G20 (nhóm các nền kinh tế lớn)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhóm 20 Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng
Gọi tắt G-20
Tình trạng pháp lý đang hoạt động
Mục đính Đưa các nền kinh tế công nghiệp và đang phát triển quan trọng lại cùng nhau một cách có hệ thống để thảo luận các vấn đề quan trọng trong kinh tế toàn cầu.[1]
Thành viên  Argentina
 Úc
Flag of Brazil.svg Brasil
 Canada
 Trung Quốc
 Pháp
Flag of Germany.svg Đức
Flag of India.svg Ấn Độ
 Indonesia
Flag of Italy.svg Ý
 Nhật Bản
Flag of Mexico.svg México
 Nga
 Ả Rập Saudi
 Nam Phi
 Hàn Quốc
 Thổ Nhĩ Kỳ
 Anh Quốc
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ

 Liên minh Châu Âu
Số nhân viên Không[2]
Trang web http://www.g20.org/

G-20 là diễn đàn của 20 nền kinh tế lớn gồm 19 quốc gia có nền kinh tế lớn nhất (tính theo GDP (PPP)) và Liên minh Châu Âu (EU).

Thành lập từ năm 1999 và hiện chiếm 85% nền kinh tế thế giới, G20 bao gồm nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) là Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Pháp, Anh, ÝCanada cùng một số thành viên khác như Liên minh châu Âu (EU) và các nước Argentina, Úc, Brasil, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Nga, Ả Rập Saudi, Nam Phi, Hàn QuốcThổ Nhĩ Kỳ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

G20 đã manh nha trước cuộc họp thượng đỉnh Cologne của [G7] năm 1999, nhưng được thành lập chính thức ở hội nghị Bộ trưởng Tài chính G7 vào ngày 26-9-1999. Các hội nghị ra mắt diễn ra vào ngày 15-16 tháng 12-1999 ở [Berlin]. Năm 2008, Tây Ban Nha và Hà Lan được Pháp mời tham gia.[3]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

G-20 hoạt động mà không có ban thư ký hay nhân viên thường xuyên. Ghế chủ tịch luân chuyển hàng năm giữa các thành viên và được chọn từ nhóm các quốc gia khu vực khác nhau. Ghế chủ tịch là một phần của nhóm quản lý 3 thành viên xoay tròn gồm chủ tịch quá khứ, hiện tại và tương lai, được nói tới như là Troika. Chủ tịch đương nhiệm lập ra ban thư ký lâm thời trong suốt nhiệm kỳ của mình để phối hợp công việc của nhóm và tổ chức các cuộc họp của nhóm. Vai trò của Troika là đảm bảo sự liên tục trong công việc của G-20 và quản lý trong những năm làm chủ nhà.

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến giữa những năm 1990, [G7] (và sau đó là [G8]) vẫn là nơi bàn thảo các vấn đề quan trọng nhất của thế giới, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua và sự tan chảy của thị trường toàn cầu khiến hệ thống toàn cầu chấn động mạnh hơn bất cứ thứ gì theo sau sự sụp đổ của Liên Xô. Hồi tháng 9-2008, những lo ngại rằng nền kinh tế toàn cầu đang đứng trên bờ vực thảm họa đã thúc đẩy sự thay đổi đột ngột từ G8 sang G20, một cơ chế bao gồm các nền kinh tế phát triển nhất thế giới và các nước thị trường mới nổi quan trọng nhất, vốn là thành viên của G77. Vì vậy, G20 từng được ví von là kết tinh của G7 và G77. Những kỳ họp đầu tiên của cơ chế mới G20 ở Washington vào tháng 11-2008 và ở London hồi tháng 4-2009 cho ra đời một thỏa thuận mở rộng hợp tác tiền tệ và tài chính, tăng ngân sách cho Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và đưa ra những luật mới cho các định chế tài chính.

Chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

Khi cuộc khủng hoảng hiện nay dần trôi qua, nhu cầu và mối quan tâm của nhóm các nước giàu và các nước mới nổi bắt đầu khác biệt,sự chia rẽ lợi ích giữa các nước và nhóm nước trong G20 ngày càng lộ rõ và làm giới chuyên môn lo ngại sẽ có một ngày G20 sẽ tiến đến chỗ "có cũng được, không có cũng không sao".[4]

Các thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Số thứ tự Tên quốc gia
1 Argentina
2 Úc
3 Brazil
4 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
5 Canada
6 Trung Quốc
7 Pháp
8 Đức
9 Ấn Độ
10 Indonesia
11 Ý
12 Nhật Bản
13 Mexico
14 Nga
15 Ả Rập Saudi
16 Nam Phi
17 Hàn Quốc
18 Thổ Nhĩ Kỳ
19 Hoa Kỳ
20 Liên minh Châu Âu

Hội nghị[sửa | sửa mã nguồn]

Hội nghị của G20 bao gồm các hội nghị thường niên cấp bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương và hội nghị thượng đỉnh của các nguyên thủ quốc gia G20 (tên chính thức là Hội nghị thượng đỉnh G20 về thị trường tài chính và kinh tế thế giới).

Hội nghị cấp bộ trưởng và thống đốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hội nghị thượng đỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Nước chủ nhà Thành phố Website
1st[5] tháng 11 năm 2008  United States Washington, D.C.
2nd[5] tháng 4 năm 2009  United Kingdom Luân Đôn [1]
3rd[5] tháng 9 năm 2009  United States Pittsburgh [2]
4th[6] tháng 6 năm 2010  Canada Toronto [7]
5th[8] tháng 11 năm 2010  South Korea Seoul [3]
6th[9] tháng 11 năm 2011[10]  France Cannes [4]
7th[11] tháng 6 năm 2012[12]  México Los Cabos [5]
8th[13] tháng 9 năm 2013  Russia Sankt-Peterburg [6]
9th[13] tháng 11 năm 2014  Australia Brisbane
10th[13] 2015  Thổ Nhĩ Kỳ TBA

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới G20 tại Wikimedia Commons

  1. ^ FAQ #5: What are the criteria for G-20 membership? từ website chính thức của G-20
  2. ^ G-20 Membership từ website chính thức của G-20
  3. ^ http://en.wikipedia.org/wiki/G-20_major_economies#History G20 History
  4. ^ Our G-Zero World by Nouriel Roubin
  5. ^ a ă â "The G-20 Leaders Summit on Financial Markets and the World Economy". G-20 Information Centre. University of Toronto. 2008. Retrieved 3 December 2012.
  6. ^ Canada (25 tháng 9 năm 2009). “Canada to host 'transition' summit in 2010”. Toronto: Theglobeandmail.com. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  7. ^ “The Group of 20: The premier forum for international economic cooperation”. Canadainternational.gc.ca. 27 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  8. ^ “Korea to Host G20 in November”. The Korea Times. 25 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2009. 
  9. ^ “French G20 summit to be November 2011 in Cannes”. Business Recorder. 12 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  10. ^ "Cannes albergará próxima cumbre del G20 en noviembre de 2011". AFP via Emol.com. 12 November 2010. Retrieved 16 June 2013.
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên mexico2012
  12. ^ Los Cabos to Host G20 Summit in 2012. PRNewswire.com. Retrieved 3 December 2011.
  13. ^ a ă â “French G20 LEADERS SUMMIT – FINAL COMMUNIQUÉ”. G20-G8. 4 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2011.