USS Philippine Sea (CV-47)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
CV-47 Gibraltar 1948.jpg
Tàu sân bay USS Philippine Sea (CV-47) tại Gibraltar vào năm 1948
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Philippine Sea
Đặt tên theo: Trận chiến biển Philippine
Hãng đóng tàu: Bethlehem Steel Company, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 19 tháng 8 năm 1944
Hạ thủy: 5 tháng 9 năm 1945
Đỡ đầu bởi: Bà Albert B. Chandler
Nhập biên chế: 11 tháng 5 năm 1946
Xuất biên chế: 28 tháng 12 năm 1958
Xếp lớp lại: Tàu sân bay tấn công (CVA): 1 tháng 10 năm 1952
Tàu sân bay chống tàu ngầm (CVS): 15 tháng 11 năm 1955
Tàu vận chuyển máy bay (AVT): 15 tháng 5 năm 1959
Xóa đăng bạ: 1 tháng 12 năm 1969
Danh hiệu và
phong tặng:
9 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị bán để tháo dỡ tháng 3 năm 1971
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Essex
Trọng tải choán nước: 27.100 tấn (tiêu chuẩn);
36.380 tấn (đầy tải)
Độ dài: 250 m (820 ft) (mực nước);
271 m (888 ft) (sàn tàu)
Sườn ngang: 28 m (93 ft) (mực nước);
45 m (147 ft 6 in) (sàn tàu)
Mớn nước: 8,7 m (28 ft 5 in) (tiêu chuẩn);
10,4 m (34 ft 2 in) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Westinghouse
8 nồi hơi, áp suất 3.900 kPa (565 psi) ở nhiệt độ 450 °C (850 °F)
4 trục
công suất 150.000 mã lực (110 MW)
Tốc độ: 61 km/h (33 knot)
Tầm xa: 37.000 km ở tốc độ 28 km/h
(20.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Vũ trang: 4 × pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber nòng kép
4 × pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber nòng đơn
8 × pháo Bofors 40 mm 56 caliber bốn nòng
46 × pháo Oerlikons 20 mm 78 caliber nòng đơn
Bọc giáp: đai giáp 60 đến 100 mm (2,5 đến 4 inch)
sàn đáp và sàn bảo vệ 40 mm (1,5 inch)
vách ngăn 100 mm (4 inch)
40 mm (1,5 inch) bên cạnh và trên nóc tháp chỉ huy
60 mm (2,5 inch) bên trên bánh lái
Máy bay mang theo: 90–100 máy bay
Thiết bị bay: 1 × thang nâng cạnh sàn đáp
2 × thang nâng giữa

USS Philippine Sea (CV/CVA/CVS-47, AVT-11) là một trong số 24 tàu sân bay thuộc lớp Essex được chế tạo cho Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này để kỷ niệm Trận chiến biển Philippine vào năm 1944. Philippine Sea được đưa ra hoạt động vào tháng 5 năm 1946, quá trễ để có thể phục vụ cho Thế Chiến II. Nó trải qua những năm đầu tiên phục vụ chủ yếu tại Đại Tây Dương, vùng biển CaribbeĐịa Trung Hải, nhưng cũng từng được bố trí những nhiệm vụ đặc biệt tại biển Bắc Cực và Nam Cực. Nó gia nhập Hạm đội Thái Bình Dương vào năm 1950, và đã phục vụ tích cực trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, được tặng thưởng chín Ngôi sao Chiến đấu. Vào đầu những năm 1950 nó được xếp lại lớp như một tàu sân bay tấn công (CVA), rồi thành một tàu sân bay chống tàu ngầm (CVS). Nó phục vụ cho đến cuối cuộc đời hoạt động tại khu vực Thái Bình Dương.

Không giống như những con tàu chị em khác cùng lớp, Philippine Sea không nhận được sự nâng cấp lớn đáng kể nào, nên trong suốt quãng đời hoạt động của mình vẫn giữ lại dáng dấp cổ điển của một tàu sân bay lớp Essex thời Thế Chiến II. Nó được cho ngừng hoạt động vào năm 1958, và đang khi nằm trong lực lượng dự bị được tái xếp lớp như một tàu vận chuyển máy bay (AVT). Nó bị bán để tháo dỡ vào năm 1971.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Philippine Sea là một tàu sân bay dạng thân dài trong lớp Essex. Nó được đặt lườn vào ngày 19 tháng 8 năm 1944 bởi hãng Bethlehem Steel Company tại Quincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 5 tháng 9 năm 1945; được đỡ đầu bởi Bà Albert B. Chandler; và được đưa ra hoạt động vào ngày 11 tháng 5 năm 1946 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Delbert Strother Cornwell.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1946-1950[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 6 năm 1946, Philippine Sea đi đến Quonset Point, Rhodes Island tiến hành các huấn luyện ban đầu cho thủy thủ đoàn. Đến tháng 9, nó bắt đầu chuyến đi chạy thử máy tại khu vực Caribbe cùng với Liên đội Không lực 20 trên tàu. Ngay sau khi quay về từ chuyến đi thực tập thử máy, chiếc tàu sân bay được lệnh đi đến Boston chuẩn bị cho chuyến thám hiểm Nam Cực của Hải quân, Chiến dịch Highjump. Vào ngày 29 tháng 1 năm 1947, tại khu vực Nam Cực ở Nam Thái Bình Dương, Chuẩn Đô đốc Richard E. Byrd cùng nhóm của ông được chuyển từ tàu để bắt đầu các cuộc thám hiểm của họ từ Little America.

Trong thời gian còn lại của năm 1947, Philippine Sea hoạt động ngoài khơi bờ biển Đại Tây Dương và khu vực Caribbe. Sang mùa Xuân năm 1948, chiếc tàu sân bay được bố trí sang Địa Trung Hải để gia nhập Đệ Lục hạm đội dưới quyền chỉ huy của Phó đô đốc Forrest Sherman. Với Liên đội Không lực 9 được phối thuộc trên tàu, nó đã phô trương lực lượng tại Pháp, Hy Lạp, Thổ Nhĩ KỳSicilia. Vào tháng 6 năm 1948, chiếc tàu chiến quay trở về Hoa Kỳ. Mùa Hè năm đó, nó tham gia phát triển học thuyết về trợ giúp tiếp cận hạ cánh áp dụng trên tàu sân bay, và vào tháng 11, nó di chuyển lên rìa vòng cực cho chuyến đi trong thời tiết lạnh giá để thử nghiệm máy bay và thiết bị.

Vào tháng 1 năm 1949, con tàu một lần nữa được bố trí sang Địa Trung Hải với Liên đội Không lực 7 được phối thuộc trên tàu. Quay trở về vào cuối tháng 5, chiếc tàu sân bay đi vào Xưởng hải quân Boston để đại tu, và sau khi hoàn tất vào đầu mùa Thu, nó chạy thử máy tại vùng biển Caribbe với Liên đội Không lực 1 phối thuộc trên tàu. Các dự án phát triển tác chiến cùng với máy bay chiến đấu phản lực và các cuộc tập trận cùng lực lượng đặc nhiệm tại khu vực Bắc Đại Tây Dương kéo dài cho đến hết năm.

Hoạt động từ căn cứ của nó ở Quonset Point, Philippine Sea trải qua mùa Đông năm 1950 tiến hành chuẩn nhận phi công tàu sân bay, và từ giữa tháng 2 cho đến gần hết tháng 3 đã tham gia các cuộc tập trận hạm đội tại Đại Tây Dương và Caribbe. Trong tháng 4tháng 5, chiếc tàu sân bay tiến hành những chuyến đi thao diễn cho những vị khách của Bộ Hải quân, Đại học Công nghiệp Vũ trang, Đại học Chiến tranh Không quânĐại học Tham mưu Quân đội. Đến ngày 24 tháng 5, Philippine Sea khởi hành từ Norfolk, Virginia, băng qua kênh đào Panama để đi đến cảng nhà mới tại San Diego, California, trở thành một đơn vị của Hạm đội Thái Bình Dương.

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Philippine Sea được lệnh đi đến Trân Châu Cảng, và đã khởi hành đi sang biển Hawaii vào ngày 5 tháng 7 năm 1950 với Liên đội Không lực 11 phối thuộc trên tàu. Nó rời Trân Châu Cảng vào ngày 24 tháng 7 hướng sang khu vực chiến sự, đi đến Okinawa vào ngày 4 tháng 8, rồi lại lên đường vào ngày 5 tháng 8 như là soái hạm của Lực lượng Đặc nhiệm 77 hướng đến vùng biển ngoài khơi Triều Tiên. Chiếc tàu sân bay tung ra các cuộc không kích cho đến 140 phi vụ mỗi ngày, ném hàng ngàn tấn bom, rocket và bom napalm xuống các mục tiêu chiến lược. Trừ thời gian rút lui về hậu phương để tái vũ trang, tiếp nhiên liệu hay sửa chữa, Philippine Sea đã hoạt động liên tục tại vùng chiến sự.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Philippine Sea được tặng thưởng chín Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]