Hirohito

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Hirohito
裕仁
Dụ Nhân
Chiêu Hòa Thiên Hoàng
Hirohito in dress uniform.jpg
Tại vị 1926 - 1989
Tiền nhiệm Đại Chính Thiên Hoàng
Kế nhiệm Thiên Hoàng Akihito
Phối ngẫu Hoàng Hậu Hương Thuần
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Thân phụ Đại Chính Thiên Hoàng
Sinh 29 tháng 4 năm 1901
Tokyo, Nhật Bản
Mất 7 tháng 1 năm 1989
Tokyo, Nhật Bản

Hirohito (tiếng Nhật: 裕仁 (Dụ Nhân); 29/4/ 19017/1/1989) là hoàng đế Nhật Bản (Nhật hoàng) từ năm 1926 đến 1989 với đế hiệu là Shōwa (昭和 Chiêu Hòa). Ông là Nhật hoàng thứ 124 của Nhật Bản, có thời gian trị vì dài hơn bất cứ một vị vua nào khác trong lịch sử Nhật Bản, và là vị Nhật hoàng cuối cùng ủng hộ sự thần thánh của Nhật hoàng.

Mục lục

[sửa] Thời trẻ

Chiêu Hòa Thiên Hoàng năm 1928

Sinh ra tại Tokyo, là con trai cả của thái tử Yoshihito. Khi Yoshihito trở thành Nhật hoàng năm 1912, Hirohito đã trở thành thái tử mới. Bắt đầu năm 1914, Hirohito được giáo dục tại một trường của Hoàng gia dành cho thái tử để sau này nhận trọng trách trị vì đất nước. Sau khi tốt nghiệp năm 1921, Hirohito đi một tour dài sáu tháng khắp Anh Quốc và 5 nước châu Âu khác, trở thành thành viên của Hoàng gia Nhật Bản đi ra bên ngoài nước Nhật.

Ngay sau khi trở về Nhật Bản, Hirohito đã trở thành nhiếp chính vương cho cha mình, người mà lúc đó đã đau ốm về thần kinh. Hirohito thay mặt cha điều hành triều chính. Năm 1924, Hirohito kết hôn với Công nương Nagako, con gái cả của Hoàng thân Kuninomiya. Sau khi cha mình băng hà tháng 12 năm 1926, Hirohito đã lên ngôi hoàng đế. Ông đã chọn đế hiệu Shōwa.

[sửa] Huyền thoại thần thánh Nhật Hoàng

Theo Hiến pháp Nhật Bản 1889, Hirohito có rất nhiều quyền hạn. Quyền này dựa trên thần thoại rằng dòng dõi của Nhật hoàng xuất thân từ Amaterasu (nữ thần mặt trời của Thần đạo) và đã luôn luôn trị vì đất nước. Do dòng dõi thiêng liêng này, nhiều người Nhật xem Nhật hoàng như một hình tượng thiêng liêng. Tuy nhiên, trên thực tế, Hirohito chỉ giữ một số thẩm quyền tượng trưng hơn là thực tế. Là một vị quân chủ trong chế độ quân chủ lập hiến, Hirohito được các cố vấn khuyên hạn chế tham dự vào các quyết định chính trị. Ông vẫn tách rời khỏi chính trị và tránh bàn cãi công luận, không đảm nhận vị trí công chúng nào trong hầu hết các vấn đề quốc gia. Hầu như trong tất cả các trường hợp, Hirohito chỉ đơn giản phê chuẩn các chính sách đã được nhóm giật giây gồm các cố vấn và các bộ trưởng soạn ra – các chính sách vào thời đó được áp dụng nhân danh ông.

[sửa] Vai trò trong Thế chiến thứ hai

Trong thời kỳ đầu trị vì của Hirohito, quân đội Hoàng gia Nhật Bản đã giành được ảnh hưởng chính trị đáng kể. Năm 1931 và 1932, Quân Quan Đông (đơn vị quân đồn trú ở vùng Mãn Châu của Trung Quốc) đã chiếm Mãn Châu Quốc mà không cần sự chấp thuận trước của chính phủ Nhật Bản. Về mặt cá nhân, Hirohito thỉnh thoảng vẫn lộ ra vẻ không hài lòng về quyền lực đang tăng của quân đội. Chẳng hạn như tháng 2 năm 1936 ông đã hạ lệnh đàn áp các sỹ quan quân đội cấp tiến đang nổi dậy chống chính phủ dân sự ở Tokyo. Dù quan điểm như thế, Hirohito vẫn ít có hành động ngăn chặn việc quân đội Nhật Bản đang dần tiến đến một cuộc chiến toàn diện với Trung Quốc xảy ra năm 1937 (Chiến tranh Trung-Nhật thứ hai). Việc Hirohito xuất hiện trước công chúng với bộ quân phục, theo dõi diễn tập quân sự hoặc duyệt quân trên con bạch mã của mình đã làm tăng cường sự ủng hộ chiến tranh của dân Nhật.

Việc bành trướng của quân đội Nhật Bản trong thập niên 1930 đã dẫn đến việc Nhật Bản tham chiến vào cuộc Thế chiến thứ hai tháng 12 năm 1941, khi các máy bay chiến đấu của Nhật Bản đã bất ngờ tấn công hạm đội hải quân Hoa Kỳ ở Trận Trân Châu Cảng tại Hawaii. Dù Hirohito đã không sốt sắng trong việc quyết định tham chiến, ông cũng đã hài lòng bởi một loạt các chiến công của quân đội Nhật Bản sau chiến thắng Trân Châu Cảng và ông đã phát triển một mối liên kết mạnh mẽ với tướng Tōjō Hideki, bộ trưởng chiến tranh. Đến đầu mùa Hè năm 1945, sau khi Đức đầu hàng Đồng Minh, thất bại dường như là điều sắp xảy ra đối với quân Nhật. Chính phủ Nhật Bản đã chia rẽ sâu sắc giữa các lãnh đạo quân đội và hải quân và các quan chức dân sự Nhật Bản, những người muốn thương lượng cho hòa bình. Hirohito có vẻ như nghiêng về phía phe chủ hòa nhưng ông không đứng ra hòa giải bế tắc giữa phe chủ chiến và phe chủ hòa cho đến giữa tháng 8, sau khi Hoa Kỳ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống các thành phố HiroshimaNagasakiLiên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Bản Suzuki Kantaro đã hỏi ý kiến Hirohito liệu Nhật có nên tiếp tục chiến đấu vì hòa bình, và Nhật hoàng đã quyết định chấp nhận yêu cầu của Đồng Minh “đầu hàng vô điều kiện” bao gồm trong Tuyên bố Potsdam ban hành tháng 7. Hirohito đã phá vỡ tiền lệ im lặng của Nhật hoàng trước đây và đã thông báo sự đầu hành của Nhật Bản trên đài phát thanh phát ngày 15 tháng 8 năm 1945 (giờ Nhật Bản).

Hirohito và các cố vấn của mình sợ rằng Hirohito có thế bị xét xử về tội ác chiến tranh, đã cố đặt ông ở xa các mối liên hệ với sự lãnh đạo quân sự thời chiến. Nhưng Douglas MacArthur, tướng Mỹ đặc trách chỉ huy các lực lượng chiếm đóng của Đồng Minh đã cảm thấy rằng việc đặt Nhật hoàng vào đúng cương vị sẽ giúp giải quyết ổn thỏa sự dân chủ hóa của Nhật Bản. MacArthur đã thấy vị hoàng đế này là một biểu tượng của sự ổn định và hòa hợp có giá trị đối với dân Nhật và ông đảm bảo rằng Hirohito sẽ không bị truy tố ở phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh bắt đầu năm 1946.

[sửa] Vai trò và hình ảnh sau chiến tranh

Trong một nỗ lực hồi sinh nền quân chủ, tháng giêng năm 1946, Hirohito đã thông báo trên đài truyền thanh rằng ông không thừa nhận thần thoại rằng Nhật hoàng là thần thánh. Năm 1947, ông đã công bố một bản hiến pháp sửa đổi cho Nhật Bản do lực lượng chiếm đóng Hoa Kỳ soạn và đã được Quốc hội Nhật Bản thông qua, theo đó chủ quyền được giao cho nhân dân và quy định Nhật hoàng chỉ là một biểu tượng của dân tộc.

Giữa thời kỳ 1946 và 1951 Hirohito đã đi khắp Nhật Bản, thăm các trường học, nhà máy, hầm mỏ và các nơi công cộng khác để khảo sát sự tiến bộ của công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh và đã giành được sự nể phục của dân chúng đối với thiết chế quân chủ. Báo chí quốc gia Nhật Bản, lần đầu tiên được cho phép chụp ảnh hoàng gia, đã mô tả hoàng gia là nồng ấm và gần gũi, thích thú cuộc sống bình thường của giai cấp trung lưu. Cuộc điều tra công luận thập niên 1950 đã cho kết quả thái độ tích cực chung của công chúng đối với Nhật hoàng.

Là một vị hoàng đế của một nước dân chủ, Hirohito đã tiếp tục bày tỏ các chính kiến riêng của mình nhưng không gây ảnh hưởng chính thức lên các công việc của chính phủ. Ông thực hiện những công việc lễ nghi theo quy định của bản hiến pháp năm 1947 như làm chủ tọa khi khai mạc và bế mạc quốc hội; tiếp các đại sứ nước ngoài trình quốc thư; tham dự các sự kiện quốc gia bao gồm Thế vận hội Tokyo 1964Triển lãm Quốc tế 1970. Năm 1971, Hirohito đã đi một vòng 7 nước châu Âu và trở thành vị Nhật hoàng đang trị vì đầu tiên đi ra nước ngoài. Trong các chuyến đi này ông gặp phải cuộc biểu tình thù địch ở các nước châu Âu. Ông được đón tiếp thân thiện hơn trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 1975. Tuy nhiên, nghi vấn về trách nhiệm của ông trong vai trò của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai vẫn còn mạnh mẽ.

Trong những năm tháng cuối đời, người ta thường thấy Hirohito ngồi ở chỗ ngồi hoàng đế ở các trận thi đấu vật sumo, cẩn thận ghi chép những người thua và người thắng. Ông đã viết nhiều sách về sinh học hải dương, một đề tài suốt đời ông quan tâm. Hirohito băng hà năm 1989 sau một thời gian ốm đau dài. Con trai cả của ông là Akihito đã lên ngôi Nhật hoàng.

[sửa] Liên kết ngoài