Viêm họng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Viêm họng
Phân loại và tư liệu bên ngoài

Triệu chứng của bệnh viêm họng do virus.
Phần miệng-hầu bị sưng phồng và đỏ tấy lên.
ICD-10 J02., J31.2
ICD-9 462, 472.1
DiseasesDB 24580
MedlinePlus 000655
eMedicine emerg/419
MeSH D010612

Viêm họng là bệnh mà khi đó họnghầu bị viêm [1]. Trong phần lớn các trường hợp viêm họng làm cổ họng người bệnh sưng, đỏ, rất đau và bệnh tình có thể kéo dài. Viêm họng là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đau họng.

Giống như các loại bệnh viêm khác, viêm họng có thể là cấp tính hay mạn tính. Viêm họng có thể dẫn đến viêm amiđan khiến việc thở và nuốt gặp khó khăn. Viêm họng có thể đi kèm với hosốt, ví dụ như trong trường hợp nguyên nhân của nó là nhiễm trùng phần trên của đường hô hấp.

Phần lớn các trường hợp viêm họng do virus gây ra (40–80%), phần còn lại là do vi khuẩn, nấm hay các chất kích thích như chất gây ô nhiễm hay hóa chất.[2] Đối với trường hợp mầm bệnh là virus, cách điều trị thường chủ yếu là điều trị làm giảm các triệu chứng viêm, sốt, ho... còn trong trờng hợp mầm bệnh là nấm hay vi khuẩn thì có thể điều trị bằng các thuốc kháng sinh hay thuốc trị nấm.

Bệnh viêm họng theo Đông Y[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân có nhiều, ở đây ta nghiên cứu 2 loại thường gặp là do nhiệt độc của phế vị xông lên và nhiễm khí độc của dịch lệ:

1. Do nhiệt độc:

  • Triệu chứng:

Có ho sốt nhẹ, nuốt thấy vướng mắc ở cổ họng, hoặc cảm thấy hơi đau.

  • Điều trị:

- Thuốc: ô mai: 2g, Sài đất: 4g, Húng chanh: 2g. Sắc ngậm nuốt dần, hoặc giã sống ngậm nuốt nuốt dần.

- Châm cứu: hợp cốc (châm tả, Thiếu dương (thích huyết), Thiên trụ (bình bổ bình tả lưu kim 15')

2. Nhiễm khí độc:

  • Triệu chứng: Bệnh phát nhanh, sốt cao và đột ngột tiếng không trong, ho tiếng nặng, trong họng có tiếng như kéo cưa, chân tay hơi lạnh, họng đỏ không có mảng trắng; Rêu lưỡi dày vàng, chất lưỡi đỏ.
  • Điều trị:

- Thuốc: Sơn đậu căn: 9g; Cam thảo dây: 6g; Củ rẻ quạt: 8g; Sài đất: 20g.

- Nước 400ml sắc lấy 150 ml. Mỗi lần cho uống 1-2 thìa cà phê, cách nửa giờ cho uống 1 lần.

- Châm cứu: Dùng các huỵêt trên, nhưng tăng cường độ và thời gian.

Phòng bệnh viêm họng[sửa | sửa mã nguồn]

- Về mùa lạnh và những khi có dịch khí lan tràn, cần mặc ấm và xoa dầu vào mũi trước khi đi ra ngoài để tránh khí lạnh và dịch khí theo đường mũi và miệng vào cơ thể gây bệnh.

Chú ý: Chứng viêm họng có màng trắng và có hạch ở cổ tức là bệnh bạch cầu, cần chuyển bệnh nhân tới cơ sở có khả nằng điều trị.

Vị thuốc dân gian chữa bệnh viêm họng[sửa | sửa mã nguồn]

Húng chanh là cây thân thảo, sống lâu năm. Lá và ngọn non ngoài việc dùng làm rau gia vị, còn được sử dụng như một vị thuốc giúp trị cảm cúm, sốt cao, chảy máu cam, viêm họng, khản tiếng… - Chữa cảm cúm, ho, viêm họng, khản tiếng: Lá húng chanh non 5-10g giã nát vắt lấy nước cốt nóng. Hoặc đem giã nhỏ một nắm lá (15-20g), thêm nước, vắt lấy nước uống làm 2 lần trong ngày. Đối với trẻ em, thêm ít đường, đem hấp cơm cho uống làm 2-3 lần

2. Rẻ quạt (xạ can) chữa viêm họng: Rẻ quạt có vị đắng, tính mát, thanh nhiệt, giải độc, tiêu đờm, tiêu viêm, mát cổ họng, được dùng để chữa các bệnh về họng như ho, viêm họng, đau họng, khản tiếng. Rẻ quạt, còn có tên xạ can (tên khoa học là Belamcanda chinensis (DC) Red.), là một cây thảo sống dai thuộc họ Lay-ơn (Iridaceae). + Trị ho: trong họng có nước khò khè như gà kêu: Rẻ quạt 13 củ, Ma hoàng 120g, Sinh khương 120g, Tế tân, Tử uyển, Khoản đông hoa đều 90g, Ngũ vị tử ½ thăng, Đại táo 7 trái, Bán hạ(chế). Sắc Ma hoàng với 1 đấu 2 thăng nước cho sôi, vớt bỏ bọt, cho các vị kia vào nấu còn 3 thăng, chia làm 3 lần, uống ấm.[cần dẫn nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "pharyngitis" tại Từ điển Y học Dorland
  2. ^ Acerra JR. “Pharyngitis”. eMedicine. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.