Hirohito

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Chiêu Hòa
Hirohito 1983.jpg
Thiên hoàng thứ 124 của Nhật Bản
Tại vị 25 tháng 12 năm 19267 tháng 1 năm 1989 (&0000000000000062.00000062 năm, &0000000000000013.00000013 ngày)
Tiền nhiệm Thiên hoàng Đại Chính
Thủ tướng Tanaka Giichi
Hamaguchi Osachi
Wakatsuki Reijirō
Inukai Tsuyoshi
Takahashi Korekiyo (quyền)
Saitō Makoto
Okada Keisuke
Hirota Kōki
Hayashi Senjūrō
Fumimaro Konoe
Hiranuma Kiichirō
Abe Nobuyuki
Mitsumasa Yonai
Fumimaro Konoe
Hideki Tōjō
Kuniaki Koiso
Kantarō Suzuki
Higashikuni Naruhiko
Kijūrō Shidehara
Tetsu Katayama
Hitoshi Ashida
Shigeru Yoshida
Ichirō Hatoyama
Tanzan Ishibashi
Nobusuke Kishi
Hayato Ikeda
Eisaku Satō
Kakuei Tanaka
Takeo Miki
Takeo Fukuda
Masayoshi Ōhira
Masayoshi Itō (quyền)
Zenkō Suzuki
Yasuhiro Nakasone
Noboru Takeshita
Kế nhiệm Thiên hoàng Akihito
Thông tin chung
Hoàng hậu
Hậu duệ
Tên thật Hirohito (裕仁 (Dụ Nhân)?)
Niên hiệu Chiêu Hòa: 1926 - 1989
Thân phụ Thiên hoàng Đại Chính
Thân mẫu Trinh Minh hoàng hậu
Sinh 29 tháng 4, 1901(1901-04-29)
Cung Thanh Sơn, Tokyo, Nhật Bản
Mất 7 tháng 1, 1989 (87 tuổi)
Đại cung Ngự sở Xuy Thượng, Tokyo, Nhật Bản
Nghề nghiệp Nhà sinh vật học biển
Tôn giáo Thần đạo

Thiên hoàng Chiêu Hòa (昭和天皇 (Chiêu Hòa Thiên hoàng) Shōwa tennō?) (29 tháng 4 năm 19017 tháng 1 năm 1989), tên thật là Hirohito (裕仁 (Dụ Nhân)?) (phiên âm tiếng ViệtHirôhitô), là vị Thiên hoàng thứ 124 của Nhật Bản theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống. Ông làm vua từ năm 1926 đến 1989, có thời gian trị vì dài hơn bất cứ một Thiên hoàng nào khác trong lịch sử Nhật Bản, và là vị vua cuối cùng ủng hộ sự thần thánh của Thiên hoàng. Trong cuộc đời ông đã chứng kiến không ít sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Nhật.[1]

Mặc dù được biết tới bên ngoài Nhật Bản với tên riêng Hirohito, các tài liệu của Nhật Bản hiện nay chỉ sử dụng tên Thiên hoàng Chiêu Hòa để nói tới ông vì Chiêu Hòa vừa là niên hiệu duy nhất trong thời gian Thiên hoàng ở ngôi, và cũng là thụy hiệu sau khi qua đời của ông. Tại Nhật Bản việc sử dụng tên riêng (Hirohito) để nói tới vị Thiên hoàng bị cho là một cử chỉ mang tính báng bổ.[2]

Chiêu Hòa là triều vua lâu dài nhất trong lịch sử Nhật Bản. Trong thời kỳ này, xã hội Nhật có sự thay đổi lớn lao. Trước thời Chiêu Hòa, Nhật Bản đã trở thành một đất nước giàu mạnh nhờ cuộc Minh Trị Duy Tân được thực hiện từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên Nhật vẫn còn là một nhà nước nông nghiệp với các cơ sở công nghiệp vẫn còn hạn chế.[1] Trong những năm 1930, việc quân sự hoá nước Nhật đã dẫn tới việc Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, châu Á - Thái Bình Dương và tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai. Thiên hoàng Chiêu Hòa, với tư cách là người đứng đầu quốc gia và quân đội Nhật, đã tuyên bố nước Nhật đầu hàng vô điều kiện trước quân Đồng Minh vào ngày 15 tháng 8 năm 1945.[3]

Hirohito sống vào thời kỳ đặc biệt quan trọng thứ hai trong lịch sử cận đại Nhật Bản, sau cuộc Duy Tân của Thiên hoàng Minh Trị năm xưa.[1] Sau chiến tranh, Thiên hoàng bắt tay vào việc tái thiết Nhật Bản trong khi đất nước bị xâm chiếm. Ngày 3 tháng 11 năm 1946, Hiến pháp mới của Nhật được ban bố. Hiệp ước có hiệu lực vào ngày 3 tháng 5 năm 1947, đã quy định Thiên hoàng chỉ là "Biểu tượng của quốc gia, và cho sự hoà hợp của dân tộc", chứ không có quyền lực chính trị.[3][4] Công cuộc tái thiết đã khiến Nhật Bản trở thành một quốc gia dân chủ với mức độ đô thị hóa cao và là một trong các quốc gia đứng đầu thế giới về công nghiệp và khoa học kỹ thuật. Sự "Thần kỳ" của nước Nhật thời bấy giờ đã khiến cho các nước khác thực sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ.[1]

Không những là một Thiên hoàng, ông cũng là một nhà nghiên cứu sinh học, thực hiện một số công trình về sinh vật học biển.[3] Ông qua đời năm 1989 và Hoàng thái tử Akihito lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Bình Thành.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tôn Hirohito (1902).

Hoàng tôn Hirohito sinh ra tại cung Thanh Sơn (Aoyama) ở thủ đô Tōkyō, là con trai cả của Hoàng thái tử Yoshihito[5] và Thái tử phi Sadako, sau này là Trinh Minh Hoàng hậu. Thuở bé, ông có tước hiệu là Thân vương Michi (迪宮 (Địch cung) Michi no miya?). Năm 1912, Thiên hoàng Minh Trị qua đời, Yoshihito lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Đại Chính. Ngày 2 tháng 11 năm 1916, Hirohito chính thức được phong làm Hoàng thái tử (Tōgū-gogakumonsho); nhưng một nghi lễ tấn phong không hoàn toàn cần thiết cho việc thừa nhận ông là người thừa kế hoàng vị.[6]

Hoàng tử Hirohito học tiểu học tại hệ tiểu học của trường Gakushuin từ năm 1908 đến năm 1914. Bắt đầu từ năm 1914, ông được giáo dục tại một trường của Hoàng gia dành cho thái tử để sau này nhận trọng trách trị vì đất nước.

Sau khi tốt nghiệp năm 1921, Hirohito thực hiện chuyến viếng thăm châu Âu trong vòng sáu tháng, đến Vương quốc Anh, Pháp, Ý, Hà LanBỉ. Với chuyến viếng thăm này, ông trở thành thành viên của Hoàng gia Nhật Bản đi ra bên ngoài nước Nhật.

Thiên hoàng Đại Chính lúc bấy giờ đau ốm về thần kinh. Vì thế, ngay sau khi trở về Nhật Bản, Hirohito đã trở thành nhiếp chính quan bạch, đích thân đảm đương việc triều chính thay vua cha. Hirohito thay mặt vua cha điều hành triều chính. Trong thời gian ông chấp chính, nhiều sự kiện quan trọng đã diễn ra:

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hirohito và Công nương Nagako Kuni, tức Thiên hoàng Chiêu Hòa và Hoàng hậu Hương Thuần sau này.

Ngày 26 tháng 1 năm 1924, Hoàng tử Hirohito kết hôn với Công nương Nagako, con gái cả của Vương tước Kuni Kuniyoshi đồng thời là em họ xa của ông. Họ có hai người con trai và năm người con gái:

  1. Công chúa Shigeko, danh hiệu thuở bé là Teru no miya (照宮成子 teru no miya Shigeko?), sinh ngày 9 tháng 12 năm 1925 – chết ngày 23 tháng 7 năm 1961; kết hôn vào ngày 10 tháng 10 năm 1943 với Vương tước Higashikuni Morihiro (6 tháng 5 năm 1916 – 1 tháng 2 năm 1969), con trai trưởng của Vương tước Higashikuni Naruhiko và vợ là Công nương Toshiko - con gái thứ tám của Nhật hoàng Minh Trị; mất địa vị thành viên Hoàng gia vào ngày 14 tháng 10 năm 1947;
  2. Công chúa Sachiko, danh hiệu thuở bé là Hisa no miya (久宮祐子 hisa no miya Sachiko?), sinh ngày 10 tháng 9 năm 1927 – chết ngày 8 tháng 3 năm 1928;
  3. Công chúa Kazuko, tước hiệu thuở bé là Taka no miya (孝宮和子 taka no miya Kazuko?), sinh ngày 30 tháng 9 năm 1929 – chết ngày 28 tháng 5 năm 1989; ngày 21 tháng 5 năm 1950 kết hôn với Takatsukasa Toshimichi (26 tháng 8 năm 1923 – 27 tháng 1 năm 1966), con trai trưởng của Nobusuke; và là con nuôi của Naotake.
  4. Công chúa Atsuko, tước hiệu thuở bé là Yori no miya (順宮厚子 yori no miya Atsuko?), sinh ngày 7 tháng 3 năm 1931; kết hôn ngày 10 tháng 10 năm 1952 với Ikeda Takamasa (sinh ngày 21 tháng 10 năm 1927) - con trai trưởng của cựu Hầu tước Nobumasa Ikeda;
  5. Hoàng Thái tử Akihito, tước hiệu thuở bé là Tsugu no miya (継宮明仁 tsugu no miya Akihito?), Thiên hoàng thứ 125 của Nhật, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1933; kết hôn ngày 10 tháng 4 năm 1959 với Shōda Michiko (sinh ngày 20 tháng 10 năm 1934) - con gái trưởng của Shōda Hidesaburo - cựu chủ tịch của Công ty Nisshin Flour Milling;
  6. Hoàng tử Masahito, tước hiệu thuở bé là Yoshi no miya (義宮正仁 yoshi no miya Masahito?), sinh ngày 28 tháng 11 năm 1935, sau có tước hiệu Thân vương Hitachi (常陸宮 hitachi no miya?) từ ngày 1 tháng 10 năm 1964; kết hôn ngày 30 tháng 9 năm 1964 với Tsugaru Hanako (sinh ngày 19 tháng 7 năm 1940) - con gái thứ tư của cựu Bá tước Tsugaru Yoshitaka;
  7. Công chúa Takako, tước hiệu thuở bé là Suga no miya (清宮貴子 suga no miya Takako?), sinh ngày 2 tháng 3 năm 1939; kết hôn ngày 3 tháng 3 năm 1960 với Shimazu Hisanaga - con trai của cựu Hầu tước Shimazu Hisanori. Họ có một đứa con trai tên là Yoshihisa.

Với cuộc cải cách Hoàng gia Nhật do Mỹ thực hiện vào tháng 10 năm 1947, Công chúa Higashikuni phải rời khỏi Hoàng gia. Các công chúa Kazuko, Atsuko và Takako thì phải rời khỏi Hoàng gia theo những điều khoản trong Bộ luật Hoàng gia Nhật vào thời điểm họ kết hôn.

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên hoàng Chiêu Hòa sau lễ tấn phong năm 1928, trong trang phục Sokutai.

Ngày 25 tháng 12 năm 1926, Hirohito lên nối ngôi vua cha Yoshihito vừa mới qua đời. Người ta nói Thái tử Hirohito đã nhận được quyền thừa kế ngôi báu (senso).[7] Ông lấy niên hiệu là "Chiêu Hòa" (Shōwa), kết thúc triều vua Đại Chính. Vài ngày sau, cố Thiên hoàng Yoshihito được đặt thụy hiệu là "Đại Chính Thiên hoàng". Theo truyền thống Nhật Bản, người ta không được nói đến tên thật của vị Thiên hoàng mới, mà chỉ được gọi là "Thiên hoàng Bệ hạ" (天皇陛下 tennō heika?), hoặc ngắn gọn hơn là "Bệ hạ" (陛下 heika?). Khi viết, Thiên hoàng được chính thức gọi là "Kim thượng Thiên hoàng" (今上天皇 kinjō tennō?).

Vào tháng 11 năm 1928, Hirohito chính thức lên ngôi Thiên hoàng sau lễ sokui,[7] tức là "lễ tấn phong" hay "lễ đăng quang" (Shōwa no tairei-shiki); nhưng nghi lễ chính thức này giống như một sự khẳng định với công chúng rằng Hoàng gia đã truyền đời Tam Chủng Thần Khí (Sanshu no Jingi) từ nhiều thế kỷ nay,[8].[9]

Huyền thoại thần thánh Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Hiến pháp Nhật Bản 1889, Thiên hoàng Chiêu Hòa có rất nhiều quyền hạn. Quyền này dựa trên thần thoại rằng dòng dõi của Thiên hoàng xuất thân từ Thiên Chiếu Đại Thần (Amaterasu-ōmikami) và đã luôn luôn trị vì đất nước. Do dòng dõi thiêng liêng này, nhiều người Nhật xem Thiên hoàng như một hình tượng thiêng liêng. Tuy nhiên, trên thực tế, Thiên hoàng chỉ giữ một số thẩm quyền tượng trưng hơn là thực tế. Là một Thiên hoàng trong chế độ quân chủ lập hiến, ông được các cố vấn khuyên hạn chế tham dự vào các quyết định chính trị. Ông vẫn tách rời khỏi chính trị và tránh bàn cãi công luận, không đảm nhận vị trí công chúng nào trong hầu hết các vấn đề quốc gia. Hầu như trong tất cả các trường hợp, Thiên hoàng Chiêu Hòa chỉ đơn giản phê chuẩn các chính sách đã được nhóm giật giây gồm các cố vấn và các bộ trưởng soạn ra – các chính sách vào thời đó được áp dụng nhân danh ông.

Vai trò trong Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ đầu trị vì của Thiên hoàng Chiêu Hòa, quân đội Hoàng gia Nhật Bản đã giành được ảnh hưởng chính trị đáng kể. Năm 1931 và 1932, Quân Quan Đông (đơn vị quân đồn trú ở vùng Mãn Châu của Trung Quốc) đã chiếm Mãn Châu Quốc mà không cần sự chấp thuận trước của chính phủ Nhật Bản. Về mặt cá nhân, Thiên hoàng thỉnh thoảng vẫn lộ ra vẻ không hài lòng về quyền lực đang tăng của quân đội. Chẳng hạn như tháng 2 năm 1936 ông đã hạ lệnh đàn áp các sỹ quan quân đội cấp tiến đang nổi dậy chống chính phủ dân sự ở Tokyo. Dù quan điểm như thế, Thiên hoàng Chiêu Hòa vẫn ít có hành động ngăn chặn việc quân đội Nhật Bản đang dần tiến đến một cuộc chiến toàn diện với Trung Quốc xảy ra năm 1937 (Chiến tranh Trung-Nhật thứ hai). Việc Thiên hoàng xuất hiện trước công chúng với bộ quân phục, theo dõi diễn tập quân sự hoặc duyệt quân trên con bạch mã của mình đã làm tăng cường sự ủng hộ chiến tranh của nhân dân Nhật.

Việc bành trướng của quân đội Nhật Bản trong thập niên 1930 đã dẫn đến việc Nhật Bản tham chiến vào cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tháng 12 năm 1941, khi các máy bay chiến đấu của Nhật Bản đã bất ngờ tấn công hạm đội hải quân Hoa Kỳ ở Trận Trân Châu Cảng tại Hawaii. Dù Thiên hoàng Chiêu Hòa đã không sốt sắng trong việc quyết định tham chiến, ông cũng đã hài lòng bởi một loạt các chiến công của quân đội Nhật Bản sau chiến thắng Trân Châu Cảng và ông đã phát triển một mối liên kết mạnh mẽ với tướng Tōjō Hideki, bộ trưởng chiến tranh. Đến đầu mùa Hè năm 1945, sau khi Đức đầu hàng Đồng Minh, thất bại dường như là điều sắp xảy ra đối với quân Nhật. Chính phủ Nhật Bản đã chia rẽ sâu sắc giữa các lãnh đạo quân đội và hải quân và các quan chức dân sự Nhật Bản, những người muốn thương lượng cho hòa bình. Thiên hoàng có vẻ như nghiêng về phía phe chủ hòa nhưng ông không đứng ra hòa giải bế tắc giữa phe chủ chiến và phe chủ hòa cho đến giữa tháng 8, sau khi Hoa Kỳ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống các thành phố HiroshimaNagasakiLiên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Bản Suzuki Kantaro đã hỏi ý kiến Thiên hoàng Chiêu Hòa liệu Nhật có nên tiếp tục chiến đấu vì hòa bình, và ông đã quyết định chấp nhận yêu cầu của Đồng Minh "đầu hàng vô điều kiện" bao gồm trong Tuyên bố Potsdam ban hành tháng 7. Thiên hoàng Chiêu Hòa đã phá vỡ tiền lệ im lặng của Thiên hoàng trước đây và đã thông báo sự đầu hàng của Nhật Bản trên đài phát thanh phát ngày 15 tháng 8 năm 1945 (giờ Nhật Bản).

Chiêu Hòa và các cố vấn của mình sợ rằng ông có thể bị xét xử về tội ác chiến tranh, đã cố đặt ông ở xa các mối liên hệ với sự lãnh đạo quân sự thời chiến. Nhưng Douglas MacArthur, tướng Mỹ đặc trách chỉ huy các lực lượng chiếm đóng của Đồng Minh đã cảm thấy rằng việc đặt Thiên hoàng vào đúng cương vị sẽ giúp giải quyết ổn thỏa sự dân chủ hóa của Nhật Bản. MacArthur đã thấy vị Nhật hoàng này là một biểu tượng của sự ổn định và hòa hợp có giá trị đối với dân Nhật và ông đảm bảo rằng Thiên hoàng Chiêu Hòa sẽ không bị truy tố ở phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh bắt đầu năm 1946.

Vai trò và hình ảnh sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một nỗ lực hồi sinh nền quân chủ, tháng giêng năm 1946, Thiên hoàng Chiêu Hòa đã thông báo trên đài truyền thanh rằng ông không thừa nhận thần thoại rằng Thiên hoàng là thần thánh. Năm 1947, ông đã công bố một bản hiến pháp sửa đổi cho Nhật Bản do lực lượng chiếm đóng Hoa Kỳ soạn và đã được Quốc hội Nhật Bản thông qua, theo đó chủ quyền được giao cho nhân dân và quy định Thiên hoàng chỉ là một biểu tượng của dân tộc.

Giữa thời kỳ 1946 và 1951 Thiên hoàng Chiêu Hòa đã đi khắp Nhật Bản, thăm các trường học, nhà máy, hầm mỏ và các nơi công cộng khác để khảo sát sự tiến bộ của công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh và đã giành được sự nể phục của dân chúng đối với thiết chế quân chủ. Báo chí quốc gia Nhật Bản, lần đầu tiên được cho phép chụp ảnh hoàng gia, đã mô tả hoàng gia là nồng ấm và gần gũi, thích thú cuộc sống bình thường của giai cấp trung lưu. Cuộc điều tra công luận thập niên 1950 đã cho kết quả thái độ tích cực chung của công chúng đối với Thiên hoàng.

Là một vị hoàng đế của một nước dân chủ, ông đã tiếp tục bày tỏ các chính kiến riêng của mình nhưng không gây ảnh hưởng chính thức lên các công việc của chính phủ. Ông thực hiện những công việc lễ nghi theo quy định của bản hiến pháp năm 1947 như làm chủ tọa khi khai mạc và bế mạc quốc hội; tiếp các đại sứ nước ngoài trình quốc thư; tham dự các sự kiện quốc gia bao gồm Thế vận hội Tokyo 1964Triển lãm Quốc tế 1970. Năm 1971, Thiên hoàng Chiêu Hòa đã đi một vòng 7 nước châu Âu và trở thành vị Thiên hoàng đang trị vì đầu tiên đi ra nước ngoài. Trong các chuyến đi này ông gặp phải cuộc biểu tình thù địch ở các nước châu Âu. Ông được đón tiếp thân thiện hơn trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 1975. Tuy nhiên, nghi vấn về trách nhiệm của ông trong vai trò của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai vẫn còn mạnh mẽ.

Trong những năm tháng cuối đời, người ta thường thấy ông ngồi ở chỗ ngồi Thiên hoàng ở các trận thi đấu vật sumo, cẩn thận ghi chép những người thua và người thắng. Ông đã viết nhiều sách về sinh học hải dương, một đề tài suốt đời ông quan tâm. Thiên hoàng Chiêu Hòa qua đời năm 1989 sau một thời gian ốm đau dài. Thái tử Akihito lên thay, đặt niên hiệu là Bình Thành.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Câu chuyện về Nhật hoàng Hirohito và công cuộc xây dựng nước Nhật Bản hiện đại
  2. ^ Ở Nhật Bản, một đương kim Nhật hoàng được gọi là "Thiên hoàng Bệ hạ" (天皇陛下 Tennō Heika?) hoặc "Kim thượng Bệ hạ" (今上陛下 Kinjō Heika?).
  3. ^ a ă â Mục từ Hirôhitô trong Bách khoa toàn thư Việt Nam
  4. ^ Hiến pháp Nhật Bản năm 1947
  5. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959). The Imperial House of Japan, p. 337.
  6. ^ Ponsonby-Fane, p. 338; 'see File:Crowd awaiting Crown Prince Tokyo Dec1916.jpg, New York Times. 3 tháng 12 năm 1916.
  7. ^ a ă Varley, H. Paul, ed. (1980). Jinnō Shōtōki ("A Chronicle of Gods and Sovereigns: Jinnō Shōtōki of Kitabatake Chikafusa" translated by H. Paul Varley), p. 44. [A distinct act of senso is unrecognized prior to Emperor Tenji; and all sovereigns except Jitō, Yōzei, Go-Toba, and Fushimi have senso and sokui in the same year until the reign of Go-Murakami;] Ponsonby-Fane, p. 350.
  8. ^ Ponsonby-Fane, p. 349.
  9. ^ Ponsonby-Fane, pp. 136–137.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Behr, Edward Hirohito: Behind the Myth, Villard, New York, 1989. - A controversial book that posited that Hirohito had a more active role in WWII than had publicly been portrayed; it contributed to the re-appraisal of his role.
  • Bix, Herbert P. (2000). Hirohito and the Making of Modern Japan. New York: HarperCollins. 10-ISBN 0-06-019314-X; 13-ISBN 978-0-06-019314-0; OCLC 247018161 A scholarly and copiously sourced look at the emperor's role.
  • Drea, Edward J. (1998). “Chasing a Decisive Victory: Emperor Hirohito and Japan's War with the West (1941-1945)”. In the Service of the Emperor: Essays on the Imperial Japanese Army. Nebraska: University of Nebraska Press. ISBN 0-8032-1708-0. 
  • Fujiwara, Akira, Shōwa Tennō no Jū-go Nen Sensō (Shōwa Emperor's Fifteen-year War), Aoki Shoten, 1991. ISBN 4-250-91043-1 (Based on the primary sources)
  • Hoyt, Edwin P. Hirohito: The Emperor and the Man, Praeger Publishers, 1992. ISBN 0-275-94069-1
  • Kawahara, Toshiaki Hirohito and His Times: A Japanese Perspective, Kodansha International, 1997. ISBN 0-87011-979-6 (Japanese official image)
  • Mosley, Leonard Hirohito, Emperor of Japan, Prentice-Hall, Englewood Cliffs, 1966. ISBN 1-111-75539-6 ISBN 1-199-99760-9, The first full-length biography, it gives his basic story.
  • Ponsonby-Fane, Richard Arthur Brabazon. (1959). The Imperial House of Japan. Kyoto: Ponsonby Memorial Society. OCLC 194887
  • Wetzler, Peter Hirohito and War: Imperial Tradition and Military Decision Making in Prewar Japan, University of Hawaii Press, 1998. ISBN 0-8248-1925-X
  • Yamada, Akira, Daigensui Shōwa Tennō (Shōwa Emperor as Commander in Chief), Shin-Nihon Shuppansha, 1994. ISBN 4-406-02285-6 (Based on the primary sources)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]