Cường quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một vài quốc gia được đánh giá là Cường quốc.

Cường quốc, còn là cường quyền. đại quốc, nước lớn là từ dùng để chỉ một quốc gia hay một đất nước có khả năng tạo tầm ảnh hưởng của mình ở phạm vi toàn cầu. Những cường quốc thường sở hữu sức mạnh về kinh tế, vũ khí, ngoại giaovăn hóa. Những thứ mà có thể khiến những quốc gia nhỏ hơn phải xem xét ý kiến của những cường quốc trước khi tự mình hành động.

Sau thời kỳ Napoléon, người ta bắt đầu dùng từ "Cường quốc" để chỉ những quốc gia có thế lực lớn ở châu Âu.[1] Chẳng hạn như nhà sử học vĩ đại nước ĐứcLeopold von Ranke, ông cho rằng một nước trở thành liệt cường sau khi đánh bại được mọi nước láng giềng. Quốc vương Friedrich II Đại Đế, nhờ chiến thắng vẻ vang trong cuộc đấu tranh bảo vệ nước Phổ chống liên minh Áo - Pháp - Nga - Thụy Điển và phần lớn các nước trong Đế quốc La Mã Thần thánh, đã hoàn toàn đưa nước Phổ trở thành một trong những liệt cường của châu Âu.[2] Trên thực tế, kể từ sau khi ông chinh phạt tỉnh Silesia vào năm 1745 thì Vương quốc của ông đã vươn lên thành liệt cường.[3]

Từ thời Napoléon đến nay, đã có nhiều thay đổi về cục diện sức mạnh, phần lớn là từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhấtChiến tranh thế giới thứ hai. Trong khi một vài nước được công nhận rộng rãi là Cường quốc, không có một danh sách cụ thể nào về những Cường quốc, và danh sách những cường quốc vẫn đang được tranh cãi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hội nghị Viên, vẽ bởi Jean-Baptiste Isabey, 1819

Có nhiều quốc gia lớn mạnh từng tồn tại trong lịch sử; thực chất, trong thế kỷ 18, châu Âu đã có năm cường quốc: Anh, Áo, Nga, PhápPhổ. Sau cuộc Chiến tranh Bảy Năm (1756-1763), vị thế của Anh và Pháp ở châu Âu suy giảm, trong khi Nga và Phổ trỗi lên ở Đông Âu nhờ những thắng lợi quân sự của họ.[4] Nga vốn đã vươn lên trở thành cường quốc kể từ khi Nga hoàng Pyotr Đại đế tiến hành cải cách và đánh bại Thụy Điển trong cuộc Đại chiến Bắc Âu (1700-1721). Năm 1725, một số người đã nhìn nhận Nga là một cường quốc vì nước này làm chủ vùng biển Baltic.[5] Dưới thời Elizaveta, Nga tham gia liên minh chống Phổ, cường quốc quân sự mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ, trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. Một số chiến thắng vang dội của quân đội Nga trước các lực lượng hùng hậu của Phổ, mà tiêu biểu là trận Kunersdorf, đã chứng tỏ ưu thế của Nga so với các đồng minh của mình là Áo, Thụy Điển và Pháp. Cho đến năm 1763, Nga đã được khẳng định là một cường quốc, dù cuộc chiến không mang lại cho họ một lãnh thổ mới nào. Tuy nhiên, quan niệm thời thế kỷ 18 đòi hỏi một cường quốc thực thụ phải đánh bại một nước khác mà không có sự hỗ trợ của một nước nào, vì vậy Nga chỉ thực sự là cường quốc sau năm 1763, dưới thời Nữ hoàng Ekaterina II.[6][7] Khi ấy, Nga giành được nhiều lãnh thổ trong hai cuộc chiến với Đế quốc Ottoman.[6] Đến năm 1790, với chính sách phòng ngự lãnh thổ của Ekaterina, quân đội Nga trở thành lực lượng quân sự lớn nhất Đông Âu.[8]

Cũng trong thế kỷ này, vua Friedrich Wilhelm I của Phổ đã gầy dựng một lực lượng quân sự tinh nhuệ cùng với một bộ máy hành chính hiệu quả, dù Phổ không có được nguồn nhân lực và vật lực dồi dào như Nga. Tài thao lược của người kế tục ông, vua Friedrich Đại đế, đã tạo điều kiện cho Phổ vào hàng ngũ cường quốc. Mặc dù Friedrich đã giành được tỉnh Schlesien từa tay Áo sau thắng lợi của mình trong hai cuộc Chiến tranh Schlesien (1740-1745), thực lực của vương quốc vẫn còn non yếu.[9] Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, nước Phổ lâm chiến với liên minh Nga, Áo (cùng hầu hết các vương hầu ở Đức), Pháp, Thụy Điển có nguồn nhân lực và tài lực áp đảo.[10] Mặc dù sự thay đổi chính sách ngoại giao của Nga năm 1762 đã loại bỏ nguy cơ thất bại cho Phổ, tài dụng binh của Friedrich Đại đế, kết hợp với sự bài bản của bộ máy hành chính và quân đội của Phổ, cùng với khoản viện trợ của Anh và việc khai thác tài nguyên ở Sachsen bị chiếm đóng là những nhân tố chính yếu dẫn đến thắng lợi phòng ngự của Phổ trong cuộc chiến. Sự thật rằng Phổ tiếp tục chiến đấu vào thời điểm Nga rút khỏi liên minh là một minh chứng cho sự dai sức của họ. Vào thời điểm chiến tranh kết thúc năm 1763, không ai có thể chối cãi vai trò cường quốc của Phổ, chí ít là cường quốc quân sự. Người đương thời thán phục Friedrich Đại đế và các lực lượng hùng mạnh của ông, đồng thời Phổ trở thành một nhân tố không thể thiếu được trong nền ngoại giao châu Âu.[6] Ngoài ra, sự thôn tính một phần lãnh thổ Ba Lan cũng nâng cao vị thế của Phổ trên chính trường châu Âu.[11]

Trong khi ấy, vị thế của Pháp - do thảm bại trước quân đội Phổ do Friedrich Đại đế chỉ huy trong trận Roßbach[6], và trước Anh trong các trận chiến giành thuộc địa ở hải ngoại – bị sa sút. Uy tín quốc tế của Pháp bị tổn hại nghiêm trọng.[12] Sự khủng hoảng chính trị của Pháp tạo nên suy nghĩ rằng nước này không còn là cường quốc. Nội bộ Pháp chia rẽ, với những thất bại cá nhân của các vua Louis XVLouis XVI sau năm 1774.[13] Trong khi liên minh giữa Phổ và Nga năm 1764 đã mang lại tình hình ổn định cho Phổ, liên minh này đặt nền tảng cho Nga cùng với Phổ xâm chiếm Ba Lan, một chư hầu cũ của Pháp.[14] Việc tham chiến trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến Pháp càng suy yếu dưới bóng của Nga.[8]

Tuy nhiên, thuật ngữ "cường quốc" mới chỉ được sử dụng nhiều trong ngôn ngữ học thuật bắt đầu từ Đại hội Viên năm 1815.[15][16] Hội nghị thiết lập hòa bình tại châu Âu sau các cuộc chiến Napoleon. Hội nghị Viên có năm cường quốc: Vương quốc Anh, Đế quốc Áo, Phổ, Nga và Pháp. Đây chính là năm quốc gia hình thành nên những cường quốc đầu tiên theo nghĩa của thuật ngữ mà chúng ta hiểu ngày nay.[16] Các quốc gia khác như Tây Ban Nha, Bồ Đào NhaThụy Điển cũng được tham khảo ý kiến nhưng không phải là thành viên đầy đủ. Hannover, Bayern, và Württemberg cũng được lấy ý kiến tham khảo các vấn đề liên quan tới Đức.

Trong năm cường quốc tại Hội nghị Viên, chỉ còn Vương quốc Anh và Pháp là còn giữ được vị thế cường quốc cho tới ngày nay, mặc dù Pháp bị đánh bại nhanh chóng trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức và bị chiếm đóng trong Thế chiến II. Sau Hội nghị Viên, Đế quốc Anh nổi lên như một cường quốc nổi bật nhờ sự mở rộng lãnh và sức mạnh của hải quân. Cán cân sức mạnh trở thành một đề tài có tầm ảnh hưởng trong chính trị ở châu Âu. Qua thời gian, sức mạnh của các quốc gia này có những thay đổi, đầu thế kỷ 20 chứng kiến sự nổi lên của cán cân quyền lực mới. Một vài quốc gia như Vương quốc Anh và Phổ vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế và sức mạnh chính trị.[17] Các quốc gia khác, như NgaÁo-Hung trở nên trì trệ.[18] Trong khi đó, các quốc gia khác đang nổi lên và mở rộng sức mạnh nhờ quá trình công nghiệp hóa. Nổi bật nhất trong số đó là Nhật Bản sau thời kỳ Minh Trị Duy tânHoa Kỳ sau nội chiến, cả hai quốc gia này chỉ là cường quốc hạng thấp hồi năm 1815. Tới những năm đầu của thế kỷ 20, cán cân sức mạnh thay đổi đáng kể, Liên quân tám nước là một liên minh quân sự gồm tám quốc gia chống lại cuộc Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn ở Trung Quốc. Liên minh này thành lập năm 1900 gồm năm cường quốc tại Hội nghị Viên cộng thêm Ý, Nhật Bản và Hoa Kỳ, đại diện cho những cường quốc hàng đầu thế kỷ 20.[19]

Cường quốc trong chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Sự chuyển gia sức mạnh sau ra chủ yếu thông qua các cuộc xung đột,[20] kết quả của Thế chiến I và các Hiệp ước Versailles, St-Germain, và Trianon đã chứng kiến Vương quốc Anh, Pháp, Ý, Nhật Bản và Hoa Kỳ trở thành những nhà phán xét trật tự thế giới mới.[21] Sau Thế chiến I, Đế quốc Đức bị đánh bại, Đế quốc Áo-Hung bị chia thành các quốc gia yếu và nhỏ bé hơn trong khi Đế quốc Nga bị chìm trong một cuộc cách mạng. Trong Hiệp ước Versailles, Anh, Pháp, Hoa Kỳ nắm giữ nhiều quyền lực và ảnh hưởng hơn Nhật Bản và Ý.[22][23][24]

Khi Thế chiến II bùng nổ năm 1939, cuộc chiến được chia thành hai phe, phe Đồng minh (ban đầu gồm Anh và Pháp, sau đó là Liên Xô, Hoa Kỳ và Trung Quốc năm 1941) và phe Trục gồm Đức, Ý và Nhật Bản.[25][nb 1] Cuối Thế chiến II, Hoa Kỳ, Liên Xô và Anh Quốc nổi lên như những người chiến thắng. Pháp và Trung Quốc cũng được công nhận, các quốc gia này nắm giữ ghế thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Sau chiến tranh, thuật ngữ "siêu cường" bắt đầu xuất hiện. Đây là thuật ngữ mô tả các quốc gia có sức mạnh và tầm ảnh hưởng bao trùm. Từ này được đưa ra bởi William T.R. Fox năm 1944,[26] theo ông, có ba cường quốc là: Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Liên Xô. Tới cuối thập niên 1950, Đế quốc Anh mất vị thế siêu cường,[nb 2] siêu cường lúc này chỉ còn Hoa Kỳ và Liên Xô.

Trong thời Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản và các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp và Tây Đức xây dựng lại nền kinh tế. Pháp và Anh đến nay vẫn duy trì một lực lượng quân sự trang bị hiện đại với tiềm lực huy động mạnh và ngân sách quốc phòng lớn. Trung Quốc, với dân số lớn nhất thế giới, dần nổi lên trở thành siêu cương nhờ tốc độ tăng trưởng cao và sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng. Đến thập niên 1970, Trung Hoa Dân Quốc mất sự công nhận là chính quyền hợp pháp của Trung Quốc. Đến năm 1971 thì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức thay thế vị thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc của Trung Hoa Dân Quốc.

Sau chiến tranh Lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc được xem là các cường quốc mặc dù thực chất không có một sự nhất trí hay một định nghĩa về thế nào là cường quốc. Đây là năm quốc gia có ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và cũng là năm quốc gia được công nhận sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Dù không có ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an, Đức và Nhật Bản cũng được coi là các cường quốc bởi sức mạnh kinh tế và công nghệ.

Sau khi Liên Xô tan rã, ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an được chuyển cho Liên bang Nga năm 1991 với tư cách là nhà nước kế tục. Sự tan rã của Liên Xô đưa Hoa Kỳ trở thành siêu quốc duy nhất trên thế giới cho tới ngày nay. Nhưng kể từ năm 2008, khi kinh tế thế giới cùng Mỹ trên đà lao dốc, Trung Quốc đã nổi lên dần với hoài bảo giành lấy vị trí siêu cường số một của thế giới, và điều này đang đe dọa vị trí số một của Mỹ trên toàn cầu.[nb 3]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Even though the book: The Economics of World War II lists 7 great powers at the start of 1939 (the British Empire, the Empire of Japan, France, the Kingdom of Italy, Nazi Germany, the Soviet Union and the United States) This book focuses only on 6 of the 7 great powers that fought during World War II. This is because France surrendered shortly after the war began.
  2. ^ The 1956 Suez Crisis suggested that the United Kingdom, financially weakened by two world wars, could not then pursue its foreign policy objectives on an equal footing with the new superpowers without sacrificing convertibility of its reserve currency as a central goal of policy. – from superpower cited by Adam Klug and Gregor W. Smith, 'Suez and Sterling', Explorations in Economic History, Vol. 36, No. 3 (July 1999), pp. 181–203.
  3. ^ The fall of the Berlin wall and the breakup of the Soviet Union left the United States as the only remaining superpower in the 90's.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Webster, Charles K, Sir (ed), British Diplomacy 1813–1815: Selected Documents Dealing with the Reconciliation of Europe, G Bell (1931), p307.
  2. ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 137
  3. ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 112
  4. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 1-3.
  5. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 16-19.
  6. ^ a b c d Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 35-40.
  7. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 152
  8. ^ a b Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 253-256.
  9. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 20-27.
  10. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 85-99.
  11. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 176-177.
  12. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 56-63.
  13. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 70-76.
  14. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, các trang 109-116.
  15. ^ "World history, 1815-1920"
  16. ^ a b "When the Stakes Are High—Deterrence and Conflict among Major Powers"
  17. ^ “Multi-polarity vs Bipolarity, Subsidiary hypotheses, Balance of Power” (PPT). University of Rochester. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008.  [liên kết hỏng]
  18. ^ Tonge, Stephen; head of history at Catholic University School in Dublin. “European History Austria-Hungary 1870–1914. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008. 
  19. ^ Dallin, David (30 tháng 11 năm 2006). The Rise of Russia in Asia. Read Books. ISBN 9781406729191. 
  20. ^ Power Transitions as the cause of war.
  21. ^ Globalization and Autonomy by Julie Sunday, McMaster University.
  22. ^ MacMillan, Margaret (2003). Paris 1919. United States of America: Random House Trade. tr. 36, 306, 431. ISBN 0-375-76052-0. 
  23. ^ Boemeke, Manfred; Gerald D. Feldman, Elisabeth Glaser-Schmidt (1998). The Treaty of Versailles: 75 Years After. United States of America: Cambridge University Press. ISBN 0-521-62132-1. 
  24. ^ Paris 1919 by Margaret MacMillan has the Council of Five (Britain, France, Italy, Japan and the United States) as the main victors and remaining Great Powers.
  25. ^ Harrison, M (2000) The Economics of World War II: Six Great Powers in International Comparison, Cambridge University Press.
  26. ^ "The Superpowers"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, Longman, 2000. ISBN 0582017696.
  • The Tragedy of Great Power Politics by John J. Mearsheimer
  • Theory of International Politics by Kenneth N Waltz
  • World Politics: Trend and Transformation by Eugene R. Witkopf
  • The Rise and Fall of the Great Powers by Paul Kennedy
  • France and the Nazi Threat: The Collapse of French Diplomacy 1932–1939 by Jean-Baptiste Duroselle, Introduction by Anthony Adamthwaite (Enigma Books, ISBN 1-929631-15-4)