USS Essex (CV-9)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Essex (CV-9) - January 1960.jpg
Tàu sân bay USS Essex (CV-9) đang đi qua một vùng biển động mạnh, ngày 12 tháng 1 năm 1960. Một chiếc máy bay S2F đang đậu ở cuối đường băng chuẩn bị cất cánh.
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Đặt hàng: 3 tháng 7 năm 1940
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding
Đặt lườn: 28 tháng 4 năm 1941
Hạ thủy: 31 tháng 7 năm 1942
Đỡ đầu bởi: Bà Artemus L. Gates
Nhập biên chế: 31 tháng 12 năm 1942
Tái biên chế: 15 tháng 1 năm 1951
Xuất biên chế: 9 tháng 1 năm 1947
Ngừng hoạt động: 30 tháng 6 năm 1969
Xếp lớp lại: Tàu sân bay tấn công (CVA): 1 tháng 10 năm 1952
Tàu sân bay chống tàu ngầm (CVS): 8 tháng 3 năm 1960
Xóa đăng bạ: 1 tháng 6 năm 1973
Danh hiệu và
phong tặng:
Đơn vị Tuyên dương Tổng thống
Đơn vị Tuyên dương Hải quân
Đơn vị Khen thưởng Hải quân
17 Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị tháo dỡ 1 tháng 6 năm 1975
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Essex
Trọng tải choán nước: 27.100 tấn (tiêu chuẩn); 36.380 tấn (đầy tải)
Độ dài: 250 m (820 ft) mực nước
266 m (872 ft) chung
Sườn ngang: 28 m (93 ft) mực nước;
45 m (147 ft 6 in) chung
Mớn nước: 8,7 m (28 ft 5 in) tiêu chuẩn;
10,4 m (34 ft 2 in) đầy tải
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước Westinghouse
8 × nồi hơi, áp suất 3.900 kPa (565 psi) ở nhiệt độ 450 °C (850 °F)
4 × trục
công suất 150.000 mã lực (110 MW)
Tốc độ: 61 km/h (33 knot)
Tầm xa: 37.000 km ở tốc độ 28 km/h
(20.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
2.600
Vũ trang: 4 × pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber nòng kép
4 × pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber nòng đơn
8 × pháo Bofors 40 mm/56 caliber bốn nòng
46 × pháo Oerlikon 20 mm/78 caliber nòng đơn
Bọc giáp: đai giáp 60 đến 100 mm (2,5 đến 4 inch)
sàn đáp và sàn bảo vệ 40 mm (1,5 inch)
vách ngăn 100 mm (4 inch)
40 mm (1,5 inch) bên cạnh và trên nóc tháp chỉ huy
60 mm (2,5 inch) bên trên bánh lái
Máy bay mang theo: 90–100
Thiết bị bay: 1 × thang nâng cạnh sàn đáp
2 × thang nâng giữa

USS Essex (CV/CVA/CVS-9) là một tàu sân bay, chiếc dẫn đầu của lớp tàu sân bay Essex bao gồm tổng cộng 24 chiếc được chế tạo cho Hải quân Hoa Kỳ trong Thế Chiến II. Nó là chiếc tàu thứ tư của Hải quân Mỹ mang cái tên này. Được đưa vào hoạt động vào tháng 12 năm 1942, Essex tham gia vào nhiều chiến dịch tại Mặt trận Thái Bình Dương, được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Tổng thống và 13 ngôi sao chiến đấu. Được rút khỏi hoạt động không lâu sau khi chiến tranh kết thúc, nó được hiện đại hóa và được vào hoạt động trở lại vào đầu những năm 1950 như một tàu sân bay tấn công (CVA), và sau đó như là một tàu sân bay chống tàu ngầm (CVS). Trong giai đoạn hoạt động thứ hai nó phục vụ chủ yếu tại Châu Âu, từng tham gia vào Sự kiện tên lửa Cuba. Nó cũng tham gia hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên, được tặng thưởng bốn ngôi sao chiến đấu và danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Hải quân. Nó là chiếc tàu sân bay chính phục vụ cho việc thu hồi chuyến bay vũ trụ Apollo 7.

Nó được rút khỏi hoạt động lần cuối cùng vào năm 1969 và được bán để tháo dỡ vào năm 1975.

Cấu trúc và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Essex được đặt lườn vào ngày 28 tháng 4 năm 1941 bởi hãng Newport News Shipbuilding tại xưởng đóng tàu Newport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 31 tháng 7 năm 1942 dưới sự đỡ đầu của Bà Artemus L. Gates, phu nhân Trợ lý Không lực của Bộ Hải quân. Chiếc Essex được đưa vào hoạt động ngày 31 tháng 12 năm 1942 dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Donald B. Duncan.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Các phi công trong buổi họp trước khi tấn công Đài Loan, tháng 12 năm 1944.

Sau chuyến đi thử máy, Essex khởi hành đi Thái Bình Dương vào tháng 5 năm 1943 bắt đầu một loạt các hoạt động chiến đấu. Rời Trân Châu Cảng, nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm TF 16 trong hoạt động tấn công lên đảo Marcus ngày 31 tháng 8 năm 1943; trở thành soái hạm của Lực lượng Đặc nhiệm TF 14 và tấn công đảo Wake từ ngày 5 đến ngày 6 tháng 10; cùng với các tàu sân bay USS Bunker HillUSS Princeton tham gia các hoạt động không kích xuống Rabaul ngày 11 tháng 11 năm 1943; cùng với Đội Đặc nhiệm TG 50.3 tung ra cuộc tấn công vào quần đảo Gilbert nơi nó cũng tham gia một cuộc tấn công đổ bộ lần đầu tiên lên đảo san hô Tarawa từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 23 tháng 11 năm 1943. Được tiếp nhiên liệu ngoài biển, nó trở thành soái hạm của Đội Đặc nhiệm TG 50.3 để tấn công Kwajalein ngày 4 tháng 12 năm 1943. Cuộc tấn công đổ bộ thứ hai của nó được thực hiện cùng với Đội Đặc nhiệm TG 58.2 lên quần đảo Marshall từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 2 tháng 2 năm 1944.

Essex trong Đội Đặc nhiệm TG 58.2 giờ đây được sáp nhập cùng các Đội Đặc nhiệm TG 58.1 và TG 58.3, để tạo nên một lực lượng tàu sân bay lớn nhất tính đến lúc đó, để tấn công vào Truk (17 - 18 tháng 2 năm 1944) trong đó tám tàu Nhật bị đánh chìm. Trên đường đến quần đảo Marianas để cắt đứt các con đường tiếp tế của Nhật Bản, lực lượng tàu sân bay đã bị phát hiện và phải chịu đựng các cuộc không kích kéo dài mà họ đã đánh lui một cách bài bản. Sau đó chúng tiếp tục cuộc tấn công đã dự định lên các đảo Saipan, TinianGuam vào ngày 23 tháng 2 năm 1944.

Sau chiến dịch này, Essex hướng về San Francisco nơi nó được đại tu lần duy nhất trong chiến tranh. Sau khi đại tu, Essex trở thành chiếc tàu sân bay của Đội tàu sân bay 15, dưới sự chỉ huy của David McCampbell, phi công Ách có thành tích cao nhất của Hải quân Mỹ. Sau đó nó gia nhập cùng các tàu sân bay Wasp (CV-18)San Jacinto (CVL-30) của Đội Đặc nhiệm TG 12.1 nhằm tấn công đảo Marcus từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 5 và đảo Wake vào ngày 23 tháng 5. Nó được bố trí cùng Lực lượng Đặc nhiệm TF 58 để hỗ trợ cho việc chiếm đóng quần đảo Marianas từ ngày 12 tháng 6 đến ngày 10 tháng 8; cùng Đội Đặc nhiệm TG 38.3 tấn công lên quân đảo Palau từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 9, và vào đảo Mindanao từ ngày 9 đến ngày 10 tháng 9 chủ yếu nhắm vào tàu bè của đối phương, và ở lại khu vực này để hỗ trợ cuộc đổ bộ lên Peleliu. Vào ngày 2 tháng 10 nó chịu đựng một cơn siêu bão, và bốn ngày sau nó cùng Lực lượng Đặc nhiệm TF 38 đi về hướng Ryukyus.

Một máy bay cảm tử (kamikaze) Nhật Bản nổ tung sau khi đâm trúng phía giữa sàn đáp chiếc Essex

Trong thời gian còn lại của năm 1944 nó tiếp tục hoạt động trên tuyến đầu, tham gia các cuộc không kích vào Okinawa ngày 10 tháng 10Đài Loan từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 10, hỗ trợ cuộc đổ bộ lên đảo Leyte, tham gia Trận chiến vịnh Leyte từ ngày 24 đến ngày 25 tháng 10, và tiếp tục truy tìm hạm đội đối phương cho đến tận ngày 30 tháng 10 khi nó quay về Ulithi, Caroline Islands, để được tiếp tế. Nó quay lại hoạt động và tung ra các đợt không kích vào Manila và phía Bắc quần đảo Philippine trong tháng 11. Vào ngày 25 tháng 11, lần đầu tiên kể từ khi hoạt động, Essex bị đánh hỏng. Một máy bay cảm tử kamikaze đâm vào cánh trái của sàn đáp, trúng vào những chiếc máy bay đa được tiếp đầy xăng để cất cánh, gây ra một vụ nổ dữ dội là thiệt mạng 15 người và gây thương tích cho 44 người khác.

Một chiếc Yokosuka D4Y3 (Kiểu 33) "Judy" do Trung úy Yamaguchi điều khiển đang bổ nhào xuống tàu sân bay USS Essex; ngày 25 tháng 11 năm 1944. Các phanh bổ nhào được giương ra và bình xăng không tự hàn kín bên cánh trái đang tuôn ra hơi xăng và khói.

Sau các sửa chữa nhanh, con tàu sân bay hoạt động cùng Lực lượng Đặc nhiệm ngoài khơi đảo Leyte hỗ trợ việc chiếm đóng Mindoro từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 12. Nó thoát ra khỏi một trận cuồng phong vào ngày 18 tháng 12 rồi sau đó tiến hành các cuộc tìm kiếm những người sống sót. Cùng với Đội Đặc nhiệm TG 38.3, nó tham gia các chiến dịch Lingayen Gulf, tung ra các đợt không kích nhắm vào Đài Loan, Sakishima, Okinawa và Luzon. Tiến vào vùng biển Đông nhằm tìm kiếm lực lượng trên biển của đối phương, lực lượng đặc nhiệm công kích các tàu thuyền và thực hiện các cuộc không kích vào Đài Loan, bờ biển Trung Quốc, Hải NamHong Kong. Từ ngày 20 đến ngày 21 tháng 1 năm 1945, Essex chịu đựng một cơn cuồng phong dữ dội thứ ba trong vòng bốn tháng, trước khi tấn công trở lại vào Đài Loan, Miyako–jima và Okinawa từ ngày 26 đến ngày 27 tháng 1.

Trong thời gian còn lại của cuộc chiến, nó hoạt động cùng với Lực lượng đặc nhiệm TF 58, thực hiện các cuộc tấn công vào khu vực Tokyo vào từ ngày 16 đến ngày 17 và vào ngày 25 tháng 2, cả hai đợt đều nhằm vô hiệu hóa lực lượng không quân đối phương trước các cuộc đổ bộ lên Iwo Jima, và nhằm phá hỏng công nghiệp sản xuất máy bay Nhật Bản. Nó được gửi đến để hỗ trợ cuộc đổ bộ lên Iwo Jima và các hòn đảo lân cận, nhưng từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 28 tháng 5, nó được huy động chủ yếu vào việc hỗ trợ cuộc chiếm đóng đảo Okinawa.

Vào những ngày cuối cùng của chiến cuộc, Essex tham gia vào các cuộc không kích mạnh mẽ nhắm vào các hòn đảo chính quốc Nhật Bản từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 15 tháng 8. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, nó tiếp tục thực hiện các chuyến bay tuần tra phòng thủ cho đến tận ngày 3 tháng 9, khi nó được yêu cầu quay về Bremerton, Washington để được rút khỏi hoạt động. Vào ngày 9 tháng 1 năm 1947, nó được rút khỏi hoạt và được đưa về làm lực lượng dự bị.

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Được đưa vào hoạt động thường trực trở lại vào ngày 16 tháng 1 năm 1951, Essex được hiện đại hóa với một sàn đáp mới và một đảo cấu trúc thượng tầng suôn thẳng hơn. Thuyền trưởng A. W. Wheelock trở thành người chỉ huy con tàu.

Sau một chuyến đi ngắn tại vùng biển Hawaii, nó bắt đầu thực hiện một trong tổng số ba chuyến đi đến Viễn Đông trong suốt cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Nó trở thành soái hạm của Đội Tàu sân bay 1 và của Lực lượng Đặc nhiệm TF 77. Nó là chiếc tàu sân bay lần đầu tiên phóng lên một chiếc máy bay tiêm kích phản lực hai động cơ F2H Banshee trong các phi vụ chiến đấu. Vào ngày 16 tháng 9 năm 1951, một trong số những chiếc máy bay này, vốn bị hư hại trong chiến đấu, đã bị va chạm vào những chiếc máy bay đang đậu trên sàn đáp phía trước, gây ra một vụ nổ làm thiệt mạng bảy người. Sau khi được sửa chữa tại Yokosuka, nó quay trở lại hoạt động trên tuyến đầu vào ngày 3 tháng 10, tung ra các đợt không kích cho đến tận sông Áp Lục, và hỗ trợ trên không cho lực lượng quân đội Liên Hợp Quốc. Hai đợt khác được bố trí đến hoạt động trong chiến tranh Triều Tiên kéo dài từ tháng 8 năm 1951 đến tháng 3 năm 1952 và từ tháng 7 năm 1952 đến tháng 1 năm 1953.

Vào ngày 1 tháng 12 năm 1953 nó khởi hành chuyến đi cuối cùng trong chiến tranh, tuần tra hòa bình trên khu vực biển Trung Quốc. Từ tháng 11 năm 1954 đến tháng 6 năm 1955, nó tham gia các cuộc tập trận, hoạt động trong ba tháng cùng Đệ Thất hạm đội, hỗ trợ cho việc rút lui khỏi đảo Tachen, và tham gia vào các hoạt động không lực và cơ động hạm đội ngoài khơi Okinawa.

Hạm đội Thái Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 1955, Essex trở vào Xưởng Hải quân Puget Sound để sửa chữa và thực hiện các thay đổi rộng rãi, bao gồm việc trang bị một sàn đáp chéo góc. Sau khi việc hiện đại hóa được hoàn tất, nó gia nhập trở lại Hạm đội Thái Bình Dương vào tháng 3 năm 1956. Trong vòng 14 tháng tiếp theo sau, chiếc tàu sân bay hoạt động dọc theo bờ Tây Hoa Kỳ, ngoại trừ một giai đoạn sáu tháng du hành cùng Đệ Thất hạm đội tại Viễn Đông. Nhận được lệnh gia nhập Hạm đội Đại Tây Dương lần đầu tiên trong lịch sử hoạt động của nó, chiếc tàu sân bay khởi hành từ San Diego vào ngày 21 tháng 6 năm 1957, đi vòng qua mũi Horn, và đến Mayport, Florida vào ngày 1 tháng 8.

Đại Tây Dương và Địa Trung Hải[sửa | sửa mã nguồn]

Vào mùa Thu năm 1957, Essex tham gia như là một tàu sân bay chống tàu ngầm trong cuộc tập trận Strikeback của khối NATO; và từ tháng 2 đến tháng 5 năm 1958 được bố trí cùng Đệ Lục hạm đội khi nó được chuyển đến vùng biển phía Đông Địa Trung Hải. Được báo động do tình hình khủng hoảng tại Trung Đông vào ngày 14 tháng 7 năm 1958, nó được gửi đến để hỗ trợ Lực lượng Gìn giữ Hoà bình Mỹ đổ bộ lên Beirut, Liban, thực hiện các chuyến bay trinh sát và tuần tra cho đến tận ngày 20 tháng 8. Sau đó một lần nữa nó được điều sang các vùng biển châu Á, đi ngang qua kênh đào Suez để đến khu vực hoạt động ngoài khơi Đài Loan, nơi nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm TF 77 nhằm thực hiện các hoạt động bay, trước khi đi vòng qua mũi Horn và quay về Mayport.

Essex gia nhập Đệ Nhị hạm đội, tham dự những cuộc tập trận cùng các tàu chiến Anh Quốc trong vùng biển Đại Tây Dương cũng như cùng với lực lượng của NATO ở phía Đông Địa Trung Hải trong mùa Thu năm 1959. Đến tháng 12 nó thực hiện cứu trợ cho những nạn nhân của trận lụt thảm họa ở Frejus, Pháp.

Vào mùa Xuân năm 1960, nó được cải biến thành tàu sân bay chống tàu ngầm và chuyển về cảng nhà mới ở Quonset Point, Rhode Island. Từ lúc đó, nó trở thành soái hạm của Đội Tàu sân bay 18 và Nhóm Tàu sân bay Chống tàu ngầm 3. Nó thực hiện việc tìm kiếm và giải cứu một khí cầu bị rơi xuống biển ngoài khơi bờ biển New Jersey; rồi được bố trí tham dự các cuộc tập trận của khối NATO và khối CENTO vốn đưa nó đi ngang qua kênh đào Suez vào Ấn Đô Dương. Nó đã ghé qua các cảng Karachi và Aden thuộc địa Anh. Vào tháng 11 nó tham gia cùng lực lượng của Hải quân Pháp trong chiến dịch "Jet Stream".

Vịnh Con Heo và Khủng hoảng Tên lửa Cuba[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 4 năm 1961, Essex rời khỏi cảng Jacksonville, Florida để tiến hành một chuyến đi "huấn luyện thường xuyên" kéo dài hai tuần, trên danh nghĩa là để hỗ trợ cho việc chuẩn nhận hoạt động trên tàu sân bay của một phi đội Hải quân. Mười hai chiếc máy bay cường kích phản lực A4D được xếp lên tàu. Các phi công thuộc về Phi đội VA-34 "Blue Blasters". Sau nhiều tuần ở ngoài biển, những chiếc A-4 được sơn lại một màu xám bạc, che giấu mọi huy hiệu và số hiệu đuôi, và được trang bị pháo 20 mm. chúng bắt đầu thựchiện các chuyến bay bí hiểm cả ngày và đêm, và ít nhất có một chiếc đã quay về mang theo các hư hỏng trong chiến đấu. Không được biết đến đối với hầu hết thủy thủ đoàn của Essex, chúng đang được giao các nhiệm vụ hỗ trợ trên không cho cuộc tấn công Vịnh Con Heo bất hạnh. Phần hoạt động hỗ trợ của không lực hải quân đã bị Tổng thống Kennedy hủy bỏ vào giờ chót, và thủy thủ đoàn của chiếc Essex đã bị buộc phải giữ bí mật.[1]

Cuối năm 1961, chiếc Essex hoàn thành một chuyến đi "People to People" đến Bắc Âu qua các cảng Rotterdam, Hamburg, và Greenock, Scotland. Khi ghé lại Hamburg, trên một triệu người đã lên thăm con tàu Essex. Khi nhổ neo chiếc Essex hầu như bị mắc cạn trên dòng sông Elbe nông cạn. Trên đường quay trở về nó gặp phải một cơn bão lớn trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương vào tháng 1 năm 1962 và chịu đựng những hư hỏng về cấu trúc nghiêm trọng. Vào đầu năm 1962 nó vào ụ tàu ở Xưởng Hải quân Brooklyn để được đại tu.

Chiếc Essex vừa kết thúc một đợt đại tu kéo dài sáu tháng và đang chạy thử tại Căn cứ Hải quân vịnh Guantanamo khi Tổng thống John F. Kennedy áp đặt một lệnh "cách ly" (quarantine)[2] hải quân cho Cuba vào tháng 10 năm 1962, để phản ứng lại việc phát hiện ra sự hiện diện của tên lửa Xô Viết trên hòn đảo này (xem Sự kiện Tên lửa Cuba).[3] Chiếc Essex trải qua trên một tháng trong vùng biển Caribbe trong lực lượng các tàu chiến Hải quân Mỹ thực thi lệnh "cách ly" này, và chỉ quay trở về cảng nhà ngay trước lễ Tạ Ơn.

Các chuyến bay vũ trụ Apollo[sửa | sửa mã nguồn]

Essex được lên kế hoạch sẽ là tàu sân bay thu hồi chính cho chuyến bay vũ trụ bất hạnh Apollo 1. Nó được dự tính sẽ vớt các nhà du hành vũ trụ của chuyến bay Apollo 1 tại vùng biển phía Bắc Puerto Rico vào ngày 7 tháng 3 năm 1967 sau chuyến bay vũ trụ dự tính kéo dài 14 ngày. Tuy nhiên, chuyến bay này đã không được thực hiện vì đội bay của chiếc Apollo 1 đã tử nạn vào ngày 27 tháng 1 năm 1967 do một đám cháy xảy ra bên trong chiếc tàu vũ trụ của họ ở Căn cứ Không quân mũi Canaveral, Florida.

Essex là chiếc tàu sân bay chính phục vụ cho việc thu hồi chuyến bay vũ trụ Apollo 7. Nó đã vớt được đội bay chiếc Apollo 7 vào ngày 2 tháng 10 năm 1968 sau khi chiếc tàu vũ trụ hạ xuống phía Bắc Puerto Rico.

Essex cũng là chiếc tàu sân bay mà nhà du hành vũ trụ Neil Armstrong của chuyến bay vũ trụ lịch sử Apollo 11 lần đầu tiên đưa người lên Mặt Trăng từng phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên.

Rút khỏi hoạt động và loại bỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Essex được rút khỏi hoạt động vào ngày 30 tháng 6 năm 1969. Nó được loại khỏi Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 6 năm 1973, và được bán để tháo dỡ vào ngày 1 tháng 6 năm 1975.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wyden, Peter, "Bay of Pigs, The Untold Story," Simon and Schuster, New York, 1979.
  2. ^ Từ ngữ "cách ly" được sử dụng thay cho từ "phong tỏa" (blockage) vì những lý do của luật pháp quốc tế - Kennedy lý luận rằng phong tỏa là một hành động của chiến tranh, và tình trạng chiến tranh chưa được tuyên bố giữa Hoa Kỳ và Cuba.
  3. ^ Kennedy, Robert F. Thirteen Days: A memoir of the Cuban missile crisis. W. W. Norton & Company, Inc. 1969. ISBN 978-0-333-10312-8

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]