Thủ tướng Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nội các Tổng lý Đại thần
内閣総理大臣
Naikaku sōri daijin
Emblem of the Prime Minister of Japan.svg
Huy hiệu chính thức của Nội các Tổng lý Đại thần
Trụ sở Tổng lý Đại thầnh Quan để
Bổ nhiệm bởi Nghị viện Nhật BảnThiên hoàng
Nhiệm kỳ Tổng tuyển cử 5 năm một lần (có thể sớm hơn). Không giới hạn số nhiệm kỳ. Thông thường lãnh đạo đảng cầm quyền sẽ trở thành Nội các Tổng lý Đại thần.
Người đầu tiên
giữ chức
Itō Hirobumi
Thành lập 22 tháng 12 năm 1885
Website www.kantei.go.jp
Flag of Japan.svg   Chính trị Nhật Bản   Go-shichi no kiri crest 2.svg
Hiến pháp
Nhân quyền
Thiên hoàng
Thiên hoàng (Danh sách)
Akihito
Hoàng gia Nhật Bản
Lập pháp
Quốc hội
Hạ viện
Thượng viện
Hành pháp
Thủ tướng (Danh sách)
Noda Yoshihiko
Nội các
Bộ trưởng (Nhật Bản)
 ・Chính phủ Nhật Bản
Tư pháp
Tòa án
Tòa án Nhật Bản
Tòa án tối cao (Nhật Bản)
Tòa án địa phương (Nhật Bản)
Tự chủ địa phương
Lập pháp
Đơn vị hành chính địa phương (Nhật Bản)
Hội đồng địa phương
Hành pháp
Thủ trưởng
Quốc dân
Lập pháp
Bầu cử ở Nhật Bản
Hành pháp
Chính đảng Nhật Bản
Đảng Dân chủ (Nhật Bản)
Đảng Dân chủ Tự do (Nhật Bản)
Đảng Dân chủ Xã hội (Nhật Bản)
Đảng Kōmeitō
Đảng Cộng sản (Nhật Bản)
Đảng Xã hội Dân chủ (Nhật Bản)
Đảng Tân tiến
Tân Đảng Nhật Bản
Chính trị cực đoan

Nội các tổng lý đại thần (内閣総理大臣, Naikaku sōri daijin) là tên gọi của chức danh của người đứng đầu Nội các của Nhật Bản hiện nay; có nhiệm vụ và quyền hạn tương đương với chức Thủ tướng của một quốc gia quân chủ lập hiến. Nội các Tổng lý Đại thần do Thiên hoàng phê duyệt việc bổ nhiệm sau khi được đề cử bởi Quốc hội từ các thành viên, và phải được sự tín nhiệm của Hạ viện để tồn tại ở vị trí này. Tên Nội các tổng lý đại thần của Thủ tướng có nghĩa là người đứng đầu Nội các và chỉ định hoặc bãi miễn các Bộ trưởng. Người hiện thay quyền chức vụ này là Abe Shinzō.

Ở các quốc gia khác và ở Việt Nam, chức vụ này vẫn thường được gọi là Thủ tướng Nhật Bản hay gọi tắt là Thủ tướng.

Mục lục

Đề cử[sửa]

Nội các tổng lý đại thần được đề cử bởi cả hai viện của Quốc hội Nhật Bản. Cho việc đó, mỗi viện tiến hành một cuộc bầu cử dưới hệ thống hai vòng bầu cử. Nếu cả hai viện chọn ra hai người khác nhau, thì một ủy ban hỗn hợp từ hai viện sẽ được cử ra để đồng ý một ứng cử viên chung. Tuy nhiên nếu cả hai viện đều không đồng ý trong mười ngày thì cuối cùng quyết định của Hạ viện sẽ được ưu tiên. Do đó, trên lý thuyết Hạ viện là cơ quan có tiếng nói cuối cùng trong việc quyết định người được đề cử nắm giữ cái ghế Tổng lý Đại thần.

Nội các tổng lý đại thần phải từ chức nếu như Hạ viện thông qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm hoặc thất bại trong một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm, ngoại trừ Hạ viện bị giải tán trong vòng 10 ngày. Nội các tổng lý đại thần cũng phải từ chức sau mỗi lần tổng tuyển cử Hạ viện, ngay cả trường hợp đảng của ông chiếm đa số trong viện. Văn phòng Nội các tổng lý đại thần theo truyền thống được nắm giữ bởi người đứng đầu đảng chiếm đa số trong quốc hội ngoại trừ trường hợp hiếm hoi của Tsutomu Hata hay là Tomiichi Murayama.

Vai trò[sửa]

Vai trò của Nội các tổng lý đại thần được quy định trong Hiến pháp Nhật Bản được thông qua vào năm 1947.

  • "Điều khiển và giám sát" các bộ phận thuộc hành pháp.
  • Chủ tọa các buổi họp của Chính phủ.
  • Đề cử và bãi miễn các Bộ trưởng.
  • Cho phép việc thi hành pháp luật đối với các Bộ trưởng.
  • Đồng ký tên, cùng với các bộ trưởng tương ứng, các luật và chỉ thị của chính phủ.
  • Tổng tư lệnh của các Lực lượng Phòng thủ.

Các dấu hiệu[sửa]

Lịch sử[sửa]

Sau cuộc Minh Trị Duy tân, hệ thống Thái chính quan, được sử dụng trong giai đoạn Nara, được sử dụng như là một chính thể của nhà nước Nhật Bản. Các thế lực chính trị của người đứng đầu của họ, Thái Chính Đại Thần và những người cận vệ của ông, Tả Đại thầnNội Đại thần mang đầy tham vọng là thường xuyên mâu thuẫn với các vị trí khác như là Sangi. Trong những năm 1880, Itō Hirobumi, lúc đó là một trong các Sangi, bắt đầu xem xét việc cải cách các tổ chức nhà nước. Vào năm 1882, Ito và những người nhân viên của ông, Ito MiyojiSaionji Kinmochi, công du tới châu Âu và nghiên cứu các hiến pháp trong các nước quân chủ lập hiến, Đế quốc AnhĐế quốc Đức. Sau khi quay trở về Nhật, Ito vận động lập ra một Hiến pháp và một hệ thống nhà nước hiện đại và thuyết phục những thế lực bảo thủ ủng hộ dự định của ông.

Vào 22 tháng 12 1885, Sắc lệnh Thái chính quan số 69 được ban hành, bãi bỏ hệ thống Thái chính quan và thiết lập chức vụ Nội các Tổng lý Đại thần (内閣総理大臣) - tức Thủ tướng Nhật Bản - cùng với Nội các Nhật Bản.

Văn phòng chính thức[sửa]

Kantei, Nơi ở chính thức của Thủ tướng

Văn phòng chính thức của Nội các tổng lý đại thần được gọi là Tổng lý Đại thần Quan để (総理大臣官邸) hay gọi tắt là "Quan để". Địa điểm của nơi này nguyên gốc được sử dụng từ 1929 đến 2002. Về sau, một tòa nhà mới được xây dựng và trở thành văn phòng mới của Nội các tổng lý đại thần vào năm 2002. Văn phòng cũ của Nội các tổng lý đại thần được chuyển thành một nơi ở mới cho quan chức với tên gọi Công để.

Các cựu Nội các tổng lý đại thần vẫn còn sống[sửa]

Xem thêm[sửa]

Liên kết ngoài[sửa]

Phương tiện liên quan tới Prime ministers of Japan tại Wikimedia Commons

 · S. Abe

(t) tạm thời }}