Douglas MacArthur

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Douglas MacArthur
Douglas MacArthur smoking his corncob pipe.jpg

Douglas MacArthur năm 1945
Tiểu sử
Sinh


Little Rock, Arkansas
Mất


Washington, D.C.
Binh nghiệp
Phục vụ United States Department of the Army Seal.svg Lục quân Hoa Kỳ
Năm tại ngũ 19031937, 19411951
Cấp bậc Army-USA-OF-10.svgThống tướng lục quân
Chỉ huy Thiếu úy Công binh Lục quân Hoa Kỳ
Tổng Giám thị Học viện Quân sự Hoa Kỳ
Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ
Bộ Quân sự Philippines
Tổng Lực lượng Viễn Đông Hoa Kỳ
Tư lệnh Tối cao Lực lượng Đồng minh Thái Bình Dương
Tham chiến Cuộc diễn chinh Pancho Villa năm 1916
Đệ nhất Thế chiến
Đệ nhị Thế chiến
Chiến tranh Triều Tiên
Khen thưởng Huân chương Vinh dự
Bội tinh Đóng góp Đặc biệt (3)
Huân Chương Đóng góp Đặc biệt (Lục Quân) (5)
Huân Chương Đóng góp Đặc biệt (Hải quân)
Nhân dũng Bội tinh
Ngôi sao Bạc (7)
Ngôi sao Đồng
Purple Heart (2)
Order of the Rising Sun

Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 - 5 tháng 4 năm 1964) là một vị tướng của Hoa Kỳ và là Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippines Army). Ông là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1930 và sau đó đã đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. MacArthur đã nhận được Huân chương Danh dự. Ông được bổ nhiệm chỉ huy cuộc xâm chiếm Nhật Bản mà đã được hoạch định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Nhưng khi thấy không còn cần thiết nữa, MacArthur chính thức chấp nhận sự đầu hàng của Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945.

MacArthur giám sát cuộc chiếm đóng Nhật Bản từ 1945 đến 1951 và được công nhận vì những đóng góp cho những thay đổi dân chủ sâu rộng của đất nước này. Ông chỉ huy Tổng lực lượng quân sự do Liên hiệp quốc lãnh đạo để bảo vệ Nam Triều Tiên trước sự tấn công của Bắc Triều Tiên từ 1950–1951. MacArthur bị Tổng thống Harry Truman cắt chức tư lệnh tháng 4 năm 1951 vì không nghe lời thượng cấp liên quan đến việc ông không tuân theo các chỉ thị của tổng thống.

Ông được biết đến với câu nói quân sự nổi tiếng: "In war, there is no substitute for victory" (Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng). MacArthur đã chiến đấu trong 3 cuộc chiến lớn (Đệ nhất Thế chiến, Đệ nhị Thế chiến và Chiến tranh Triều Tiên) và là một trong 5 người được phong quân hàm Thống tướng (General of the Army).

Tuổi thơ và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Douglas MacArthur sinh ra tại Little Rock, Arkansas năm 1880. Cha mẹ của ông là Trung tướng Arthur MacArthur, Jr. là người được tưởng thưởng Huân chương Vinh dự, và Mary Pinkney Hardy MacArthur từ Norfolk, Virginia. Douglas MacArthur là cháu của chính trị gia Arthur MacArthur, Sr. Ông được làm lễ rửa tội (báp têm) tại Nhà thờ Giáo hội Episcopal (Anh giáo) ở Little Rock vào ngày 16 tháng 5 năm 1880. Trong hồi ký Reminiscences, MacArthur viết rằng trí nhớ đầu tiên của ông là tiếng kèn quân đội, và ông đã học "cưỡi và bắn ngay trước khi tôi có thể đọc hoặc viết, gần như trước khi tôi có thể đi và nói chuyện."

Cha của MacArthurwas đồn trú ở San Antonio, Texas năm 1893. Ở đó, Douglas học ở Học viện Quân sự Tây Texas (West Texas Military Academy nay là The Episcopal School of Texas) nơi ông trở thành một học sinh xuất sắc. MacArthur vào Học viện Quân sự Hoa Kỳ ở West Point năm 1898. Là một học viên nổi bật, ông tốt nghiệp hạng nhất trong lớp 93 người năm 1903. Vì có năng lực về thể thao, huấn luyện quân sự, và theo đuổi sự học nên ông được tặng thưởng danh hiệu mà nhiều người thèm muốn đó là "Đệ nhất Thủ lĩnh Đoàn Học viên" (First Captain of The Corps Of Cadets)[1]. Chỉ có hai học viên trong lịch sử Học viện West Point vượt qua những thành tựu của ông trong đó Robert E. Lee là một. MacArthur trở thành một thiếu úy trong Công binh Lục quân Hoa Kỳ (United States Army Corps of Engineers).

Trong thời gian ông làm viên chức kỹ sư ở Milwaukee, Wisconsin, ông bị đáng giá thấp vì ông không thích nhiệm vụ được giao phó. Sự việc thay đổi khi ông nhận công tác mới làm phụ tá trại (Aide-de-camp) cho cha ông, người được bổ nhiệm vào chức Toàn quyền khi Philippines là sở hữu của Hoa Kỳ. Từ năm 1904 đến 1914, MacArthur được bổ nhiệm vào các nhiệm vụ về kỹ thuật tại Philippines, Panama và Hoa Kỳ.

Cuộc viễn chinh Pancho Villa[sửa | sửa mã nguồn]

MacArthur có các hành động anh dũng trong Cuộc viễn chinh Pancho Villa năm 1916–1917 bao gồm một vụ rượt đuổi xe hỏa ngược về phía phòng tuyến Mỹ. Ông được tưởng thưởng cho công trạng này. Vì những thành tựu của ông, ông được giao phó nhiệm vụ khác với Bộ tham mưu Lục quân và có trách nhiệm trông coi Văn phòng Vệ binh Quốc gia (National Guard Bureau) trong Bộ Chiến tranh (War Department). Đầu năm 1917, trước khi Hoa Kỳ tham gia trong Đệ nhất Thế chiến, MacArthur được thăng cấp hai bậc từ thiếu tá lên đại tá và được yêu cầu tổng động viên các đơn vị Vệ binh Quốc gia sẵn sàng cho nguy cơ chiến tranh tại hải ngoại.

Đệ nhất Thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Chuẩn tướng MacArthur tại một Lâu đài Pháp tháng 9 năm 1918

Trong Đệ nhất Thế chiến MacArthur phục vụ tại Pháp với vai trò tham mưu trưởng Sư đoàn Bộ binh 42 Hoa Kỳ. Ngay khi được thăng chuẩn tướng, ông trở thành tư lệnh Lữ đoàn Bộ binh 84. Vài tuần trước khi chiến tranh kết thúc, ông trở thành tư lệnh sư đoàn. Trong chiến tranh, MacArthur được tưởng thưởng hai Huân chương Thập tự Chiến công Xuất sắc (Distinguished Service Crosses), bảy Huân chương Sao Bạc (Silver Stars), một Huân chương Chiến công Xuất sắc (Distinguished Service Medal), và hai huân chương Quả tim Tím (Purple Hearts).

Douglas MacArthur luôn theo chính sách của ông là "dẫn... quân từ mặt trận". Vì chính sách này, và thực tế là ông luôn từ chối mang mặt nạ phòng hơi độc trong lúc đa số trong hàng ngũ của ông mang mặt nạ nên ông bị vấn đề hô hấp trong suốt cuộc đời còn lại của mình. Hơn nữa ông là sĩ quan được khen thưởng nhiều thứ hai trong cuộc chiến (sau đại tá "Wild Bill" Donovan). Tướng Charles T. Menoher có lần nói rằng ông là một "người lính chiến đấu vĩ đại nhất" trong quân đội. Tuy nhiên, vì hành động liều mạng của ông, ông cũng nhiều lần bị cấp trên của ông quở trách trong đó có Tướng John Pershing, tư lệnh Lực lượng Viễn chinh Mỹ rất quan ngại về tư lệnh chiến trường của mình. Tuy nhiên MacArthur cảm thấy rằng ông ta bị nhắm mục tiêu vì các hành động anh hùng của ông và ông càng ngày càng trở nên "dị ứng" với Pershing trong những năm sau đó vì việc ông bị "đè đầu".

Sau Đệ nhất Thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

MacArthur có một thời gian khó khăn tìm một vị trí toàn thời gian trong quân đội cũng giống như nhiều giới chức quân sự sau Đệ nhất Thế chiến. Điều này làm cho ông chán nản tuyệt vọng. Tuy nhiên, ông được phép giữ cấp bậc thời chiến của mình không như những người khác bị đổi xuống cấp bậc vĩnh viễn thấp hơn. Ông dùng các mối quan hệ của cha mình cũng như của chính ông để tìm kiếm một nhiệm vụ thích hợp. Một nhiệm vụ được đề nghị là trở thành một tùy viên quân sự trong Văn phòng Đặc trách người Bản địa (Bureau of Indian Affairs). Ông giữ được cấp bậc của mình sau chiến tranh phần lớn là nhờ vào Tướng Tham mưu trưởng Lục quân Peyton March. Năm 1919 MacArthur trở thành Giám Đốc của Học viện Quân sự Hoa Kỳ ở West Point. Học viện này đã lỗi thời trong nhiều khía cạnh và rất cần được cải tổ. MacArthur ra lệnh thay đổi ngoạn mục trong các hệ thống kỷ luật, thể thao và chiến lược; ông hiện đại hóa chương trình học tập, thêm vào các môn nghệ thuật tự do, các khóa kinh tế và chính phủ.

Năm 1922, John Pershing trở thành Tham mưu trưởng Lục quân, và MacArthur nhận thấy rằng đời binh nghiệp của ông sang một khúc quanh khi ông được trông đợi là sẽ nhận nhiệm vụ tại hải ngoại. Từ 1922 đến 1930, MacArthur phục vụ hai lượt nhiệm vụ tại Philippines, lần thứ hai là tư lệnh Bộ Quân sự Philippines (1928–1930); ông cũng phục vụ hai vòng nhiệm vụ với vai trò tư lệnh các vùng quân sự tại Hoa Kỳ. Năm 1925, ông được thăng thiếu tướng, giới chức quân sự trẻ nhất trong cấp bậc này vào thời đó, và phục vụ trong tòa án quân sự kết án chuẩn tướng Billy Mitchell. Năm 1928, ông lãnh đạo Ủy ban Thế vận hội Hoa Kỳ cho Thế vận hội Mùa hè 1928 tại Amsterdam.

Các cuộc hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng MacArthur lập gia đình hai lần. Ông kết hôn lần đầu với bà Henrietta Louise Cromwell Brookson vào ngày 14 tháng 2 năm 1922 - người vợ đã li dị của Walter Brooks, Jr., và là con gái gọi Edward T. Stotesbury, một nhà ngân hàng giàu có ở Philadelphia, bằng cha dượng. Bà chấp thuận li dị với ông vào năm 1929 với lý do ông đã không lo được cho bà. Sau đó bà kết hôn với Lionel Atwill và mất vào tháng tám năm 1973. Em trai của bà, James H. R. Cromwell, là chồng của Doris Duke.

MacArthur kết hôn với Jean Marie Faircloth từ Murfreesboro, Tennessee ngày 30 tháng 4 năm 1937. Bà sinh ngày 28 tháng 12 năm 1898 tại Nashville, Tennessee và mất 22 tháng 1 năm 2000) và là một người nhân đức, một nhà hoạt động xã hội. Bà học ở Đại học Ward-Belmont. Ông bà sống với nhau cho đến khi ông mất vào năm 1964. Trong những năm sau này, bà thường hay diễn thuyết về cuộc đời binh nghiệp của người chồng quá cố của bà. Bà mất vì già ở tuổi 101 tại Thành phố New York.

Con trai duy nhất của họ là Arthur sinh ngày 21 tháng 2 năm 1938 tại Manila. Arthur tốt nghiệp Đại học Columbia vào năm 1961.

Đoàn quân đòi Bổng lộc[sửa | sửa mã nguồn]

Hành động gây tranh cãi nhất xảy ra năm 1932 khi Tổng thống Herbert Hoover ra lệnh cho ông giải tán Đoàn quân đòi bổng lộc (Bonus Army) gồm các cựu chiến binh đang tập trung tại thủ đô biểu tình chống chính quyền. MacArthur bị chỉ trích vì dùng hơi cay, xe tăng, kị binh với kiếm khỏi vỏ và bộ binh với lưỡi lê giương lên để giải tán những người biểu tình. Theo Tướng MacArthur, cuộc biểu tình là do cộng sản và những kẻ theo chủ nghĩa hòa bình chủ mưu, ông còn tuyên bố là chỉ có "một trong mười người là cựu chiến binh." Hai cựu chiến binh bị bắn chết, hai trẻ em chết vì hít hơi cay và hàng ngàn người bị thương.

Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Franklin D. Roosevelt gia hạn bổ nhiệm MacArthur với tư cách Tham mưu trưởng (Chief of Staff) trong thời Đại Khủng hoảng. Vào lúc MacArthur chấm dứt vòng nhiệm vụ của ông với tư cách Tham mưu trưởng vào tháng 10 năm 1935, quân đội đứng hàng thứ 16 về quân số trong các quân đội trên thế giới với 13.000 sĩ quan và 126.000 binh sĩ hiện dịch. Chương trình chính của MacArthur bao gồm việc phát triển các kế hoạch tổng động viên mới, thiết lập một tổng hành dinh lưu động cho không quân, và tái tổ chức bốn quân đoàn để cải thiện hành chính một cách hữu hiệu. Ông ủng hộ chương trình cải tổ kinh tế gọi là New Deal bằng việc hăng hái điều hành các Đoàn Bảo tồn Dân sự (Civilian Conservation Corps). Ông mang theo ông nhiều sĩ quan nửa đời binh nghiệp tài giỏi, bao gồm George C. MarshallDwight D. Eisenhower. Tuy nhiên, MacArthur tạo nhiều kẻ thù là thành viên của chính phủ Roosevelt và thường hay tranh cãi với Tổng thống vì các ý kiến mạnh mẽ của ông. Sau khi hồi hưu, ông quay lại cấp bậc chuẩn thường trực là thiếu tướng và chấp thuận một vai trò mới ở Philippines.

Thống tướng của Quân đội Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Thịnh vượng chung Philippines giành được tư cách bán độc lập vào năm 1935, Tổng thống Philippines Manuel L. Quezon yêu cầu MacArthur giám sát việc thành lập quân đội Philippines. Là một tướng quân, MacArthur không chọn hồi hưu và vẫn có tên trong danh sách hiện dịch là một thiếu tướng và với sự đồng thuận của Rosevelt, MacArthur nhận nhiệm vụ. MacArthur đã làm bạn với Quezon khi cha của ông làm Toàn quyền Philippines. MacArthur có hai điều kiện trước khi nhận nhiệm sở: lương bổng của ông và nhà ở của ông phải như là của tổng thống. Ông cảm thấy có lý do cho việc đó vì ngôi nhà mà Quezon đang dùng trước đây là nhà mà Douglas đã biết khi còn là một đứa bé, đó là Dinh Malacanang. Dinh này từng là nhà của Toàn quyền Tây Ban Nha, Toàn quyền Mỹ và tất cả các Tổng thống Philippines đến ngày nay. Ngoài ra, MacArthur được phong hàm Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippine Army). Ông là sĩ quan cao cấp có tên trên danh sách của Quân đội Philippines ngày nay—ông cũng là sĩ quan quân sự Mỹ duy nhất giữ cấp bậc thống tướng trong Quân đội Philippines.

Chính phủ Philippines quyết định cấp cho MacArthur một phòng lớn ở Khách sạn Manila danh tiếng của thế giới. Khách sạn được chính quyền Philippines làm chủ. Nó nằm trên Vịnh Manila bên kia công viên của Câu lạc bộ Hải quân và Lục quân là nơi ông thích lui tới. Nó cũng tiện vì gần tòa đại sứ Hoa Kỳ. Những kế toán chính phủ quyết định cách tốt nhất để kết toán giá phòng là làm như MacArthur là một nhân viên của khách sạn để hưởng quyền lợi về chỗ ở. MacArthur được trao chức phận danh dự là "Tổng giám đốc". MacArthur làm ngơ với chức phận danh dự và nắm quyền điều hành khách sạn trong lúc ông ở đó. Phòng MacArthur vẫn còn tồn tại ở khách sạn. Mặc dù Manila là một trong các thành phố bị tàn phá nặng nề nhất qua các cuộc oanh kích của Nhật Bản trong Đệ nhị Thế chiến, khách sạn vẫn còn nguyên vẹn. Phòng MacArthur được dành cho sĩ quan quân sự cao cấp nhất trên quần đảo. MacArthur đưa ra lệnh tương tự cho các phi công Mỹ khi Philippines được tái chiếm.

MacArthur đầu tư mạnh vào công nghiệp và khai khoáng của Philippines. Trước khi Ngân hàng Quốc gia Philippines (Philippine National Bank) ở Thành phố New York đóng cửa sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, MacArthur đã kịp bán hết cổ phần của mình và đổi hết tiền Peso Philippines sang đô la Mỹ.

Trong số các phụ tá của MacArthur làm cố vấn quân sự cho Thịnh vượng chung Philippines là Dwight D. Eisenhower. (vài năm sau đó, Eisenhower được hỏi là có biết MacArthur không thì ông trả lời như sau: "Biết ông ấy à? tôi đã học hỏi nhiều ấn tượng dưới quyền của ông ấy trong bảy năm!")

Tháng 7 năm 1941, Roosevelt gọi ông trở lại nhiệm vụ hiện dịch trong Quân đội Hoa Kỳ với tư cách là một thiếu tướng và đặc cách ông làm tư lệnh của Tổng lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ ở Viễn Đông và thăng chức ông lên hàm trung tướng vào ngày hôm sau. Tháng 12, ông trở thành đại tướng bốn sao khi Nhật Bản tấn công khắp mặt trận rộng lớn trong Thái Bình Dương.

Đệ nhị Thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đệ nhị Thế chiến
MacArthur viếng thăm Hạ nghị viện Úc tháng ba năm 1942

Sau khi Hoa Kỳ vào cuộc trong Đệ nhị Thế chiến, MacArthur trở thành tư lệnh Đồng Minh tại Philippines. Ông gây nhiều tranh cãi trong nhiều vụ, đặc biệt khi ông gạt bỏ ý kiến của tư lệnh không quân của ông là Tướng Lewis H. Brereton xin lệnh mở các cuộc không kích của Hoa Kỳ chống các căn cứ Nhật Bản trên đất Đài Loan lân cận theo một kế hoạch ban đầu trước chiến tranh. MacArthur từ chối, ngược lại lệnh khẩn cấp của ông[2][3], và thay vì thế ông lại ra lệnh cất các máy bay để tránh chúng bị Nhật Bản tấn công tiêu diệt; phân nửa tổng số máy bay bị phát hiện và bị tiêu diệt trong lúc tiếp nhiên liệu[4], mở màn cho một cuộc tấn công chiếm đóng của Nhật Bản trên đất Philippines. Có một số người không tin vào những nhận định của Tướng Brereton về các sự kiện này. Trong hồi ký của Geoffrey Perret có tựa là Old Soldiers Never Die (Những người lính xưa không bao giờ chết) cho rằng trường hợp này là do sự lơ là của các sĩ quan cấp trung, đơn giản là họ thích phong cảnh ở Căn cứ Không quân Clark. Những người khác như nhà viết tiểu sử Alan Schom thì tuyên bố rằng MacArthur tự tách biệt khoảng mấy giờ đồng hồ sau khi nhận được báo cáo về vụ Tấn công Trân Châu Cảng và từ chối họp mặt hay ra lệnh cho Tướng Brereton phân tán các máy bay Mỹ[5].

Một trong các lỗi lầm lớn nhất của MacArthur là phòng thủ Luzon. Bộ Tham mưu đã nhận định trước chiến tranh rằng phòng thủ là không thực tiễn. Vì vậy, kế hoạch đối phó với một cuộc tấn công đổ bộ của Nhật Bản là thi hành một cuộc rút lui trật tự các lực lượng cùng với trang thiết bị và dự trữ về pháo đài vững chắc trên bán đảo Bataan. Tuy nhiên, MacArthur vứt bỏ kế hoạch này khi quân đội Nhật Bản tấn công đổ bộ vì ông nghĩ rằng ông có thể đánh bại quân Nhật trên chiến trường. Tuy vậy quân Nhật liên tiếp đánh vào sườn lực lượng của ông bằng cách đưa trận chiến ra biển, đánh rồi rút quanh lực lượng của ông. Cuối cùng, lực lượng Hoa Kỳ tháo chạy mà không có đồ dự trữ tiếp liệu và lương thực mà họ cần để về pháo đài Bataan. Sau một cuộc kháng cự kéo dài nhiều tháng, họ bắt buộc phải đầu hàng, đơn giản là vì hết lương thực.

Tổng hành dinh của MacArthur trong chiến dịch Philippines 1941–1942 nằm trên pháo đài đảo Corregidor; chuyến đi duy nhất của ông đến tiền tuyến ở Bataan khiến ông thành đề tài cho biệt danh và bài hát ngắn chế diễu "Dugout Doug" (Douglas trốn dưới hầm). Tuy nhiên, pháo đài của MacArthur được đánh dấu rõ và là mục tiêu của các cuộc không kích của Nhật Bản cho đến khi Manuel Quezon nhắc nhở MacArthur "đừng để chính ông ta gặp nguy hiểm". Tháng ba năm 1942, khi lực lượng Nhật Bản xiết chặt vòng vây trên lãnh thổ Philippines, MacArthur được lệnh của Tổng thống Roosevelt rời Philippines sang Melbourne, Úc sau khi Tổng thống Quezon đã rời Philippens. Cùng với vợ ông, con trai bốn tuổi và một nhóm cố vấn, tư lệnh quân sự cấp dưới được chọn, MacArthur cuối cùng tháo chạy khỏi Philippines trên tàu PT 41 do Đại úy John D. Bulkeley chỉ huy và vượt thoát thành công một cuộc săn đuổi qui mô của Nhật tìm kiếm ông. MacArthur đến Mindanao vào ngày 13 tháng 3 và lên oanh tạc cơ Pháo đài Bay B-17 ba ngày sau đó. Ngày 17 tháng 3, ông đến Sân bay BatchelorLãnh thổ Bắc của Úc cách Darwin 60 dặm (100 km) về phía nam trước khi bay đến Alice Springs nơi ông đáp xe lửa Ghan đến Adelaide, Nam Úc. Bài diễn văn nổi tiếng của ông trong đó ông nói "I came out of Bataan and I shall return" (Tôi đến từ Bataan và tôi sẽ trở lại) được viết ở Terowie, Nam Úc ngày 20 tháng 3. Trong thời gian đó, Tổng thống Quezon trao tặng MacArthur Huân chương Bội tinh Philippines (Philippine Distinguished Conduct Star).

MacArthur được tặng thưởng Huân chương Vinh dự (Medal of Honor) vì lãnh đạo phòng thủ Philippines. Arthur và Douglas MacArthur là cha con đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Vinh dự. Cả hai vẫn là cha con duy nhất được như thế cho đến năm 2001 khi Theodore Roosevelt được tặng thưởng một sau khi mất vì đã phục vụ trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ. Theodore Roosevelt, Jr. đã nhận được một vì phục vụ trong Đệ nhị Thế chiến.

Tướng MacArthur trở lại Philippines

MacArthur được bổ nhiệm là Tư lệnh Tối cao Tổng lực lượng Đồng Minh trong Vùng Tây Nam Thái Bình Dương (Southwest Pacific Area). Thủ tướng Úc là John Curtin đặt MacArthur trong vai trò tư lệnh quân sự Úc. Lực lượng Úc, theo sau cuộc bao vây Philippines, đạt quân số đông hơn tổng lực lượng Mỹ của MacArthur. Tổng lực lượng Đồng Minh dưới quyền tư lệnh của ông bao gồm một con số nhỏ các nhân sự từ Đông Ấn thuộc Hà Lan và các nước khác. Một trong các nhiệm vụ đầu tiên của MacArthur là trấn an người Úc vì họ sợ một cuộc xâm lăng của Nhật Bản. Chiến cuộc vào lúc này chủ yếu là xung quanh và tại New Guinea và Đông Ấn thuộc Hà Lan. Vào ngày 20 tháng 7 năm 1942, Tổng hành dinh của Vùng Tây Nam Thái Bình Dương được dời sang Brisbane thuộc bang Queensland, Australia, đóng trong tòa nhà của Hiệp hội Bảo hiểm AMP (sau này hay được gọi là Trung tâm MacArthur).

Các chiến thắng của Úc ở Trận Vịnh MilneChiến dịch Kokoda Track xảy ra cuối năm 1942, đây là các chiến thắng đầu tiên của các lực lượng Đồng Minh trên bộ khắp nơi chống Nhật Bản. Khi được báo cáo rằng Sư đoàn 32 Hoa Kỳ, một đơn vị Vệ binh Quốc gia thiếu kinh nghiệm của Hoa Kỳ, tỏ ra thiếu khả năng trong cuộc tấn công của Đồng Minh vào Buna và Gona là các vị trí đổ bộ chính của Nhật Bản tại miền đông bắc New Guinea, MacArthur ra lệnh cho tư lệnh Quân đoàn I Hoa KỳRobert L. Eichelberger nắm giữ quyền chỉ huy trực tiếp các cuộc hành quân của Đồng Minh:

Bob, tôi đưa anh đến chỉ huy tại Buna. Hãy cách chức Harding... tôi muốn anh loại bỏ tất cả sĩ quan nào không muốn chiến đấu. Hãy cách chức các chỉ huy trung đoàntiểu đoàn; nếu cần, đưa trung sĩ phụ trách tiểu đoàn và hạ sĩ chỉ huy đại đội... Bob, tôi muốn anh chiếm được Buna, hoặc đừng sống sót trở về... Và cũng như vậy đối với tham mưu trưởng của anh luôn.[6]

Tư lệnh tổng lực lượng trên bộ của Đồng Minh, Tướng Thomas Blamey, không muốn Sư đoàn 41 Hoa Kỳ, một đơn vị Vệ binh Quốc gia khác cũng thiếu kinh nghiệm, tiếp viện cuộc công kích Gona, và thay vào đó yêu cầu Lữ đoàn 21 Úc được phái tới vì "ông biết là họ sẽ chiến đấu"[7]. Tuy nhiên, một trung đoàn của Sư đoàn 41 Hoa Kỳ được phái đến Gona.

Tháng ba năm 1943, Tham mưu trưởng liên quân chấp thuận chiến lược lớn của MacArthur, được biết với tên gọi Chiến dịch Cartwheel, nhắm mục tiêu chiếm căn cứ chính của Nhật Bản ở Rabaul với quan điểm chiến lược là dùng nó như các căn cứ tiền phương. Trong năm 1944 chiến lược này được thay đổi và Rabaul bị bỏ qua để mặc. Ban đầu, phần lớn các lực lượng trên bộ của ông là người Úc, nhưng lực lượng quân sự Hoa Kỳ đến mỗi ngày một đông, bao gồm Thủy quân lục chiến, Quân đoàn 6 (lực lượng Alamo), và sau đó cả Quân đoàn 8. Ngoài ra, ông đưa thêm vào cuộc một số lượng lớn các tàu ngầm được triển khai trong những nhiệm vụ được gọi là "tàu ngầm du kích" (guerrilla submarine)[8] và tấn công đường hàng hải Nhật Bản[9].

Tướng Mc Athur ký văn bản chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản vào ngày 2 tháng 9 năm 1945

Việc MacArthur sử dụng không lực trong chiến dịch New Guinea được nhiều sử gia xem là lần đầu tiên lợi dụng sức mạnh không quân để ảnh hưởng chiến cuộc trên bộ. Cuộc tiến công của các lực lượng trên bộ của ông trên bờ biển dài 1.500 dặm (2.400 km) theo trình tự đặc biệt trên các vùng đất được chọn sẵn có khả năng biến thành các đường phi đạo cho máy bay hỗ trợ chiến thuật. Bằng cách tiến quân từng bước một luôn trong tầm của các máy bay oanh tạc chiến đấu của mình (tiêu biểu là P-38 Lightning), ông có thể duy trì được lợi thế không quân cho các chiến dịch trên bộ của ông. Điều này đã cung cấp trợ chiến bằng không quân gần kề và tối hệ trọng (oanh tạc các vị trí quân địch) và cũng không cho kẻ địch tiếp tế bằng đường biển và đường không, chia cắt hữu hiệu các lực lượng Nhật Bản khi chúng bị tấn công. Chiến tranh trên bộ thời hiện đại dựa vào khái niệm này, người đầu tiên thực hiện hoàn hảo là tư lệnh tổng lực lượng không quân của MacArthur là Tướng Không lực Hoa Kỳ George Kenney[3][10].

Tổng lực lượng Đồng Minh dưới quyền tư lệnh của MacArthur đổ bộ lên Đảo Leyte vào ngày 20 tháng 10 năm 1944 thực hiện lời hứa của MacArthur là trở lại Philippines. Họ cũng cố vị trí trên quần đảo trong Trận Luzon sau trận đánh ác liệt và mặc dù có một cuộc phản công bằng hải quân rất lớn của Nhật Bản trong trận vịnh Leyte. Với việc tái chiếm quần đảo, MacArthur dời tổng hành dinh của mình về Manila nơi ông thông báo kế hoạch xâm chiếm Nhật Bản cuối năm 1945. Cuộc xâm chiếm được đánh phủ đầu bằng vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki và vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, MacArthur tiếp nhận sự đầu hàng chính thức của Nhật Bản kết thúc Đệ nhị Thế chiến.

MacArthur được thăng cấp bậc mới là Thống tướng ngày 18 tháng 12 năm 1944. Bộ quân hàm 5 sao Thống tướng đầu tiên của ông được một thợ bạc người Philippines làm vào tháng 12 năm 1944 bằng cách nấu chảy các đồng tiền bằng bạc của Hoa Kỳ, Philippines, Anh, Úc và Hòa Lan, những quốc gia mà có quân dưới quyền tư lệnh của ông lúc đó.

Tổng thống Philippines Sergio Osmeña cũng trao tặng ông phần thưởng quân sự cao quí nhất của Philippines, đó là Anh dũng Bội tinh (Medal of Valor).

Nhật Bản sau Đệ nhị Thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng MacArthur và Thiên hoàng Hirohito.

Ngày 29 tháng 8 năm 1945, MacArthur được lệnh áp đặt quyền lực xuyên suốt bộ máy hành chính của triều đình Nhật Bản trong đó có cả Thiên hoàng Hirohito (1901 - 1989)[11]. Nhiều người tin rằng MacArthur có thể đã góp phần rất lớn trong lịch sử suốt 5 năm rưỡi với vai trò Tư lệnh Tối cao Tổng lực lượng Đồng Minh tại Nhật Bản.

Tuy nhiên, một vài sử gia chỉ trích việc làm của ông khi tha tội cho Thiên hoàng Hirohito và tất cả các thành viên của Hoàng gia dính líu với chiến tranh như Thân vương Chichibu Yasuhito (秩父宮雍仁親王, Chất Phụ cung Ung Nhân Thân vương), Vương tước Asaka Yasuhiko (朝香宮鳩彦王, Triều Hương cung Cưu Ngạn vương), Vương tước Takeda Tsunehisa (竹田宮恒徳王, Trúc Điền cung Hằng Đức vương) và Vương tước Higashikuni Naruhiko (東久邇宮 稔彦王, Đông Cửu Nhĩ cung Nhẩm Ngạn vương) khỏi truy tố tội phạm chiến tranh[12]. Ngày 26 tháng 11 năm 1945, MacArthur xác nhận với Đô đốc Mitsumasa Yonai (米內光政, Mễ Nội Quan Chính) rằng việc Thiên hoàng thoái vị là không cần thiết[13]. MacArthur miễn tội Hirohito và làm lơ khuyến cáo của nhiều thành viên hoàng gia và giới trí thức Nhật Bản công khai đòi Thiên Hoàng thoái vị và thực thi chế độ nhiếp chính. Thí dụ, Thân vương Mikasa Takahito (三笠宮崇仁, Tam Lạp cung Sùng Nhân), em trai út của Thiên hoàng Hirohito đã đứng lên trong một cuộc họp riêng vào tháng 3 năm 1946 hối thúc vua anh nhận lãnh trách nhiệm bại trận, trong khi đó nhà thơ nổi tiếng là Tatsuji Miyoshi (三好達治, Tam Hảo Đại Trị) viết một bài luận trong tạp chí Shinchô với tựa đề "Thiên hoàng nên thoái vị mau"[14].

Theo sử gia Herbert Bix, "MacArthur và Bonner Fellers đã soạn thảo kế hoạch của riêng mình trong việc chiếm đóng và cải tổ Nhật Bản."[15] "Tóm lại, MacArthur không đưa ra một chính sách mới nào đối với Thiên Hoàng; ông chỉ tiếp tục chính sách có sẵn trong năm cuối cùng của Chiến tranh Thái Bình Dương, rồi bỏ qua những ý định trong chính sách đó khi hoàn cảnh xung quanh thay đổi"[16]. Chương trình có mật danh là "Operation Blacklist" (Chiến dịch Sổ đen) nhằm vào việc tách biệt Thiên hoàng Hirohito khỏi giới quân phiệt, giữ Hirohito như một biểu tượng hình thức và dùng hình ảnh Thiên hoàng để mang đến sự cải biến dân tộc Nhật Bản[17].

Theo Bix, "vài tháng trước khi tòa án Tội phạm chiến tranh Tokyo bắt đầu mở phiên xét xử thì các thuộc cấp cao cấp nhất của MacArthur đã làm việc để qui trách nhiệm Vụ tấn công Trân Châu Cảng cho Hideki Tojo"[18]. Nói về các cuộc tranh luận giữa Tổng thống Truman, Tướng Eisenhower và Tướng MacArthur, Bix cho rằng "ngay khi đổ bộ lên đất Nhật Bản, Bonner Fellers tiến hành làm việc để bênh vực Hirohito khỏi vai trò mà Thiên hoàng đã làm trong suốt và cuối chiến tranh" và "cho phép những nghi can tội phạm chiến tranh chính hợp tác dựng chuyện để Thiên Hoàng được miễn truy tố"[19].

Theo John Dower, "Chiến dịch thành công trong việc miễn quy trách nhiệm chiến tranh cho Thiên hoàng không có giới hạn. Thiên hoàng Hirohito không chỉ được xem như một kẻ vô tội về bất cứ hành động chính thức nào mà có thể khiến ông bị đưa ra xét xử và truy tố như một tội phạm chiến tranh. Ông được biến thành một khuôn mặt gần như thánh thiện, thậm chí không cần chịu trách nhiệm đạo đức đối với chiến tranh." "Với sự hỗ trợ toàn lực từ tổng hành dinh của MacArthur, cơ quan truy tố làm việc hiệu quả như là một nhóm bào chữa cho Thiên hoàng"[20].

Tướng Douglas MacAthur năm 1945

Đối với những người ngưỡng mộ, những cảm xúc sâu sắc của MacArthur đối với nước Nhật bại trận có thể được thấy rõ trong những tấm hình chụp lễ tiếp nhận đầu hàng trong đó cờ của Thiếu tướng Hải quân Matthew Calbraith Perry (1794–1858) được trưng bày rõ nét. Là một hậu duệ của gia đình Perry ở Massachusetts và là một người bà con với Matthew Calbraith Perry, MacArthur ắt phải tự xem mình là một người mở cửa Nhật Bản lần thứ hai hơn là một người chinh phục quốc gia này. MacArthur và tổng hành dinh của ông giúp nước Nhật hoang tàn tự tái thiết, thiết lập một chính phủ dân chủ, và phác họa một hướng đi làm cho Nhật Bản trở thành một trong các cường quốc công nghệ hàng đầu của thế giới. Hoa Kỳ kiểm soát chặt chẽ để trông coi sự tái thiết của Nhật Bản, và MacArthur là một lãnh đạo lâm thời rất có hiệu quả của Nhật Bản từ năm 1945 đến 1948. Năm 1946, bộ tư lệnh của MacArthur soạn thảo một bản hiến pháp mới từ bỏ chiến tranh và giảm vị thế của Thiên hoàng xuống thành một biểu tượng hình thức; hiến pháp này vẫn còn được sử dụng tại Nhật cho đến ngày nay. Ông cũng thúc ép Nghị viện Nhật thực hiện chương trình phân quyền (decentralization) để tách nhỏ các công ty lớn của Nhật và khuyến khích thành lập các công đoàn Nhật Bản đầu tiên.

Những chương trình tái thiết đã gây báo động cho nhiều người ở Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vì họ tin rằng chúng mâu thuẫn với viễn tưởng của nước Nhật (và năng lực công nghiệp của Nhật Bản) như một tường thành ngăn chặn sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản tại châu Á[21]. Một số các cải cách của MacArthur, như bộ luật lao động, bị hủy bỏ vào năm 1948 khi việc kiểm soát Nhật Bản đơn độc của ông chấm dứt vì có sự can dự ngày càng nhiều từ Bộ Ngoại giao. MacArthur trao quyền lại cho chính phủ mới thành lập của Nhật vào năm 1949 và vẫn ở Nhật Bản cho đến khi bị Tổng thống Harry S. Truman triệu hồi ngày 11 tháng 4 năm 1951. Truman thay thế MacArthur bằng Tướng Lục quân Hoa Kỳ Matthew Ridgway. Khoản 1952, Nhật Bản là một quốc gia có chủ quyền dưới hiến pháp dân chủ mà MacArthur đã thúc ép. Hiến pháp này đã có hiệu lực kể từ năm 1947.

Cuối năm 1945, các ủy viên quân sự Đồng Minh đưa ra xét xử 4.000 sĩ quan Nhật Bản vì tội phạm chiến tranh. Khoảng 3.000 lãnh án tù và 920 bị hành quyết; các cáo buộc bao gồm Vụ thảm sát Nam Kinh, Đường tử thần BataanThảm sát Manila. Những người chỉ trích cho rằng Tướng Yamashita Tomoyuki, Tư lệnh Nhật Bản tại Philippines, mất quyền kiểm soát quân lính của ông cho nên ông không đáng bị hành quyết. Thực tế, những người có trách nhiệm là dưới quyền của Nguyên soái Hisaichi Terauchi. Sau cùng, vì ông không từ chức nên người ta tìm ra trách nhiệm tư lệnh của ông để áp đặt trách nhiệm pháp lý cho hành động của quân Nhật; trường hợp này trở thành một tiền lệ được biết với tên gọi Chuẩn Yamashita (Yamashita Standard). Chuẩn tương tự được áp dụng trong trường hợp của Tướng Homma cũng bị xét xử và bị treo cổ vì những hành động tàn bạo trong vụ Đường tử thần tại Bataan. Thực tế, Tướng Homma lúc đó đang dẫn quân chiếm Corregidor. PBS (Hệ thống truyền thông công cộng ở Hoa Kỳ) có lần gọi các vụ xử án này là "vội vàng"[22].

Cuối chiến tranh, MacArthur bí mật miễn tội cho các bác sĩ trong Đơn vị 731 để đổi lấy thông tin cung cấp cho Hoa Kỳ những nghiên cứu của họ về vũ khí sinh học. Kết quả là chỉ có một người đứng ra nhắc về những thí nghiệm của Nhật Bản với "huyết thanh độc" lên dân thường Trung Hoa được nghe thấy trong tòa án tội phạm chiến tranh Tokyo vào tháng 8 năm 1946. Người thực hiện việc này là David Sutton, phụ tá của công tố viên Trung Hoa.

Chiến lược được đề nghị của MacArthur để chiến thắng Chiến tranh Lạnh là áp dụng một chiến lược quốc phòng "Pháp đài Mỹ" tập trung vào việc bảo vệ Tây Bán Cầu tương tự các chính sách mà những người theo chủ nghĩa biệt lập chủ trương như Robert Taft kết hợp với một chính sách ngoại viện cho tất cả các quốc gia chống lại chủ nghĩa cộng sản (tại châu Á cũng như châu Âu). Giống như Thượng nghị sĩ Taft, Tướng MacArthur chống đối mạnh mẽ NATO.

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, như một phần việc Nhật Bản đầu hàng, Hoa Kỳ đồng ý với Liên Xô chia Bán đảo Triều Tiên theo vĩ tuyến 38 độ bắc. Kết quả của việc này là tạo nên hai nước: Đại Hàn Dân Quốc thân tây phương (thường được gọi là "Nam Triều Tiên"), và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên liên kết với Xô-viết (gọi chung là "Bắc Triều Tiên"). Sau khi quân đội của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tấn công bất ngờ vào ngày 25 tháng 6 năm 1950, Chiến tranh Triều Tiên bắt đầu. Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ủy nhiệm một lực lượng Liên Hiệp Quốc giúp Nam Triều Tiên. MacArthur chỉ huy liên minh phòng thủ của Liên hiệp Quốc và sau đó phản công. Đáng ghi nhớ là một cuộc đổ bộ từ biển vào đất liền thành công vượt mức và táo bạo phía sau phòng tuyến của Bắc Triều Tiên trong Trận Inchon. Cuộc đổ bộ tác chiến thành công thọc vào sườn quân đội Bắc Hàn, buộc quân Bắc Hàn tháo chạy tán loạn về phía bắc. Các lực lượng Liên hiệp Quốc truy kích các lực lượng Bắc Hàn cuối cùng đến Sông Áp Lục là biên giới chung giữa Bắc Hàn và Trung Hoa.

Ngày 19 tháng 11 năm 1950, với phần lớn lực lượng Bắc Hàn bị tiêu diệt, các lực lượng quân sự Trung Hoa vượt Sông Áp Lục, đánh tan các lực lượng Liên hiệp Quốc và buộc họ rút lui trên một lộ trình dài. Gọi việc can thiệp của Trung Hoa là sự bắt đầu của "một cuộc chiến tranh toàn diện mới," MacArthur liên tiếp yêu cầu cho phép không kích nguồn tiếp vận, quân đội và các máy bay ở Mãn Châu bằng vũ khí thông thường và ông cũng yêu cầu được phép triển khai vũ khí nguyên tử tại Bắc Hàn. Chính phủ của Tổng thống Truman sợ rằng một hành động như vậy sẽ gây nguy cơ leo thang chiến tranh thành cuộc xung đột toàn diện với Trung Hoa và có thể lôi cuốn Liên Xô vào cuộc xung đột. Giận dữ vì việc Truman muốn duy trì một cuộc "chiến tranh giới hạn," MacArthur bắt đầu phát biểu trước báo chí truyền thông, cảnh báo họ về một cuộc bại trận chí mạng.

Tháng 3 năm 1951, sau một cuộc phản công của lực lượng Liên hiệp Quốc dưới quyền tư lệnh của Matthew B. Ridgway lần nữa đã xoay chiều hướng chiến tranh theo phần lợi thế về Liên hiệp Quốc, Truman ra hiệu cho MacArthur ý định của ông là đề xướng các cuộc hội thảo ngưng bắn. Tin mới đã kết thúc những hy vọng mà vị tướng quân này luôn giữ bên mình là muốn lãnh đạo một cuộc chiến toàn diện chống Trung Hoa, và MacArthur nhanh chóng tự mình đưa ra tối hậu thư cho Trung Hoa. Tuyên bố của MacArthur gây nguy cơ mở rộng chiến tranh và đó cũng là những lời khuyến cáo mà các Tổng tự lệnh gởi cho Truman. Mặc dù điều này hoàn toàn làm tiêu tan các hy vọng cho một cuộc ngưng bắn nhưng ông chỉ nhận một lời khiển trách nhẹ nhàng.[23] Truman rõ ràng có đủ lý do khi thủ lĩnh Đảng Cộng Hòa tại Hạ viện (Joseph W. Martin) đọc một lá thư của MacArthur công khai nêu lên những quan điểm mà gây áp lực cho Washington, nhưng Truman quyết định chờ đợi lời từ các Tổng tư lệnh. Khoảng tháng tư, các Tổng tư lệnh quyết định MacArthur phải ra đi vì nhiều lý do quân sự—họ đã mất lòng tin trong chiến lược của ông[24], đấy là lúc Truman hành động. Như Bernstein lý luận, MacArthur chưa bao giờ thách thức sự phân quyền của hiến pháp.[25]

Ngày 11 tháng 4 năm 1951, Tổng thống Truman thu hồi chức tư lệnh quân sự của Tướng MacArthur, dẫn đến một loạt tranh cãi. Tướng Matthew B. Ridgway thay thế MacArthur. Chiến tranh tiếp tục trong bế tắc khoảng thêm hai năm với hàng ngàn thương vong gần vĩ tuyến 38 độ.

Trở về Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

MacArthur trở về Washington, D.C. (lần đầu tiên trên Hoa Kỳ Lục địa trong 11 năm) nơi ông xuất hiện trước công chúng lần cuối cùng trong bài diễn văn chia tay bị gián đoạn với 30 lần hoan hô nhiệt liệt trước Quốc hội Hoa Kỳ.[26] Trong lời cuối kết thúc diễn văn, ông nhắc lại lời bài hát đã có từ trước: "Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ mờ nhạt dần." "Và giống như người lính già của bài hát đó, bây giờ tôi đóng lại đời binh nghiệp của tôi và mờ nhạt dần — một người lính già đã cố sức mình làm tròn bổn phận của mình khi Thượng đế ban cho tôi ánh sáng để tôi thấy được bổn phận đó. Xin tạm biệt."

Trên đường từ Triều Tiên trở về sau khi bị Tổng thống Truman triệu hồi, MacArthur nhận được vô số lời tán dương của công chúng làm nảy sinh viễn tưởng là ông sẽ ra tranh cử tổng thống trong tư cách một người của Đảng Cộng hòa trong lần bầu cử tổng thống năm 1952. Tuy nhiên, một cuộc điều tra việc cách chức ông của Ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ do Richard Brevard Russell, Jr. làm chủ tịch góp phần làm cho trạng thái hồ hởi của công chúng lúc ban đầu bị nguội dần, và những hy vọng cho một cuộc chạy đua vào chức tổng thống của MacArthur chết dần. Trong hồi ký Reminiscences, MacArthur luôn nói rằng ông không có những tham vọng về chính trị.

1952 đến mất[sửa | sửa mã nguồn]

Đài tưởng niệm MacArthur
Mộ MacArthur

Trong cuộc chạy đua để được đề cử thành ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa, MacArthur không phải là một ứng viên và thay vào đó ông ủng hộ Thượng nghị sĩ Robert Taft của tiểu bang Ohio.[27]; nhiều tin đồn cho rằng Taft đề nghị MacArthur vào trong liên danh của mình là ứng viên phó tổng thống. Taft đã thuyết phục MacArthur trở thành một người người phát biểu quan trọng tại đại hội đảng. Bài diễn văn không nhận được nhiều ủng hộ lắm. Taft mất đề cử về tay của Dwight Eisenhower; MacArthur im lặng trong suốt thời gian tranh cử mà kết quả là Eisenhower chiến thắng thật vẽ vang. Khi đắc cử tổng thống, Eisenhower có hội kiến với MacArthur và thực hiện lời đề nghị đe dọa sử dụng vũ khí nguyên tử để kết thúc chiến tranh.[28]

Năm 1956, Thượng nghị sĩ Joseph Martin đưa ra một đề nghị thăng chức MacArthur lên cấp bậc tướng 6 sao; tuy nhiên, điều này gây ra vấn đề với Tổng thống Dwight D. Eisenhower, và rồi việc này cũng chìm luôn trong Thương viện Hoa Kỳ. MacArthur trở thành lãnh đạo của Công ty Remington Rand và trải qua phần còn lại của cuộc đời mình tại New York. Ông thực hiện "chuyến đi đầy cảm xúc" ngoạn mục đến Philippines năm 1961 khi ông được Tổng thống Carlos P. Garcia trao tặng Philippine Legion of Honor dành cho Tham mưu trưởng.

Tổng thống John F. Kennedy khẩn cầu hội kiến với MacArthur năm 1961. Cuộc họp đầu tiên trong hai cuộc họp xảy ra chẳng bao lâu sau Cuộc xâm nhập Vịnh Con heo. MacArthur chỉ trích gay gắt Pentagon và ban cố vấn quân sự của họ cho Kennedy. MacArthur cũng nhắc nhở vị tổng thống trẻ tránh một cuộc gia tăng quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam, chỉ rõ rằng các vấn đề trong nước nên được nhiều ưu tiên hơn.

MacArthur và người vợ thứ hai của ông, Jean Faircloth, trải qua những năm cuối cùng của họ với nhau trong một căn phòng của Khách sạn Waldorf-Astoria. Sau khi ông mất, Jean tiếp tục sống ở đó cho đến khi mất. Hai người được chôn kề bên nhau tại trung tâm thành phố Norfolk, Virginia; nơi an nghĩ của họ nằm trong gian phòng tròn của một nhà tưởng niệm/viện bảo tàng (trước kia là Đại sảnh Thành phố Norfolk) dành tưởng nhớ ông, và có một khu trung tâm mua sắm chính (MacArthur Center) đặt tên của ông phía bên kia đường của khu tưởng niệm. Theo viện bào tàng, Tướng MacArthur chọn được chôn tại Norfolk vì tổ tiên của mẹ ông có mối liên hệ với thành phố.

MacArthur muốn gia đình ông nhớ đến ông hơn là một người lính. Ông nói, "Về nghiệp vụ thì tôi là một người lính và thấy tự hào về sự thật này. Nhưng tôi tự hào hơn—tuyệt đối tự hào hơn—là một người cha. Một người lính phá hủy để xây dựng; người cha chỉ xây mà không bao giờ phá. Một người có tiềm năng gây ra cái chết; người khác là hiện thân của sự tạo ra và cuộc sống. Và trong khi bầy lũ chết chóc mạnh bạo, những đoàn lớp của sự sống lại càng mạnh mẽ hơn (while the hordes of death are mighty, the battalions of life are mightier still). Đấy chính là niềm hy vọng của tôi rằng con trai của tôi, khi tôi qua đời, sẽ mãi nhớ đến tôi không phải là từ chiến trận mà là ở nhà với nó, cùng đọc lời cầu nguyện đơn giản hàng ngày của chúng tôi, 'Father who art in heaven."[29]

Cháu trai của MacArthur, Douglas MacArthur II (con trai của người em của ông) phục vụ với vai trò ngoại giao khoảng vài năm, bao gồm vị trí Đại sứ ở Nhật Bản và một số nước khác.

Năm 1945, MacArthur tặng cầu vai quân hàm Lâu đài Vàng quí giá, một đồ vật cá nhân, cho Kỹ sư trưởng của ông là Thiếu tướng Leif J. Sverdrup. Nó hiện được các Kỹ sư trưởng (người chỉ huy Công binh Lục quân Hoa Kỳ) mang như một truyền thống.

Các nơi được đặt tên MacArthur[sửa | sửa mã nguồn]

  • Học viện Tự do Douglas MacArthur, một nhánh nới rộng của Đại học Howard Payne tại Brownwood, Texas. Có một tượng khổ người thật của MacArthur đứng phía trước tòa nhà. Huân chương Vinh dự của Douglas MacArthur được trưng bày thường xuyên trong Phòng trưng bày MacArthur cùng với một bộ sưu tập những hiện vật có quan hệ với ông bao gồm những thanh kiếm từ Philippines và Nhật, một bộ ống điếu, và nhiều thứ cá nhân khác.
  • Công trường Trung tâm MacArthur (MacArthur Central plaza) to lớn ở dưới phố Brisbane tại tiểu bang Queensland, Australia được đặt tên của ông và có biểu tượng của nó là năm sao cấp bậc của ông. Bảo tàng MacArthur [2], mở cửa cho công chúng vào năm 2004 nằm trong tòa nhà Trung tâm MacArthur.
  • Một bức tượng MacArthur dựng tại bến cảng Inchon ở Nam Triều Tiên năm 1957 đã trở thành một nơi tranh cãi giữa một số nhóm dân sự coi ông là một tội phạm chiến tranh và đòi dẹp bức tượng của ông, và một số nhóm cựu chiến binh coi ông là một vị anh hùng và biểu tượng của tất cả lực lượng Liên hiệp Quốc và Triều Tiên đã hy sinh.[30] Ẩu đả giữa hai nhóm đã buộc chính quyền Triều Tiên đem quân đội đến bảo vệ bức tượng. Tháng 11 năm 2006, một lãnh đạo chống đối Tượng MacArthur bị bắt.[31]
  • Có hai cây cầu và một con đường được đặt tên của MacArthur tại Đài Loan. Ông là một trong ba người ngoại quốc duy nhất được đặt tên cho một địa danh ở Đài Loan, hai người kia là Franklin RooseveltGeorge Leslie Mackay. Con đường nằm ở Đài Bắc, mặt dù bây giờ nó đã được đổi tên. Hai cây cầu kia vẫn còn giữ tên của MacArhur.
  • Mặt dù có biến thể trong cách đánh vần, Đại lộ McArthur (đáng lẽ là MacArthur) ở St. Louis, Missouri được đặt tên ông. Nó chạy từ Đại lộ Goodfellow đến Đường Darby.
  • Đại lộ MacArthur Boulevard là một đoạn của Xa lộ Liên tiểu bang 580 ở California và một Giao điểm Xa lộ MacArthur tại Oakland, California được đặt theo tên ông. Một trạm của hệ thống trung chuyển nhanh vùng vịnh (Bay Area rapid transit) tại Oakland được đặt tên ông. Đường hầm phía nam của Cầu Kim Môn trên Xa lộ 1 nơi nó đi băng qua Presidio trong thành phố San Francisco được đặt tên ông.
  • Irving, Texas là nhà của Trung học MacArthur cùng nằm trên Đại lộ MacArthur. Phần nam của thị trấn là nhà của Trung học Nimitz, biến Irving là thành phố duy nhất có các trung học đặt tên của hai nhà lãnh đạo cao cấp nhất trong Đệ nhị Thế chiến.
  • Trường Tiểu học MacArthur tại El Paso, Texas được đặt tên ông.
  • Đường MacArthur là một đường vòng dài 8 dặm Anh (13 km) uốn quanh phần phía tây của Alexandria, Louisiana. Cho đến khi Căn cứ Không quân Anh Quốc (England Air Force Base) đóng cửa vào năm 1992, Đường MacArthur giúp nối nó với Trại Beauregard nằm trong phần đông bắc của Alexandria và là một cơ sở vật chất chính của Vệ binh Quốc gia Louisiana.
  • Trung tâm MacArthur là một khu thương xá chính nằm trên cao được đặt tên ông. Nó nằm bên kia đường nơi chôn cất và khu tưởng niệm MacArthur ở Norfolk, Virginia.
  • Đại lộ MacArthur là xa lộ chính tại Thành phố Oklahoma, tiểu bang Oklahoma, và kết thúc tại học viện đào tạo Quản lý Hàng không Liên bang (Federal Aviation Administration) ở đó.
  • Trường Trung học MacArthur ở Lawton, Oklahoma.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ William M. Leary (2001). MacArthur and the American Century: A Reader. University of Nebraska Press. tr. xv. 
  2. ^ Costello, Days of Infamy
  3. ^ a ă Manchester, American Caesar
  4. ^ Caidin, Ragged, Rugged Warriors
  5. ^ Alan Schom, "The Eagle and the Rising Sun: The Japanese-American War 1941–1943.
  6. ^ Eichelberger at Buna: A Study in Battle Command
  7. ^ Ham, "Kokoda" and Brune, "A Bastard of a Place"
  8. ^ Adamson and Dissette, Guerrilla Submarines
  9. ^ Blair, Silent Victory
  10. ^ Perret, Geoffrey. Old Soldiers Never Die: The Life and Legend of Douglas MacArthur. Random House: 1996. ISBN 0-679-42882-8
  11. ^ James 2:783
  12. ^ John Dower, Embracing defeat, 1999, Herbert Bix, Hirohito and the making of modern Japan, 2000
  13. ^ Dower, ibid. p.323
  14. ^ Dower, ibid. p.321, 322.
  15. ^ Herbert Bix,Hirohito and the making of modern Japan,p. 544
  16. ^ Ibid., p. 545
  17. ^ Bix p. 545
  18. ^ Bix, ibid., p.585
  19. ^ ibid., p.583
  20. ^ Dower, ibid. tr. 326.
  21. ^ Michael Schaller, The American Occupation of Japan (Oxford, 1985)
  22. ^ Philip R. Piccigallo, The Japanese on Trial: Allied War Crimes Operations in the East, 1945–1951 U Texas Press; The Tokyo War Crimes Trials (1946–1948), PBS (truy cập 21 tháng 4 năm 2006)
  23. ^ James 3:588
  24. ^ James 3:591, 594–595
  25. ^ Barton J. Bernstein, The Truman Administration and the Korean War," in Michael J. Lacy, ed. The Truman Presidency (1989) p 436; James 3:589–599. Bradley, the JCS chairman, concluded that MacArthur "has stretched but had not violated any JCS directives." Omar Bradley, A General's Life (1982) p 634
  26. ^ Text and audio
  27. ^ James 3: 648–652
  28. ^ James 3:653–655.
  29. ^ In Emerson Roy West, Vital Quotations (1968) p.118
  30. ^ [1][[]][liên kết hỏng]
  31. ^ Reprobate Activist Held for Espionage[[]][liên kết hỏng]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • United States Army service record of Douglas MacArthur, National Personnel Records Center, St. Louis, Missouri
  • Duffy, Bernard K. and Ronald H. Carpenter. Douglas MacArthur: Warrior as Wordsmith. Greenwood Press, 1997. ISBN 0-313-29148-9.
  • James, D. Clayton. The Years of MacArthur Volume I, 1880–1941 (1970) (ISBN 0-395-10948-5); The Years of MacArthur: vol. 2 1941–45 (1975); (ISBN 0-395-20446-1); The Years of Macarthur: Volume 3: Triumph and Disaster 1945–1964 (1985)(ISBN 0-395-36004-8); Houghton, Mifflin. the stanadard biography
  • Leary, William M. MacArthur and the American Century: A Reader. University of Nebraska Press: 2001. ISBN 0-8032-2930-5. essays by historians
  • Leary, William M. We Shall Return!: Macarthur's Commanders and the Defeat of Japan, 1942–1945 (1988)
  • Long, Gavin Merrick; MacArthur as Military Commander (1969)
  • Richard Lowitt; The Truman-MacArthur Controversy (1967)
  • David W. Lutz; "The Exercise Of Military Judgment: A Philosophical Investigation Of The Virtues And Vices Of General Douglas Macarthur." Journal Of Power And Ethics Vol 1, Issue: 1. 2000. pp 68+
  • MacArthur, Douglas. Reminiscences. United States Naval Institute: 2001. ISBN 1-55750-483-0.
  • Manchester, William. American Caesar: Douglas MacArthur 1880–1964. Laurel: 1983. ISBN 0-440-30424-5.
  • Perret, Geoffrey. Old Soldiers Never Die: The Life and Legend of Douglas MacArthur. Random House: 1996. ISBN 0-679-42882-8.
  • Nathan Prefer; Macarthur's New Guinea Campaign (1995)
  • Eugene L. Rasor; General Douglas MacArthur, 1880–1964: Historiography and Annotated Bibliography Greenwood Press, 1994
  • Paul P. Rogers; The Good Years: MacArthur and Sutherland Greenwood Press. 1990, vol 1; vol 2: The Bitter Years: MacArthur and Sutherland (1991). Sutherland was MacArthur's chief of staff, and Rogers was a junior staffer
  • Rowman & Littlefield, General MacArthur: Letters from the Japanese During the American Occupation, ISBN 0-7425-1115-4.
  • Schaller, Michael. Douglas MacArthur: The Far Eastern General. Replica Books: 2001. ISBN 0-7351-0354-2.
  • Howard B. Schonberger; Aftermath of War: Americans and the Remaking of Japan, 1945–1952 Kent State University Press. 1989.
  • Taaffe, Stephen. Macarthur's Jungle War: The 1944 New Guinea Campaign. University Press of Kansas: 1998. ISBN 0-7006-0870-2.
  • Valley, David J. Gaijin Shogun: General Douglas MacArthur, Stepfather of Postwar Japan. Sektor Company: 2000. ISBN 0-9678175-2-8.
  • Dennis D. Wainstock; Truman, MacArthur, and the Korean War Greenwood Press, 1999
  • Weintraub, Stanley. MacArthur's War: Korea and the Undoing of an American Hero. Free Press: 2000. ISBN 0-684-83419-7.
  • Robert Wolfe; Americans as Proconsuls: United States Military Government in Germany and Japan, 1944–1952 Southern Illinois University Press, (1984)
  • Ham, "Kokoda"; Paull, "Retreat from Kokoda"; Brune, Bastard of a Place"; Fitzsimmons "Kokoda"

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]