Xơ gan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xơ gan
Phân loại và tư liệu bên ngoài

Micrograph showing cirrhosis. Trichrome stain.
ICD-10 K70.3, K71.7, K74.
ICD-9 571
DiseasesDB 2729
eMedicine med/3183 radio/175
MeSH D008103

Xơ gan là một bệnh gan mạn tính được đặc trưng bởi sự thay thế mô gan bằng mô xơ, sẹo và sự thành lập các nốt tân sinh[1][2][3] dẫn đến mất chức năng gan. Các nguyên nhân thường gây ra xơ gan bao gồm nghiện rượu, viêm gan siêu vi BC, và bệnh gan nhiễm mỡ.


Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu, xơ gan thường không có triệu chứng, về sau tùy thuộc từng mức độ có các biểu hiện của hội chứng suy tế bào gan, hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa, bệnh nhân mệt mỏi, kém ăn, vàng da, da sạm, dễ chảy máu cam, chảy máu chân răng, phù, cổ trướng, suy giảm chức năng tình dục..., nặng hơn có những triệu chứng của biến chứng như nôn ra máu và đi ngoài phân đen do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, hôn mê gan, suy thận, các biểu hiện nhiễm khuẩn hoặc do xơ gan ung thư hóa...

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Viêm gan do vi rút.
  2. Nhiễm bệnh hấp huyết trùng (gặp nhiều ở Trung Quốc).
  3. Dinh dưỡng kém và nghiện rượu.
  4. Suy tim.
  5. Viêm xơ háo đường mật nguyên phát.
  6. Nhiễm độc hóa chất như Thạch tín... Hoặc do tắc mật kéo dài gây xơ gan, thường rất ít gặp.

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Không có cách điều trị xơ gan, nhưng loại bỏ những nguyên nhân có thể làm bệnh diễn tiến chậm lại. Nếu tổn thương không quá nặng, gan có thể tự lành theo thời gian.

Phòng ngừa[sửa | sửa mã nguồn]

Để phòng tránh căn bệnh này, hạn chế bia rượu, tiêm phòng các loại virus viêm gan B, C, D là những biện pháp tối thiểu. Khi đã bị viêm gan, bệnh nhân cần kiểm tra định kỳ để phát hiện và điều trị sớm.

Còn khi đã được chẩn đoán xơ gan, cần kiểm soát, theo dõi và điều trị nguyên nhân dẫn tới xơ gan

Dịch tễ học[sửa | sửa mã nguồn]

DALY (Disability-adjusted life year)đối với bệnh xơ gan/100.000 dân năm 2004.[4]

   no data

   less than 50

   50-100

   100-200

   200-300

   300-400

   400-500

   500-600

   600-700

   700-800

   800-900

   900-1000

   more than 1000

Bệnh gan mãn tính và sơ gan là nguyên nhân gây tử vong xếp hàng thứ 10 ở Hoa Kỳ đối với đàn ông và thứ 12 đối với phụ nữ năm 2001, khoảng 27.000 người chết mỗi năm.[5]

Tỉ lệ tử vong của người mắc bệnh xơ gan là 34-66% trong vòng 10 năm, phần lớn phụ thuộc vào nguyên nhân gây xô gan; xơ gan do rượu có tiên lượng xấu hơn xơ gan mật và xơ gan do viêm gan. Nguy cơ tử vong do tất cả các nguyên nhân trên tăng gấp 12 lần; nếu loại trừ những hậu quả trực tiếp của bệnh gan, thì nguy cơ tử vong vẫn tăng gấp 5 lần.[6]

Có ít thông tin về các tác nhân điều biến của nguy cơ xơ gan, một phần từ các bệnh khác gây tổn thương gan (như kết hợp giữa bệnh gan liên quan đến rượu và viêm gan mãn tính do siêu vi, chúng có thể đóng vai trò kết hợp dẫn đến xơ gan). Các nghiên cứu gần đây đề nghị rằng dùng càfê có thể chống xơ gan, đặc biệt đối với xơ gan do rượu.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Cirrhosis – MayoClinic.com”. 
  2. ^ “Liver Cirrhosis”. Review of Pathology of the Liver. 
  3. ^ “Pathology Education: Gastrointestinal”. 
  4. ^ “WHO Disease and injury country estimates”. World Health Organization. 2009. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  5. ^ Anderson RN, Smith BL (2003). “Deaths: leading causes for 2001”. National vital statistics reports: from the Centers for Disease Control and Prevention, National Center for Health Statistics, National Vital Statistics System 52 (9): 1–85. PMID 14626726. 
  6. ^ Sørensen HT, Thulstrup AM, Mellemkjar L, et al. (2003). “Long-term survival and cause-specific mortality in patients with cirrhosis of the liver: a nationwide cohort study in Denmark”. Journal of clinical epidemiology 56 (1): 88–93. doi:10.1016/S0895-4356(02)00531-0. PMID 12589875. 
  7. ^ Klatsky AL, Morton C, Udaltsova N, Friedman GD (2006). “Coffee, cirrhosis, and transaminase enzymes”. Archives of Internal Medicine 166 (11): 1190–5. doi:10.1001/archinte.166.11.1190. PMID 16772246. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]