Thần phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiếu úy Kiyoshi Ogawa đâm vào chiếc hàng không mẫu hạm Bunker Hill của Hoa Kỳ

Thần phong, gió thần hay Kamikaze (tiếng Nhật: 神風; kami = thần, kaze = phong) là một từ tiếng Nhật, được những tiếng khác vay mượn để chỉ các cuộc tấn công cảm tử bởi các phi công chiến đấu Nhật Bản chống lại tàu chiến của các nước Đồng Minh trong Thế chiến thứ hai trong giai đoạn kết thúc Chiến dịch Thái Bình Dương.

Phi công Kamikaze sẽ lái máy bay của mình, thường là chở đầy thuốc nổ, bom, thủy lôi và bình đựng xăng đâm vào tàu địch. Máy bay của anh như vậy có vai trò hỏa tiễn sống trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm tăng tối đa độ chính xác và tổn thất cho địch quân so với bom đạn thông thường. Mục tiêu của các phi công này là đánh phá càng nhiều càng tốt tàu bè của phe Đồng Minh.

Các cuộc tấn công này bắt đầu từ tháng 10 năm 1944, sau một số trận thua nặng nề của Nhật Bản. Việc tiềm lực chiến tranh giảm sút– cùng với việc mất đi rất nhiều phi công giỏi giàu kinh nghiệm–sản xuất công nghiệp suy yếu đi so với Hoa Kỳ, cũng như việc chính phủ Nhật Bản không muốn đầu hàng, dẫn đến chiến thuật sử dụng kamikaze khi lực lượng Đồng Minh tiến đánh Quần đảo Nhật Bản.

Các cuộc tấn công cảm tử Kamikaze là các cuộc tấn công nổi tiếng nhất và được biết đến nhiều nhất, giống như các cuộc "xung phong banzai" bởi bộ binh Nhật. Ngoài ra, người Nhật còn có các đội tấn công cảm tử khác như tàu ngầm Kairyu, thủy lôi sống Kaiten, khinh tốc đỉnh Shinyo.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh thế giới thứ hai, mặt trận Thái Bình Dương

Tên gọi "thần phong" xuất phát từ thời kỳ 1274-1281 khi có một cơn bão đã cứu Nhật Bản khỏi thảm họa thôn tính của Đế quốc Mông Cổ. Khi quân Mông Cổ tấn công Nhật Bản với khí thế như chẻ tre, nước Nhật hầu như chắc chắn bị thất thủ thì có một cơn bão nổi lên đánh chìm tàu thuyền quân Mông Cổ. Do đó người Nhật gọi cơn bão này là "thần phong".

Trong Thế chiến thứ hai, một tokubetsu kōgeki tai (特別攻撃隊, đặt biệt công kích đội), hay đặc công đội (特攻隊 tokkōtai) được thành lập để tấn công bảo vệ Nhật Bản. Các đội thực hiện các cuộc tấn công tự sát của các đơn vị thuộc Hải quân Hoàng gia Nhật Bản được gọi là shinpū tokubetsu kōgeki tai (神風特別攻撃隊, thần phong đặc biệt công kích đội).

Những chiến công trong Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm đầu của thập niên 1940 khi hạm đội Mỹ khống chế Thái Bình Dương, những cuộc đụng độ giữa hải quân Nhật-Mỹ liên tục diễn ra, đặc biệt là sau trận Trân Châu cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 với thắng lợi thường thuộc về người Mỹ vì Mỹ có ưu thế lớn về hải quânkhông quân. Những thất bại đó mà đỉnh điểm là trận Hải chiến biển Philippines đã khiến quân Nhật nghĩ đến những phương sách khác, trong bối cảnh đó bộ tham mưu Nhật đã nghĩ đến những cuộc tấn công cảm tử để tái lập thế quân bình lực lượng. Người đầu tiên đưa ra ý tưởng này là chỉ huy trưởng căn cứ Nhật Tateyama tuy không được chấp thuận nhưng ý kiến này đã được bảo lưu và nghiên cứu.

Từ những năm 1943-1944, lực lượng Hoa Kỳ ngày càng tiến đến gần chính quốc Nhật. Các chiến đấu cơ Nhật ngày càng lỗi thời và thua kém về số lượng so với phi cơ Mỹ, đặc biệt là các máy bay F6F HellcatF4U Corsair. Không lực Hải quân Nhật (IJNAS) bị tiêu hao trong các trận không chiến chống lại Đồng Minh tại Quần đảo Solomon và đảo New Guinea. Thêm nữa, trong trận chiến trên biển Philippine, Nhật mất hơn 400 máy bay trên tàu sân bay và phi công. Số phi công giàu kinh nghiệm ngày càng trở nên hiếm hoi. Bệnh tật nhiệt đới, cũng như thiếu phụ kiện và xăng dầu, khiến cho hoạt động của IJNAS ngày càng trở nên khó khăn.

Sau Trận chiến đảo Saipan ngày 15 tháng 4 năm 1944, đảo này thất thủ, khiến cho Hoa Kỳ giành được một căn cứ tiền đồn để từ đó tung các Siêu pháo đài bay B-29 Superfortress đánh vào nội địa Nhật Bản. Từ khi mất Saipan, bộ chỉ huy Nhật tiên đoán Mỹ sẽ tìm cách đánh chiếm Philippines, có vị trí quan trọng chiến lược vì vị trí án ngữ các mỏ dầu ở Đông Nam Á và Nhật Bản.

Cuộc tấn công cảm tử phối hợp đầu tiên được tiến hành vào ngày 5 tháng 7 năm 1944 với 9 chiếc khu trục cơ Zero và 8 oanh tạc cơ từ căn cứ Iwo Jima. Kết quả thu được không như mong muốn khi 12 chiếc bị hạm đội Mỹ bắn hạ, 5 chiếc trở về an toàn. Ngày 15 tháng 10 năm 1944, Đô đốc Masabumi Arima cùng một hạm đội nhỏ đụng độ với hải quân Mỹ ngoài khơi Philippines và thất bại thảm hại.

Những chiếc máy bay Zero

Ngày 17 tháng 10 năm 1944, lực lượng Đồng Minh tấn công đảo Suluan, bắt đầu trận vịnh Leyte. Đệ nhất hạm đội không quân Hải quân Đế quốc Nhật Bản đóng tại Manila được giao nhiệm vụ hộ tống các tàu Nhật làm nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng Đồng Minh trên Vịnh Leyte. Tuy nhiên, Đệ nhất hạm đội khi đó chỉ có 40 máy bay: 34 Mitsubishi Zero trên tàu sân bay, 3 máy bay phóng lôi Nakajima B6N Tenzan ("Jill"), 1 Mitsubishi G4M ("Betty") và 2 máy bay ném bom Yokosuka P1Y Ginga ("Frances"), cộng với 1 máy bay trinh sát. Nhiệm vụ được giao xem như vượt quá sức Đệ nhất hạm đội. Chỉ huy hạm đội, Phó Đô đốc Takijiro Onishi quyết định thiết lập một lực lượng đặc nhiệm cảm tử, Đội công kích đặc biệt. Trong cuộc họp tại Sân bay Mabalacat (mà người Mỹ gọi là sân bay Clark) gần Manila, ngày 19 10, Onishi tuyên bố với các sỹ quan đoàn bay 201:"Tôi không thấy có cách nào tiến hành chiến dịch (bảo vệ Philippines), ngoài cách gắn một quả bom 250kg lên một chiếc máy bay Zero rồi đâm thẳng vào một hàng không mẫu hạm Mỹ, loại nó ra khỏi vòng chiến đấu trong một tuần."

Vịnh Leyte: trận tấn công đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu tuần dương hạng nặng Australia, tháng 9 năm 1944.

Theo các nhân chứng kể lại, tàu Đồng minh đầu tiên bị kamikaze tấn công là kỳ hạm của Hải quân hoàng gia Úc, tuần dương hạm hạng nặng Australia, ngày 21 tháng 10 năm 1944[1]. Cuộc tấn công này có vẻ như một cuộc tấn công tự phát, được thực hiện bởi một phi công không thuộc biệt đội của Onishi. Phi công này có lẽ là một phi công của Không lực Hoàng gia Nhật Bản (IJAAF) từ Lữ đoàn bay số 6, lái một chiếc Mitsubishi Ki-51 ("Sonia")[2]. Cuộc tấn công diễn ra gần đảo Leyte; với xạ thủ từ tàu Australia và tàu bạn Shropshire bắn súng phòng không trúng 3 máy bay Nhật. Một chiếc khác bay vòng đi, rồi quay lại và bay thẳng vào tàu Australia, đánh trúng thượng tầng tàu trên đài chỉ huy, làm bắn tung dầu và mảnh vỡ khắp nơi trước khi rơi xuống biển. Ít nhất có 30 thủy thủ bị chết, trong đó có cả sỹ quan chỉ huy Australia, Thuyền trưởng Emile Dechaineux; trong số người bị thương là Phó Đề đốc John Collins, chỉ huy lực lượng Úc. May mắn cho chiếc tàu Úc là quả bom nặng 200 kg mà chiếc máy bay chở theo không phát nổ.

Một chiếc Mitsubishi Zero (A6M5 Model 52) lao thẳng vào tàu sân bay hộ tống White Plains ngày 25 tháng 10 năm 1944. Chiếc máy bay này nổ tung trên không, văng mảnh vỡ trên khắp sàn tàu.
Xác một chiếc "Judy" trên tàu sân bay hộ tống Kitkun Bay. Chiếc Judy này định đánh vào góc chết phía sau tàu, nhưng bị trúng đạn phòng không và nổ tung trên không.

Ngày 24 tháng 10, chiếc tàu kéo Sonoma 1.120 tấn trở thành tàu đầu tiên bị kamikaze đánh chìm[3] ngoài đảo Dio, trong vịnh San Pedro, thuộc Vịnh Leyte.

Tàu Australia bị tấn công tiếp ngày 25 tháng 10 và buộc phải rút về New Hebrides để sửa chữa. Cùng ngày đó, Biệt đội Kamikaze tiến hành chiến dịch đầu tiên. Năm chiếc Zero, dẫn đầu bởi Seki, được hộ tống bởi phi công giỏi nhất Nhật Bản Hiroyoshi Nishizawa, tấn công mấy tàu sân bay hộ tống. Một chiếc Zero định tấn công vào đài chỉ huy của chiếc Kitkun Bay nhưng lại đánh trượt và bổ nhào xuống biển. Hai chiếc khác bổ nhào vào tàu Fanshaw Bay nhưng bị hỏa lực phòng không tiêu diệt. Hai chiếc cuối cùng xông vào chiếc White Plains, nhưng một chiếc bị hỏa lực bắn rát và bốc khói, bỏ mục tiêu mà đâm vào chiếc hàng không mẫu hạm St. Lo, nó cắm vào boong tàu, làm quả bom mang theo phát nổ làm nổ tung kho chứa bom, đánh chìm tàu sân bay này[4].

Tới cuối ngày 26 tháng 10, 55 kamikaze từ lực lượng đặc nhiệm đã đánh bị thương các tàu sân bay hộ tống lớn Sangamon, Suwannee, Santee và tàu sân bay hộ tống nhỏ White Plains, Kalinin BayKitkun Bay. Tổng cộng có 7 hàng không mẫu hạm bị đánh trúng, cộng với khoảng 40 tàu khác (5 chiếc bị chìm, 23 bị thương nặng, 12 bị thương nhẹ).

Chiếc Australia trở lại tác chiến trong trận Vịnh Lingayen tháng 1 năm 1945. Tuy nhiên, trong khoảng từ 5-9 tháng 1, tàu này bị kamikaze đánh năm lần, bị thương tích phải rút lui một lần nữa[1], mất 70 thủy thủ. Hàng không mẫu hạm Franklin, thuộc lớp Essex, và Intrepid cũng bị thương.

Giai đoạn ác liệt của cuộc chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Các thắng lợi ban đầu, nhất là sau việc đánh chìm hàng không mẫu hạm St. Lo, chương trình Kamikaze được mở rộng, với việc chỉ trong mấy tháng tiếp đó, có đến hơn 2 ngàn máy bay được sử dụng trong các phi vụ cảm tử.

Khi chính quốc Nhật Bản bắt đầu bị pháo đài bay chiến lược B-29 ném bom, bộ máy quân sự Nhật quyết định sử dụng các cuộc tấn công cảm tử để đáp lại. Tại bán cầu bắc trong mùa đông 1944-45, IJAAF thành lập trung đoàn bay số 47, còn được biết đến là đơn vị đặc nhiệm Shinten (Shinten Seiku Ta) tại sân bay Narimasu, Nerima, Tokyo, để bảo vệ Tokyo. Đơn vị này được trang bị chiến đấu cơ Nakajima Ki-44 Shoki ("Tojo"), với mục tiêu đâm thẳng vào các siêu pháo đài bay B-29 khi chúng tấn công Nhật Bản. Tuy nhiên, việc này tỏ ra khó thành công và không thực tiễn khi các máy bay B-29 bay nhanh hơn, cơ động hơn và nhỏ hơn tàu chiến rất nhiều. Các máy bay B-29 cũng được trang bị hỏa lực đáng gờm, nên việc tấn công cảm tử vào các pháo đài bay này cần các phi công lão luyện. Điều này trái ngược với nguyên tắc chủ đạo là sử dụng các phi công có thể thay thế được, và khuyến khích các phi công giỏi nhảy dù trước khi máy bay của họ lao vào địch quân, vì các phi công giỏi thường hy sinh khi họ tính thời gian nhảy dù sai, và bị chết khi máy bay đâm vào địch.

Các đô đốc Mỹ bắt đầu nhận thấy sự nguy hiểm của chiến dịch Kamikaze trong khi phía Nhật lại xem đây là bước ngoặt của cuộc chiến. Ngày 25 tháng 11 năm 1944, 35 kamikaze gây thiệt hại nặng nề cho hàng không mẫu hạm Independence, Essex cùng một số tàu chiến khác. Ngày 27 tháng 11 năm 1944 làm thiệt hại thiết giáp hạm Colorado và 2 tuần dương hạm.

Đầu năm 1945 khi ở Châu Âu sự thất bại của phát xít Đức đã cận kề thì ở Thái Bình Dương, quân Nhật cũng đang gặp rất nhiều khó khăn với những đợt tấn công liên tục của quân Mỹ và trong hoàn cảnh đó chiến thuật Kamikaze vẫn được sử dụng. Tháng 4 năm 1945, Đô đốc Matome Ugaki chịu trách nhiệm phối hợp những cuộc tấn công đặc biệt để bảo vệ Okinawa, đã bố trí 700 tàu cảm tử Shinyo và một lượng lớn phi cơ ở Kyushu, trong đó có hàng ngàn chiếc Zero và oanh tạc cơ Nakajima Ki-115 mang trên mình 1 quả bom 500 kg có tầm sát thương 1.200 m. Những máy bay Kamikaze được máy bay tiêm kích hộ tống bay ở tầm thấp và khi đến gần hạm đội Mỹ thì nhảy vọt lên độ cao 4.500 m rồi bất ngờ bổ nhào xuống nhắm vào những chiếc hàng không mẫu hạm. Ngày 6 thág 4 năm 1945, 355 Kamikaze đã tham gia một cuộc tấn công lớn và hạm đội Mỹ đã kịp tiêu diệt 250 chiếc trước khi chúng lao vào mục tiêu. Những chiếc còn lại đã loại ra khỏi vòng chiến hàng không mẫu hạm Hancock, đánh đắm 2 tàu vận tải xung kích lớn và làm thiệt hại thiết giáp hạm Maryland và nhiều tàu khu trục. Ngày 12 tháng 4 năm 1945, 185 chiếc Kamikaze có 135 chiếc tiêm kích đi kèm đã mở cuộc tấn công mới nhưng kết quả của lần xuất kích này không đáp ứng được kì vọng của quân đội Nhật.

Yokosuka MXY7 Ohka tại Viện Bảo tàng Khoa học và Công nghệ tại Manchester.

Ngoài các phi cơ chiến đấu và máy bay ném bom được chuyển thành kamikaze, từ tháng 3 năm 1945, trong trận chiến còn xuất hiện loại máy bay Yokosuka MXY7 Ohka, thực chất là một loại hỏa tiễn có người lái, phóng đi từ máy bay mẹ. Quân Mỹ gọi nó là "Baka" (baka nghĩa là "thằng ngốc" trong tiếng Nhật). Một loại thiết bị bay khác là Nakajima Ki-115 Tsurugi chỉ gồm một động cơ đẩy đơn giản lắp trên khung bằng gỗ, dễ sản xuất, mục tiêu là để sử dụng hết số động cơ còn tồn kho. Trong năm 1945, quân lực Nhật bắt đầu tích trữ hàng trăm loại Tsurugi, Ohka, và các tàu cảm tử để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ của Đồng Minh, nhưng cuộc đổ bộ rút cuộc không diễn ra, và chỉ có rất ít số vũ khí cảm tử này được sử dụng.

Chiến thuật phòng vệ của Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1945, thiếu tá John Thach, sỹ quan điều hành không chiến của Hải quân Hoa Kỳ, người nổi tiếng qua việc phát minh ra một chiến thuật không chiến rất hiệu quả chống lại không quân Nhật, phát triển chiến thuật chống kamikaze gọi.[5] Theo chiến thuật này, phi cơ sẽ tuần tra suốt ngày đêm xung quanh hạm đội Đồng Minh. Tuy nhiên, vì Hải quân Hoa Kỳ cắt giảm chương trình huấn luyện phi công chiến đấu, nên Hải quân không có đủ phi công để chống lại hiểm họa từ kamikaze.

Khói đạn phòng không từ tàu Louisville tuyệt vọng bắn lên trước khi bị kamikaze đánh trúng trong Trận Vịnh Lingayen, tháng 1 năm 1945.

Thiếu tá Thach cũng đề xuất sử dụng một lực lượng phi cơ chiến đấu tuần tiễu lớn (CAP), bay xa hơn trước để bảo vệ các hàng không mẫu hạm; sử dụng máy bay tăng cường ném bom các sân bay Nhật, bỏ bom đường băng với bom nổ chậm để ngăn cản Nhật sửa chữa đường băng, sử dụng lực lượng cảnh giới gồm các tàu khu trục và tàu hộ tống đặt các hạm đội chính ít nhất 80 km để sớm phát hiện và phối hợp tác chiến giữa các sỹ quan chỉ huy phi cơ trên hàng không mẫu hạm.

Từ cuối năm 1944, Hạm đội Anh đã sử dụng các máy bay tầm cao Supermarine Seafire để tuần tiễu rất có hiệu quả. Các máy bay này được dùng thường xuyên để ngăn ngừa Kamikaze tấn công trong trận Iwo Jima. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, các máy bay Seafire giành được thắng lợi lớn khi hạ được 8 máy bay địch mà chỉ mất duy nhất một máy bay.

Về cuối cuộc chiến, phe Đồng Minh không bị thêm nhiều tổn thất, dù sử dụng thêm rất nhiều tàu bè và bị tấn công dữ dội hơn. Việc chỉ được huấn luyện sơ sài khiến phi công kamikaze trở thành mồi ngon cho các phi công Đồng Minh lão luyện, được trang bị máy bay tốt hơn. Hơn thế nữa, chỉ riêng Hạm đội Đặc nhiệm Hoa Kỳ đã có thể ném vào trận chiến hơn một ngàn phi cơ. Phi công Đồng minh trở nên hữu hiệu trong việc tiêu diệt phi cơ đối phương trước khi chúng kịp đâm vào tàu chiến. Lính thủy trên các tàu Đồng Minh cũng phát triển các kỹ thuật chống kamikaze, như bắn đại pháo xuống mặt biển trước các phi cơ địch bay thấp gần mặt nước biển, tạo thành các cột nước lớn trùm lên phi cơ địch. Nếu chiến thuật này không thể sử dụng chống lại Okhas và các cuộc tấn công tầm cao, thì họ sử dụng súng phòng không. Từ năm 1945, một lượng lớn đạn pháo phòng không sử dụng ngòi nổ gần (phát nổ khi tới gần mục tiêu), chính xác hơn loại đạn thường đến bảy lần.

Sự kết thúc của thời đại Thần phong[sửa | sửa mã nguồn]

Những trận chiến ở Okinawa đã kết thúc vào ngày 22 tháng 6 năm 1945 với thất bại của quân đội Nhật và Đô đốc Nhật Ushijima đã mổ bụng tự sát (harakiri) theo truyền thống Nhật Bản. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, những người lính Nhật bàng hoàng khi nghe tin Nhật hoàng Hirohito đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Cùng ngày hôm đó, Đô đốc Ugaki, tư lệnh hạm đội 5 ở Kyushu cùng với 10 phi công cảm tử bay về hướng Okinawa và trước khi mất hút đã gửi lại một thông điệp bày tỏ niềm tin về sự bất tử của đế chế và tinh thần Kamikaze. Tổng kết lại, trong 1.900 phi vụ cảm tử, các Kamikaze đã đánh đắm khoảng 30 tàu chiến Mỹ, làm thiệt hại gần 300 chiếc khác và 4.907 lính Mỹ đã tử trận. Từ đó có thể thấy những cuộc tấn công cảm tử này đã mang lại hiệu quả cao hơn những cuộc tấn công thông thường và Đô đốc Onischi đã nói về giai đoạn Kamikaze như sau: "Dù có hiệu quả hay không thì những cuộc tấn công đó cũng cho thế giới và cả chúng ta hình ảnh của chủ nghĩa anh hùng, của lòng tự hào và đảm bảo sự tồn tại của di sản tinh thần chúng ta."[cần dẫn nguồn]

Những phi công Thần phong[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung một phi công Kamikaze trẻ tuổi: Trung úy Yukio Seki

Nói đến thành công của chiến thuật Kamiakaze không thể không kể đến sự hi sinh anh dũng của những phi công cảm tử trong quân đội Nhật. Nhật hoàng Hirohito đã đọc diễn văn ca ngợi những chàng trai trẻ tuổi đã "chết hạnh phúc và tự hào vì hoàng đế và sự chiến thắng". Điều đáng ngạc nhiên là số người tự nguyện hi sinh nhiều gấp 10 lần số máy bay quân đội Nhật Bản có lúc đó. Những người tự nguyện xem sự hi sinh của mình là sự đền đáp lại công ơn Thiên hoàng và giúp ích cho đất nước trong hoàn cảnh khó khăn.

Tuy nhiên cũng có nhiều người tỏ ý nghi ngờ hiệu quả của chiến thuật kamikaze, trong đó có cả các phi công nổi tiếng. Trung úy Yukio Seki, phi công kamikaze thứ 24 trong đội đặc nhiệm tham gia đánh chìm hàng không mẫu hạm St. Lo viết: "Tương lai Nhật Bản thật ảm đạm nếu như chúng ta buộc phải hy sinh những phi công giỏi nhất của mình. Tôi tham gia chiến dịch này không vì Đế quốc Nhật hay vì Hoàng Đế... Tôi tham gia vì tôi được lệnh phải tham gia!" Trong chuyến bay, chỉ huy của anh nghe thấy anh nói "Thà chết còn hơn sống như một kẻ hèn hạ."[6]

Tuy nhiên, nhìn chung người ta không có khó khăn tuyển mộ phi công. Yêu cầu rất đơn giản: "trẻ tuổi, nhanh nhẹn và hăng hái. Chỉ cần kinh nghiệm bay ở mức tối thiểu, kỹ năng hạ cánh không cần thiết". Đại tá Motoharu Okamura nhận xét "có nhiều người tình nguyện cho các phi vụ cảm tử đến mức đông như đàn ong, vì ‘ong chết sau khi đốt’".[7] Các phi công Kamikaze tin tưởng bằng sự hy sinh của mình, họ đã đền đáp lại công ơn gia đình, bạn bè và Thiên hoàng. "Họ hăng hái đến mức khi chuyến bay bị trì hoãn hay hủy bỏ, thì các phi công trẻ được huấn luyện sơ sài này tỏ ra hết sức bực dọc. Nhiều người sau khi được chọn thực hiện các phi vụ cảm tử được kể lại là rất hân hoan vui sướng trước phi vụ cuối cùng của mình".[8].

Chế độ huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Những người tình nguyện hi sinh, bao gồm nhiều thành phần từ phi công chính quy, binh lính cho đến cả sinh viên được huấn luyện theo một chế độ đặc biệt trong vòng 7 ngày: 2 ngày cho việc cất cánh với 1 quả bom 250 kg; 2 ngày cho việc bay theo đội hình và 3 ngày tập cách tiếp cận mục tiêu và tấn công.

Các phi công được cấp một bản hướng dẫn chi tiết về cách tiến hành tiến công cảm tử. Theo đó phi công phải bổ nhào nhắm vào giữa tháp chỉ huy và ống khói, vì đó là cách hiệu quả nhất để đánh chìm tàu. Phi công cũng được dặn không nên nhắm vào đài chỉ huy hay tháp pháo, mà nên nhắm vào cầu thang máy hoặc boong tàu. Nếu tiếp cận từ đường chân trời thì phi công nên "nhắm vào thân tàu, cao hơn mặt nước biển một chút", hoặc "nhắm vào cửa khoang chứa máy bay hoặc chân ống khói".

Thời khắc ra đi mãi mãi[sửa | sửa mã nguồn]

Vào buổi chiều trước ngày xuất phát, người chỉ huy trưởng căn cứ thông báo cho họ biết lệnh xuất phát vào ngày hôm sau và họ còn một đêm cuối cùng để viết một bức thư cuối cùng cho người thân trước khi ra đi mãi mãi vào hôm sau. Sáng sớm, sau buổi thuyết trình ca ngợi sự hi sinh, họ có mặt trong bộ đồ phi công, đeo bên mình thanh gươm của người võ sĩ đạo, đầu quấn chiếc băng chéo thiêu nổi hình mặt trời mọc, quốc kỳ của Đế quốc Nhật Bản. Chỉ huy trưởng căn cứ trao cho mỗi người một ly rượu sake, tất cả nghiêng mình về hướng cung điện để tỏ lòng tôn kính Nhật hoàng trước khi leo lên máy bay trong sự hoan nghênh của những người còn lại.

Cuộc sống sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Thiên hoàng Hirohito đọc tuyện bố đầu hàng vô điều kiện, một số người không chịu đựng được nỗi nhục thất trận đã mổ bụng tự sát theo tinh thần người Nhật. Hàng ngàn phi công trở về nhà bị lãng quên trong thời kì sau chiến tranh. Một số người cùng với những người khác xây dựng lại đất nước và khắc phục hậu quả chiến tranh, một số gia nhập Đảng Cộng sản Nhật Bản trong những năm 1946-1948, số khác bị khủng hoảng tinh thần và chỉ sau thập niên 1950, khi nền kinh tế Nhật Bản dần dần phục hồi đa phần trong số họ trở thành công nhân trong các hãng sản xuất lớn như: Sony, Honda, Denzu,… để quên đi quá khứ tuy đau thương nhưng không kém phần hào hùng.

Hiệu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Một xạ thủ súng phòng không trên tàu New Jersey nhìn một máy bay kamikaze đâm vào tàu Intrepid 25 tháng 11 năm 1944

Tới cuối chiến tranh, hải quân Nhật đã mất 2.525 phi công kamikaze, còn lục quân Nhật mất 1.387 phi công.

Số tàu đối phương bị đánh chìm vẫn là đề tài tranh cãi. Theo thông tin cổ động thời chiến Nhật, họ đánh chìm 81 tàu địch, đánh bị thương 195 tàu khác, gây ra 80% số tổn thất của Mỹ trong giai đoạn cuối cuộc chiến Thái Bình Dương. Trong cuốn sách World War II ra năm 2004, sử gia Wilmott, Cross & Messenger cho biết hơn 70 tàu của Hoa Kỳ bị "đánh đắm hoặc bị thương nặng tới không cứu vãn được" bởi kamikazes.

Số liệu chính thức của Mỹ cho biết có ít thiệt hại hơn. Theo Không lực Hoa Kỳ:

"Chừng 2.800 Kamikaze đánh chìm 34 tàu hải quân, làm bị thương 368 tàu khác, giết chết 4.900 thủy quân và làm bị thương hơn 4.800 người khác. Dù có radar cảnh báo, không quân chặn đánh và tiêu hao cũng như hỏa lực phòng không dày dặc, có đến 14% Kamikazes sống sót và đánh trúng tàu Mỹ; gần 8.5% số tàu bị Kamikazes đánh trúng bị chìm."[9]

Nhà báo người Úc Denis và Peggy Warner, trong cuốn sách in năm 1982 với sử gia hải quân Nhật Seno Sadao (The Sacred Warriors: Japan’s Suicide Legions), đưa ra con số 57 tàu bị kamikazes đánh đắm. Tuy nhiên, Bill Gordon, một nhà Nhật Bản học người Mỹ chuyên gia về kamikaze, cho biết có 49 tàu bị kamikaze đánh đắm[3].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă ww2australia.gov.au, 2006, "kamikaze". Access date: September 16, 2007.
  2. ^ Richard L. Dunn, 2002-05, "First Kamikaze? Attack on HMAS Australia — October 21, 1944" (j-aircraft.com). Access date: June 20, 2007. If the pilot was from the 6th Flying Brigade, it was probably either Lieutenant Morita or Sergeant Itano, flying out of San Jose, Mindoro.
  3. ^ a ă Bill Gordon, 2007, "49 Ships Sunk by Kamikaze Aircraft" Access date: September 15, 2007.
  4. ^ Toland, p.567
  5. ^ Bill Coombes, 1995, "Divine Wind The Japanese secret weapon – kamikaze suicide attacks"
  6. ^ Axell, trang 16
  7. ^ Axell, trang 35
  8. ^ Axell, trang 40
  9. ^ Dr Richard P. Hallion, 1999, "Precision Weapons, Power Projection, and The Revolution In Military Affairs" (USAF Historical Studies Office). Access date: September 15, 2007.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]