Viêm phổi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Viêm phổi
Phân loại và tư liệu bên ngoài


Hình X quang vùng ngực thể hiện viêm phổi do vi khuẩn có dạng hình nêm rất rõ ở phổi phải.

DiseasesDB = 10166
ICD-10 J12., J13., J14., J15., J16., J17., J18., P23.
ICD-9 480-486, 770.0
eMedicine topic list
MeSH C08.381.677

Viêm phổi là tình trang phổi bị viêm, ảnh hưởng chủ yếu đến các túi khí nhỏ được gọi là phế nang.[1][2] Viêm phổi thường gây ra bởi hiện tượng nhiễm trùng do virus hoặc vi khuẩn, và các vi sinh vật khác ít phổ biến hơn[1][3]

Các triệu chứng thường gặp như cảm, đau ngực, sốt, và khó thở.[4]

Viêm phổi ảnh hưởng khoảng 450 triệu người trên toàn cầu mỗi năm, và làm khoảng 4 triệu tử vong, hầu hết là ở thế giới thứ 3. Trong thế kỷ 19, viêm phổi đã được William Osler xem là "the captain of the men of death",[5] sự ra đời của điều trị kháng sinh và vắc-xin trong thế kỷ 20 đã cứu rất nhiều người.[6] Tuy vậy, ở các nước đang phát triển, và trong số người rất già, rất trẻ, và bệnh mãn tính, viêm phổi vẫn là nguyên nhân tử vong hàng đầu.[6][7]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Viêm Phổi

Viêm phổi có thể do biến chứng từ bệnh sởi, ho gà, cúm, viêm phế quản, hen hoặc bất kì bệnh nặng nào khác [8]. Trong các bệnh sưng phổi, nhiều nhất là do vi trùng Pneumococcus. Ngoài ra còn có thể do vi trùng (bacteria) khác, siêu vi trùng (virus), có khi do ký sinh trùng (parasites), hoặc loài nấm (fungus).

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thở nhanh, nông đôi khi thở rít và cánh mũi phập phồng.
  2. Ho: Thường có đờm vàng, có thể dính máu.
  3. Có thể đau ngực.
  4. Trẻ em em đang bị ốm nặng mà thở nông trên 50 lần/1 phút là có thể đang bị viêm phổi.

Dịch tễ học[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ thế giới với màu đỏ tối ở châu Phi, màu cam ở một vài nơi thuộc châu Á và Nam Mỹ, và màu vàng ở châu Âu và Bắc Mỹ
Tỉ lệ tử theo tuổi điều chỉnh: Nhiễm trùng đường hô hấp dưới trên 100.000 dân năm 2004.[9]

   không dữ liệu

   <100

   100–700

   700–1400

   1400–2100

   2100–2800

   2800–3500

   3500–4200

   4200–4900

   4900–5600

   5600–6300

   6300–7000

   >7000

Viêm phổ là bệnh phổ biến ảnh hưởng khoảng 450 triệu người trên khắp toàn cầu.[6] Đây là căn bệnh gây tử vong ở mọi nhóm tuổi với số ca lên đến 4 triệu người, chiếm 7% dân số thế giới mỗi năm.[6][10] Tỉ lệ này lớn nhất ở trẻ dưới 5 tuổi, và người già hơn 75 tuổi.[6] Nó xuất hiện nhiều gấp 5 ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển.[6] Số ca viêm phổ do virus chiếm khoảng 200 triệu.[6] Ở Hoa Kỳ, đến năm 2009, viêm phổi là bệnh gây tử vong xếp thứ 8.[11] Có 4 triệu người bị sưng phổi mỗi năm, phần lớn là do Pneumococcus trong đó khoảng 40.000 người chết. Nó là một trong những nguyên nhân nhập viện hàng đầu của người trên 65 tuổi. Những người đang mang sẵn các tật bệnh khiến sức đề kháng của cơ thể suy giảm (chẳng hạn như bệnh AIDS, bệnh thận,...) cũng dễ bị sưng phổi Pneumococcus.[12]

Trẻ em[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, viêm phổ ở trẻ em khoảng 156 triệu ca (151 triệu ở các nước đang phát triển và 5 triệu ở các nước phát triển).[6] Năm 2010, nó làm 1,3 triệu trẻ tử vong, hay 18% tổng số ca tử vong đối với trẻ dưới 5 tuổi, trong đó 95% xảy ra ở các nước đang phát triển.[6][13][14] Các quốc gia chịu bệnh này nặng nhất như: Ấn Độ (43 triệu), Trung Quốc (21 triệu) và Pakistan (10 triệu).[15] Nó gây tử vong hành đầu trong trẻ em ở các nước có thu nhập thấp.[6][10] Nhiều trong số các ca tử vong này xảy ra trong thời kỳ sơ sinh. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính cứ một trong 3 trẻ sơ sinh chết vì viêm phổi.[16] Khoảng nửa trong số các ca tử vong này có thể ngăn chặn được, vì chúng có thể gây ra bởi vi khuẩn, nếu tác nhân này thì ta có thể dùng vắc-xin để giảm thiểu.[17]

Biến chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ phổi, vi trùng Pneumococcus có thể vào máu, gây nhiễm trùng máu (bacteremia), rồi theo máu đến gieo họa tới các cơ quan khác (màng não, tim, khớp...). Một khi nhiễm trùng máu hoặc sưng màng não xảy ra, tử vong sẽ rất cao.

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

A: Phổi bình thường
B: Phổi bên phải bị viêm
  1. Phải dùng kháng sinh như: penixilin, sunphamit.
  2. Trường hợp nặng: Tiêm penixilin procain: Người lớn tiêm ngày 2 đến 3 lần mỗi lần 400 000 đơn vị. Hay tiêm ampixilin: người lớn ngày tiêm 4 lần, mỗi lần 500 mg. Trẻ nhỏ dùng liều bằng 1/2 đến 1/4 lần người lớn.
  3. Hạ nhiệt và giảm đau: dùng aspirin, axetaminophen,
  4. Cho uống nhiều nước hoặc hít hơi nước nóng.
  5. Nếu không ăn được: cho ăn thức ăn lỏng.
  6. Nếu người ốm thở rít: dùng thuốc hen như teophylin hoặc ephedrin.[18]

Tiêm chủng Vắc-xin[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện chích ngừa là một cách tốt để phòng bệnh sưng phổi gây do vi trùng Pneumococcus. Theo Viện Cao niên Quốc gia (National Institute of Aging) tại Hoa Kỳ, thuốc vắc-xin sưng phổi Pneumococcus (pneumococcal vaccine) hữu hiệu, tài trợ bởi chương trình Medicare, nhưng tính ra, rất nhiều vị có tuổi hoặc đang mang những bệnh nặng chưa chích ngừa. Chỉ tiêu từ các năm qua, từ năm 2000, Cơ quan Y tế Công cộng (Public Health Service) hy vọng trên toàn nước Mỹ số người được chích ngừa phải là trên 60%.

Vi trùng Pneumococcus có nhiều dòng, tuy cùng một giống. Thuốc ngừa sưng phổi Pneumococcus chứa những chất lấy từ 23 dòng vi trùng Pneumococcus khác nhau. Thuốc chích vào người để kích thích cơ thể ta tạo các kháng thể (antibodies) chống lại những dòng vi trùng này.

Đa số người khỏe mạnh chúng ta, 2-3 tuần sau khi chích ngừa, trong người sẽ có kháng thể chống lại hết hay hầu hết các dòng vi trùng này, giúp ta tránh được bệnh sưng phổi gây do chúng (kết quả bảo vệ 85-95%). Người lớn tuổi và nhiều người đang mang một số bệnh kinh niên không tạo được kháng thể tốt như người còn trẻ khỏe, nên sự bảo vệ của thuốc có kém hơn. Trẻ em dưới 2 tuổi cũng thế.

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Tật bệnh (Centers for Disease Control and Prevention) đề nghị các bác sĩ chích ngừa sưng phổi Pneumococcus cho những quí vị thuộc các thành phần sau đây, có thể nguy đến tính mạng nếu bị sưng phổi Pneumococcus:

Trên nguyên tắc, một mũi thuốc ngừa sẽ bảo vệ ta suốt đời, song những vị sau đây nên được chích ngừa lại sau 5 năm, do sự bảo vệ nhạt dần theo thời gian:

  1. không còn lá lách (hoặc lá lách bệnh, không làm việc đàng hoàng);
  2. bệnh thận;
  3. hội chứng thận hư (nephrotic syndrome: thận không giữ được chất đạm, khiến chất đạm cứ thất thoát ra nước tiểu);
  4. thay ghép cơ quan;
  5. bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (chronic obstructive pulmonary disease) do hút thuốc lá;
  6. tuổi trên 65, lần chích trước, nếu có, đã quá 5 năm rồi.

Sau khi chích ngừa, thường ta chỉ hơi đau và đỏ một chút nơi chỗ chích. Có người bị đau, đỏ nhiều hơn, có khi nóng sốt và nhức mỏi các bắp thịt (dưới 1% các trường hợp chích ngừa). Thỉnh thoảng có người bị phản ứng nặng (anaphylaxis), gây tình trạng trụy tim mạch (khoảng 5/1.000.000 người có phản ứng nặng).

Năm 2005, thuốc chích ngừa cúm hiếm tại Hoa Kỳ (vì hãng thuốc Chiron của Anh Quốc cung cấp đến nửa số thuốc chích ngừa cúm cho địa phương)[19]; điều này có thể làm làm tăng trường hợp sưng phổi Pneumococcus trong năm 2006 và sau đó.

Lịch trình chủng ngừa tại Úc sửa

Tuổi HBV Tet Diph Pert Polio HIB Pnm* ROT MMR Men Var Flu Ghi chú
Mới sinh X 'HBV: Viêm gan siêu vi B;
Tet: Bệnh uốn ván ;
Diph: Bệnh bạch hầu;
Pert: Bệnh ho gà;
Polio: Bệnh viêm tủy xám;
HIB: Viêm màng não do Hemophilus influenzae B;
Pnm* (loại 7vPCV) : Viêm màng não do Pneumococcus (trẻ em);
Pnm* (loại 23vPPV): Viêm phổi do Pneumococcus (người lớn tuổi);
ROT: Tiêu chảy do Rotavirus
MMR: Bệnh sởi, Quai bịSởi Đức;
Men: Viêm màng não do Meningococcus
Var
Bệnh thủy đậu;
Flu: Bệnh cúm
2 tháng X X X X X X X X
4 tháng X X X X X X X X
6 tháng X X X X X X X
12 tháng X X
18 tháng X
4 tuổi X X X X X
10-13 tuổi X X
15-17 tuổi X X X
Trên 64 tuổi X X

Nguồn: Trung tâm chủng ngừa Úc

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă McLuckie, [editor] A. (2009). Respiratory disease and its management. New York: Springer. tr. 51. ISBN 978-1-84882-094-4. 
  2. ^ Leach, Richard E. (2009). Acute and Critical Care Medicine at a Glance (ấn bản 2). Wiley-Blackwell. ISBN 1-4051-6139-6. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2011. 
  3. ^ Jeffrey C. Pommerville (2010). Alcamo's Fundamentals of Microbiology (ấn bản 9). Sudbury MA: Jones & Bartlett. tr. 323. ISBN 0-7637-6258-X. 
  4. ^ Ashby, Bonnie; Turkington, Carol (2007). The encyclopedia of infectious diseases (ấn bản 3). New York: Facts on File. tr. 242. ISBN 0-8160-6397-4. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2011. 
  5. ^ Osler, William (1901). Principles and Practice of Medicine, 4th Edition. New York: D. Appleton and Company. tr. 108. 
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g Ruuskanen, O; Lahti, E; Jennings, LC; Murdoch, DR (9 tháng 4 năm 2011). “Viral pneumonia”. Lancet 377 (9773): 1264–75. doi:10.1016/S0140-6736(10)61459-6. PMID 21435708. 
  7. ^ George, Ronald B. (2005). Chest medicine: essentials of pulmonary and critical care medicine (ấn bản 5). Philadelphia, PA: Lippincott Williams & Wilkins. tr. 353. ISBN 9780781752732. 
  8. ^ Viêm phổi www.cimsi.org.vn
  9. ^ “WHO Disease and injury country estimates”. World Health Organization (WHO). 2004. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  10. ^ a ă Kabra SK; Lodha, R; Pandey, RM (2010). “Antibiotics for community-acquired pneumonia in children”. Trong Kabra, Sushil K. Cochrane Database Syst Rev 3 (3): CD004874. doi:10.1002/14651858.CD004874.pub3. PMID 20238334. 
  11. ^ Nair, GB; Niederman, MS (tháng 11 năm 2011). “Community-acquired pneumonia: an unfinished battle”. The Medical clinics of North America 95 (6): 1143–61. doi:10.1016/j.mcna.2011.08.007. PMID 22032432. 
  12. ^ Pneumococcal pneumonia in adults patients.uptodate.com
  13. ^ Singh, V; Aneja, S (tháng 3 năm 2011). “Pneumonia — management in the developing world”. Paediatric respiratory reviews 12 (1): 52–9. doi:10.1016/j.prrv.2010.09.011. PMID 21172676. 
  14. ^ Liu, L; Johnson, HL; Cousens, S; Perin, J; Scott, S; Lawn, JE; Rudan, I; Campbell, H; Cibulskis, R; Li, M; Mathers, C; Black, RE; Child Health Epidemiology Reference Group of WHO and, UNICEF (2012 Jun 9). “Global, regional, and national causes of child mortality: an updated systematic analysis for 2010 with time trends since 2000.”. Lancet 379 (9832): 2151–61. doi:10.1016/S0140-6736(12)60560-1. PMID 22579125. 
  15. ^ Rudan, I; Boschi-Pinto, C; Biloglav, Z; Mulholland, K; Campbell, H (tháng 5 năm 2008). “Epidemiology and etiology of childhood pneumonia”. Bulletin of the World Health Organization 86 (5): 408–16. doi:10.2471/BLT.07.048769. PMC 2647437. PMID 18545744. 
  16. ^ Garenne M; Ronsmans, C; Campbell, H (1992). “The magnitude of mortality from acute respiratory infections in children under 5 years in developing countries”. World Health Stat Q 45 (2–3): 180–91. PMID 1462653. 
  17. ^ WHO (1999). “Pneumococcal vaccines. WHO position paper”. Wkly. Epidemiol. Rec. 74 (23): 177–83. PMID 10437429. 
  18. ^ Xử trí viêm phổi www.cimsi.org.vn
  19. ^ Flu vaccine shortage could cost U.S. $20 billion www.usatoday.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]