đế quốc Nga áp đặt bá quyền vào Ba Lan, đây là một tổn hại nặng của Vương quốc Pháp vì Ba Lan là chư hầu cũ của Pháp.[15] Vào năm 1772, thanh thế liệt cường của Nga và Phổ còn tăng thêm với cuộc chia cắt Ba Lan.[6][12] Việc tham chiến trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến Vương quốc Pháp càng suy yếu dưới bóng của Nga.[9]
Tuy nhiên, thuật ngữ "cường quốc" mới chỉ được sử dụng nhiều trong ngôn ngữ học thuật bắt đầu từ Đại hội Viên năm 1815.[16][17] Hội nghị thiết lập hòa bình tại châu Âu sau các cuộc chiến Napoleon. Hội nghị Viên có năm cường quốc: Vương quốc Anh, Đế quốc Áo, Phổ, Nga và Pháp. Đây chính là năm quốc gia hình thành nên những cường quốc đầu tiên theo nghĩa của thuật ngữ mà chúng ta hiểu ngày nay.[17] Các quốc gia khác như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Thụy Điển cũng được tham khảo ý kiến nhưng không phải là thành viên đầy đủ. Hanover, Bavaria, và Württemberg cũng được lấy ý kiến tham khảo các vấn đề liên quan tới Đức.
Trong năm cường quốc tại Hội nghị Viên, chỉ còn Vương quốc Anh và Pháp là còn giữ được vị thế cường quốc cho tới ngày nay, mặc dù trong Thế chiến II Pháp bị chinh phạt và chiếm đóng. Sau Hội nghị Viên, Đế quốc Anh nổi lên như một cường quốc nổi bật nhờ sự mở rộng lãnh và sức mạnh của hải quân. Cán cân sức mạnh trở thành một đề tài có tầm ảnh hưởng trong chính trị ở châu Âu. Qua thời gian, sức mạnh của các quốc gia này có những thay đổi, đầu thế kỷ 20 chứng kiến sự nổi lên của cán cân quyền lực mới. Một vài quốc gia như Vương quốc Anh và Phổ vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế và sức mạnh chính trị.[18] Các quốc gia khác, như Nga và Áo-Hung trở nên trì trệ.[19] Trong khi đó, các quốc gia khác đang nổi lên và mở rộng sức mạnh nhờ quá trình công nghiệp hóa. Nổi bật nhất trong số đó là Nhật Bản sau thời kỳ Minh Trị Duy tân và Hoa Kỳ sau nội chiến, cả hai quốc gia này chỉ là cường quốc hạng thấp hồi năm 1815. Tới những năm đầu của thế kỷ 20, cán cân sức mạnh thay đổi đáng kể, Liên quân tám nước là một liên minh quân sự gồm tám quốc gia chống lại cuộc Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn ở Trung Quốc. Liên minh này thành lập năm 1900 gồm năm cường quốc tại Hội nghị Viên cộng thêm Ý, Nhật Bản và Hoa Kỳ, đại diện cho những cường quốc hàng đầu thế kỷ 20.[20]
Cường quốc trong chiến tranh [sửa]
Sự chuyển gia sức mạnh sau ra chủ yếu thông qua các cuộc xung đột,[21] kết quả của Thế chiến I và các Hiệp ước Versailles, St-Germain, và Trianon đã chứng kiến Vương quốc Anh, Pháp, Ý, Nhật Bản và Hoa Kỳ trở thành những nhà phán xét trật tự thế giới mới.[22] Sau Thế chiến I, Đế quốc Đức bị đánh bại, Đế quốc Áo-Hung bị chia thành các quốc gia yếu và nhỏ bé hơn trong khi Đế quốc Nga bị chìm trong một cuộc cách mạng. Trong Hiệp ước Versailles, Anh, Pháp, Hoa Kỳ nắm giữ nhiều quyền lực và ảnh hưởng hơn Nhật Bản và Ý.[23][24][25]
Khi Thế chiến II bùng nổ năm 1939, cuộc chiến được chia thành hai phe, phe Đồng minh (ban đầu gồm Anh và Pháp, sau đó là Liên Xô, Hoa Kỳ và Trung Quốc năm 1941) và phe Trục gồm Đức, Ý và Nhật Bản.[26][nb 1] Cuối Thế chiến II, Hoa Kỳ, Liên Xô và Anh Quốc nổi lên như những người chiến thắng. Pháp và Trung Quốc cũng được công nhận, các quốc gia này nắm giữ ghế thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Sau chiến tranh, thuật ngữ "siêu cường" bắt đầu xuất hiện. Đây là thuật ngữ mô tả các quốc gia có sức mạnh và tầm ảnh hưởng bao trùm. Từ này được đưa ra bởi William T.R. Fox năm 1944,[27] theo ông, có ba cường quốc là: Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Liên Xô. Tới cuối thập niên 1950, Đế quốc Anh mất vị thế siêu cường,[nb 2] siêu cường lúc này chỉ còn Hoa Kỳ và Liên Xô.
Trong thời Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản và các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp và Tây Đức xây dựng lại nền kinh tế. Pháp và Anh đến nay vẫn duy trì một lực lượng quân sự trang bị hiện đại với tiềm lực huy động mạnh và ngân sách quốc phòng lớn. Trung Quốc, với dân số lớn nhất thế giới, dần nổi lên trở thành siêu cương nhờ tốc độ tăng trưởng cao và sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng. Đến thập niên 1970, Trung Hoa Dân Quốc mất sự công nhận là chính quyền hợp pháp của Trung Quốc. Đến năm 1971 thì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức thay thế vị thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc của Trung Hoa Dân Quốc.
Sau chiến tranh Lạnh [sửa]
Hiện nay Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc được xem là các cường quốc mặc dù thực chất không có một sự nhất trí hay một định nghĩa về thế nào là cường quốc. Đây là năm quốc gia có ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và cũng là năm quốc gia được công nhận sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Dù không có ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an, Đức và Nhật Bản cũng được coi là các cường quốc bởi sức mạnh kinh tế và công nghệ.
Sau khi Liên Xô tan rã, ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an được chuyển cho Liên bang Nga năm 1991 với tư cách là nhà nước kế tục. Sự tan rã của Liên Xô đưa Hoa Kỳ trở thành siêu quốc duy nhất trên thế giới cho tới ngày nay. Nhưng kể từ năm 2008, khi kinh tế thế giới cùng Mỹ trên đà lao dốc, Trung Quốc đã nổi lên dần với hoài bảo giành lấy vị trí siêu cường số một của thế giới, và điều này đang đe dọa vị trí số một của Mỹ trên toàn cầu.[nb 3]
Xem thêm [sửa]
Chú thích [sửa]
- ^ Even though the book: The Economics of World War II lists 7 great powers at the start of 1939 (the British Empire, the Empire of Japan, France, the Kingdom of Italy, Nazi Germany, the Soviet Union and the United States) This book focuses only on 6 of the 7 great powers that fought during World War II. This is because France surrendered shortly after the war began.
- ^ The 1956 Suez Crisis suggested that the United Kingdom, financially weakened by two world wars, could not then pursue its foreign policy objectives on an equal footing with the new superpowers without sacrificing convertibility of its reserve currency as a central goal of policy. – from superpower cited by Adam Klug and Gregor W. Smith, 'Suez and Sterling', Explorations in Economic History, Vol. 36, No. 3 (July 1999), pp. 181–203.
- ^ The fall of the Berlin wall and the breakup of the Soviet Union left the United States as the only remaining superpower in the 90's.
Tham khảo [sửa]
- ^ Webster, Charles K, Sir (ed), British Diplomacy 1813–1815: Selected Documents Dealing with the Reconciliation of Europe, G Bell (1931), p307.
- ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 137
- ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 112
- ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 1-3.
- ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 16-19.
- ^ a b c d e Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 35-40.
- ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 152
- ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 232
- ^ a b Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 253-256.
- ^ a b Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 20-27.
- ^ a b c Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 85-99.
- ^ a b Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 176-177.
- ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 56-63.
- ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 70-76.
- ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 109-116.
- ^ "World history, 1815-1920"
- ^ a b "When the Stakes Are High—Deterrence and Conflict among Major Powers"
- ^ “Multi-polarity vs Bipolarity, Subsidiary hypotheses, Balance of Power” (PPT). University of Rochester. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008. [liên kết hỏng]
- ^ Tonge, Stephen; head of history at Catholic University School in Dublin. “European History Austria-Hungary 1870–1914”. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008.
- ^ Dallin, David (30 tháng 11 năm 2006). The Rise of Russia in Asia. Read Books. ISBN 9781406729191.
- ^ Power Transitions as the cause of war.
- ^ Globalization and Autonomy by Julie Sunday, McMaster University.
- ^ MacMillan, Margaret (2003). Paris 1919. United States of America: Random House Trade. tr. 36, 306, 431. ISBN 0-375-76052-0.
- ^ Boemeke, Manfred; Gerald D. Feldman, Elisabeth Glaser-Schmidt (1998). The Treaty of Versailles: 75 Years After. United States of America: Cambridge University Press. ISBN 0-521-62132-1.
- ^ Paris 1919 by Margaret MacMillan has the Council of Five (Britain, France, Italy, Japan and the United States) as the main victors and remaining Great Powers.
- ^ Harrison, M (2000) The Economics of World War II: Six Great Powers in International Comparison, Cambridge University Press.
- ^ "The Superpowers"
Đọc thêm [sửa]
- Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, Longman, 2000. ISBN 0582017696.
- The Tragedy of Great Power Politics by John J. Mearsheimer
- Theory of International Politics by Kenneth N Waltz
- World Politics: Trend and Transformation by Eugene R. Witkopf
- The Rise and Fall of the Great Powers by Paul Kennedy
- France and the Nazi Threat: The Collapse of French Diplomacy 1932–1939 by Jean-Baptiste Duroselle, Introduction by Anthony Adamthwaite (Enigma Books, ISBN 1-929631-15-4)