Mitsubishi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mitsubishi Group
Mitsubishi logo 2.JPG
Loại hình Công ty tư nhân
Ngành nghề Tập đoàn
Thành lập 1870
Nhà sáng lập Iwasaki Yatarō
Trụ sở chính Tokyo, Nhật Bản
Khu vực hoạt động Toàn cầu
Thành viên
chủ chốt
CEO, Ken Kobayashi
Sản phẩm Khai khoáng, công nghiệp đóng tàu, viễn thông, tài chính, bảo hiểm, điện tử, ô tô, xây dựng, công nghiệp nặng, dầu khí, địa ốc, thực phẩm, hóa chất, luyện kim, hàng không...
Doanh thu Green Arrow Up.svg US$ 248.6 tỉ (2010)
Lãi thực Green Arrow Up.svg US$ 7.2 tỉ (2010)
Nhân viên 350,000 (2010)
Website Mitsubishi.com
Mitsubishi logo

Mitsubishi là một tập đoàn công nghiệp lớn của Nhật Bản.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty Mitsubishi đầu tiên là một công ty chuyển hàng thành lập bởi Yataro Iwasaki (1834–1885) năm 1870. Năm 1873, tên công ty được đổi thành Mitsubishi Shokai (三菱商会). Tên Mitsubishi (三菱) có hai phần: "mitsu" có nghĩa là "ba" và "hishi" (sau đó trở thành "bishi" ở từ giữa) có nghĩa là "củ ấu", loại củ có hình chữ thập, sau đó trở thành biểu tượng nổi tiếng của Mitsubishi.

Công ty chuyển sang lĩnh vực khai thác than năm 1881 sau khi mua mỏ than Takashima [1]đảo Hashima năm 1890, sử dụng sản phẩm làm nguyên liệu cho đội tàu thủy hơi nước. Công ty cũng bắt đầu đa dạng hóa kinh doanh sang các lĩnh vực đóng tàu, bảo hiểm, xếp gỡ hàng và thương mại. Sau này sự đa dạng hóa được tiếp tục với việc Mitsubishi xâm nhập thêm vào các lĩnh vực khác như sản xuất giấy, thép, thủy tinh, hàng điện tử, tàu sân bay, khai thác dầu mỏbất động sản. Khi Mitsubishi xây dựng thành một nghiệp đoàn lớn, nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình hiện đại hóa công nghiệp Nhật Bản.

Vì quá trình đa dạng hóa, Mitsubishi sau đó đã thành lập ba công ty con:

Thế chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt chiến tranh thế giới thứ II, Mitsubishi sản xuất tàu sân bay và máy bay chiến đấu, dưới sự chỉ đạo của Jiro Horikoshi. Mitsubishi Zero là máy bay tiêm kích chủ lực hoạt động trên tàu sân bay. Nó được các phi công của Hải quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong trận đánh Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 và trong rất nhiều lần khác, bao gồm cả trong các cuộc tấn công cảm tử Thần phong.

Thời kì mới[sửa | sửa mã nguồn]

Mitsubishi tham gia vào quá trình phát triển kinh tế chưa từng có của Nhật trong thập niên 1950 và 1960. Khi Nhật Bản phát triển những ngành công nghiệp năng lượng và nguyên liệu. Mitsubishi đã lập ra các công ty Mitsubishi Petrochemical, Mitsubishi Atomic Power Industries, Mitsubishi Liquefied Petroleum Gas, và Mitsubishi Petroleum Development.

Mitsubishi tiếp tục phát triển các công nghệ mới trong các lĩnh vực khác như phát triển không gian, hàng không, phát triển đại dương, công nghệ thông tin, máy tínhchất bán dẫn. Các công ty của Mitsubishi cũng tham gia vào các lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ.

Năm 1970, Các công ty của Mitsubishi thành lập Mitsubishi Foundation để kỉ niệm 100 năm ngày thành lập của công ty. Tính đến năm 2007, Mitsubishi Corporation, một thành viên của tập đoàn Mitsubishi, là công ty thương mại lớn nhất Nhật Bản với hơn 200 cơ sở hoạt động tại khoảng 80 quốc gia trên thế giới. Cùng với hơn 500 công ty con, Mitsubishi có khoảng 54,000 nhân công trên khắp thế giới.

Các công ty của Mitsubishi[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên chủ chốt[sửa | sửa mã nguồn]

Các tổ chức liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]