Quân đội Nhân dân Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Chosŏn inmin'gun
(조선인민군)
NKPA soldiers DD-SD-00-01441.jpg

Binh lính Triều Tiên tại Khu phi quân sự Triều Tiên (K-DMZ) năm 1998
Quân chủng Quân kỳ Lục quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên Lục quân

Quân kỳ Hải quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên Hải quân
Quân kỳ của Không quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên Không quân

  • Tên lửa đạn đạo
  • Đặc công
Lãnh đạo
Tổng tư lệnh tối cao Nguyên soái Kim Jong Un
Bộ trưởng quốc phòng Phó nguyên soái Kim Jong Gak
Tổng tham mưu trưởng Phó nguyên soái Hyon Yong Chol
Lực lượng
Hiện dịch 1,106,000[1] (2010) (xếp thứ 4)
Trừ bị 8,200,000 (2010) (xếp thứ 2)
Chi tiêu
Ngân sách $5–10 tỷ[2][3]
 % GDP ~25% (năm 2010)
Các bài có liên quan
Lịch sử Chiến tranh Triều Tiên
Quân đội Nhân dân Triều Tiên
Hangul 조선인민군
Hanja (Hán tự) 朝鮮人民軍
McCune-Reischauer Chosŏn Inmingun
Romaja quốc ngữ Joseon Inmingun

Quân đội Nhân dân Triều Tiên là lực lượng quân sự của Triều Tiên, gồm 5 nhánh: Lục quân, Hải quân, Không quân, Tên lửa đạn đạo và Đặc công. Đây được xem là một trong những lực lượng quân đội đông nhất thế giới, đứng thứ 4 trên thế giới về quân số, với khoảng 1,1 triệu người trong lực lượng chính quy.[4] Nó cũng có một lực lượng dự bị khoảng 8 triệu người. Ngân sách quốc phòng của Triều Tiên ước tính vào khoảng là 5,217 tỉ USD (2002), ước tính chiếm khoảng 22,9% GDP (2003).

Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Triều Tiên là Kim Jong-un, Nguyên Soái, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, Chủ tịch Quân ủy TW

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Nhân dân Triều Tiên được thành lập chính thức vào ngày 8 tháng 2 năm 1948 với sự giúp đỡ của Liên Xô (bấy giờ đảng Cộng sản Trung Quốc còn chưa giành được quyền kiểm soát toàn bộ Trung Hoa lục địa). Tiền thân của Quân đội Nhân dân Triều Tiên là lực lượng Quân Tình nguyện Triều Tiên, các lực lượng du kích chống đế quốc Nhật, những cựu chiến sĩ người Triều Tiên phục vụ trong Hồng quân của Liên XôHồng quân Công Nông của Trung Quốc thời Mao Trạch Đông. Một trong những nhà lãnh đạo của lực lượng du kích là Kim Nhật Thành, người đã tập hợp một nhóm khoảng 300 lính du kích Triều Tiên hoạt động chống phát xít Nhật ở Mãn Châu. Năm 1978, Kim Nhật Thành, lúc này là lãnh tụ tối cao của Triều Tiên, đã ra sắc lệnh đổi “Ngày thành lập Quân đội” từ ngày 8 tháng 2 thành ngày 25 tháng 4 - là ngày thiết lập lực lượng quân đội du kích chống Nhật năm 1932.

Lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Quân nhân Quân đội Nhân dân Triều Tiên đang gác tại Bàn Môn Điếm.

Giống như quân đội Liên Xô trước đây, quân đội Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên được cấu thành từ 4 bộ phận, trong đó chú trọng phát triển Lục quân, một phần vũ khí đặc biệt, trong khi đó phòng không không quân và hải quân không được phát triển tương xứng.

Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân CHDCND Triều Tiên gồm 924 nghìn người, chiếm 90% quân số toàn quân đội, biên chế thành 153 đơn vị cấp sư đoàn và lữ đoàn với 4 binh chủng:

- Binh chủng bộ binh (60 sư đoàn bộ binh thường, 25 sư đoàn bộ binh cơ giới)

- Binh chủng thiết giáp: 25 lữ đoàn với 1000 T34, 2.200 T54,T55,T59, 600 T62, 2270 xe thiết giáp do LX và TQ viện trợ

- Binh chủng pháo binh: 30 lữ đoàn với 33 nghìn pháo mặt đất và pháo PK các loại. Ngoài ra còn có hàng nghìn đơn vị tên lửa vác vai và xe tên lửa loại SA-7, SA-14, SA-16 do Liên Xô cung cấp.

- Lực lượng vũ khí đặc biệt: cấu thành từ 2 bộ phận: tác chiến và phòng chống chiến tranh hóa học; Tác chiến và phòng chống chiến tranh sinh học. Hiện nay bộ phận này có hàng nghìn đạn pháo mang tác nhân sinh hóa, cũng như nhiều vũ khí sinh hóa có khả năng hủy diệt hàng loạt.

Phòng không - Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng phòng không không quân kể từ đầu 1990 được thống nhất về một mối dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh Không quân quốc gia với 3 cụm tác chiến phòng không không quân hợp thành (gồm các đơn vị rada, tên lửa, trinh sát, tiêm kích, ném bom, vận tải...)

- Sở chỉ huy không chiến số 1 đóng tại Kaech'n (phòng thủ khu vực biên giới Tây-Bắc giáp TQ, biển Hoàng Hải, quân khu Bình Nhưỡng, được trang bị phần lớn tiêm kích đánh chặn MiG-29)

- Sở chỉ huy không chiến số 2 tại Tocksan (phòng thủ vùng biển Nhật Bản và biên giới với Nga)

- Sở chỉ huy không chiến số 3 đóng tại Hwangju (giáp khu phi quân sự)

Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng hải quân biên chế thành 2 hạm đội: Hạm đội Hoàng hải gồm 300 tàu chiến các loại, Hạm đội Đông hải có 470 tàu. Vũ khí đa phần do Liên Xô, Trung Quốc viện trợ và 1 phần tự chế tạo (trước 1990).

Tên lửa đạn đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù không có nhiều vũ khí hiện đại, nhưng Triều Tiên chú trọng phát triển hệ thống tên lửa đạn đạo để tạo thành nền tảng vũ khí chiến lược răn đe. Sức mạnh quân sự càng củng cố thêm khi Triều Tiên được ước đoán có khoảng 84 tên lửa đạn đạo tầm trung, tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, mà phần lớn trong đó là tự chế tạo.

Tên lửa Loại Quốc gia sản xuất Phạm vi hỏa lực Số lượng
FROG-7 Tên lửa đất đối đất  Liên Xô 70 km 24 quả
KN-1 Tên lửa chống hạm  CHDCND Triều Tiên 110[5] - 160 km[6][7][8]  ?
KN-2 Toksa Tên lửa đạn đạo tầm ngắn (SRBM) cải tiến  CHDCND Triều Tiên 120 – 140 km[9] 30 quả
Hwasong-5 SRBM  CHDCND Triều Tiên 330 km ~180
Hwasong-6 SRBM  CHDCND Triều Tiên 700 km >700[10]
Scud-ER 1 SRBM  CHDCND Triều Tiên 800 km  ?
Rodong-1 Tên lửa đạn đạo tầm trung (MRBM)  CHDCND Triều Tiên 1,300 km >200[11]
Rodong-2 MRBM  CHDCND Triều Tiên 2,000 km 50 ?[12]
Taepodong-1 MRBM  CHDCND Triều Tiên 2,500 km 10[13] or 25-30[14]
Taepodong-2 Tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM)  CHDCND Triều Tiên tăng tầm đến 10,000 km; 6,700 km trung bình[15][16][17]  ?
BM25 Tên lửa đạn đạo tầm trung cơ động (IRBM), nhái R-27 Zyb  CHDCND Triều Tiên +2,500 km  ?
Musudan-1 Tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ tàu ngầm (SLBM), nhái R-27 Zyb  CHDCND Triều Tiên 4,000 km  ?
Phạm vi hỏa lực của hệ thống tên lửa đạn đạo Triều Tiên

Đặc công[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu chỉ là một binh chủng, lực lượng đặc công Triều Tiên có hơn 25 lữ đoàn, với hơn 18 vạn binh sĩ, chủ yếu bố trí ở gần khu vực phi quân sự. Có thể nói Triều Tiên có tỷ lệ quân tinh nhuệ vào loại cao nhất thế giới.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Rút kinh nghiệm từ các cuộc chiến tranh Việt Nam, Israel-Ả rập, Bắc Triều Tiên tập trung phát triển các quân đoàn cơ động tại vùng biên giới với Hàn Quốc, đặc biệt là lực lượng đặc công.

Qua các cuộc chiến gần đây như Iraq, Nam Tư, CHDCND Triều Tiên cũng tăng cường xây dựng các hệ thống hầm ngầm kiên cố nhằm bảo vệ quân đội trước các cuộc tập kích có sức phá hủy lớn.

Hệ thống quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống cấp bậc quân hàm của Quân đội Nhân dân Triều Tiên được thành lập ngày 8 tháng 2 năm 1948, tham chiếu hầu như hoàn toàn hệ thống quân hàm của Hồng quân Liên Xô, có bổ sung thêm, gồm 5 nhóm với 18 bậc quân hàm nhưng không đặt quân hàm cấp soái. Đến tháng 2 năm 1953, đặt thêm 2 cấp quân hàm là Phó nguyên soái và Nguyên soái. Cấp bậc Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk Wonsu) phong cho Kim Nhật Thành với vị thế thống soái các lực lượng vũ trang giống như Đại Nguyên soái Stalin của Liên Xô. Cấp bậc Thứ soái (Chasu) phong cho Bộ trưởng Quốc phòng Choi Yong Kun, tương đương với cấp bậc Nguyên soái Liên Xô. Đặc thù hệ thống quân hàm của Quân đội Nhân dân Triều Tiên không có sự khác biệt về tên gọi giữa các nhánh Hải Lục Không quân.

Năm 1992, nhân dịp sinh nhật 80 tuổi của Kim Nhật Thành, một cấp bậc mới được đặt ra có tên gọi là Đại Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk Dae Wonsu) để tôn phong cho ông. Đồng thời con trai ông, Kim Chính Nhật, cũng được tôn phong là Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk Wonsu). Bộ trưởng Quốc phòng bấy giờ là O Chin-u cũng được tôn lên cấp bậc Nguyên soái, nhưng với tên gọi Nguyên soái Quân đội Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Inmin'gun Wonsu).

Phân hạng NATO Nghĩa Việt tương đương Chữ Triều Tiên Phiên âm Ghi chú
Quân hàm cấp soái
OF-10
Đại Nguyên soái
대원수
Dae Wonsu
Kim Nhật Thành (1992), Kim Chính Nhật (truy phong, 2012)
Nguyên soái
원수
Wonsu
Có 2 cấp: Nguyên soái Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk Wonsu) phong cho Kim Chính Nhật (1992), Kim Chính Ân (2012). Nguyên soái Quân đội Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn inmin'gun Wonsu) phong cho O Chin-u (1992), Ch'oe Kwang (1995), Li Ul-sol (1997).
Phó Nguyên soái
차수
Chasu
Còn gọi là Thứ soái. Lập năm 1953. Phong cho Choi Yong Kun (1953), Kim Yong Chun, Cho Myŏng-rok (1995), Ri Yong Ho (2010), Kim Jong Gak (2011), Choe Ryong Hae (2012), Hyon Chol Hae (2012), Hyon Yong Chol (2012)
Quân hàm cấp tướng
OF-9
Đại tướng
대장
Daejang
Một số quân nhân từng thụ phong hàm này là Kim Il Ch'ŏl, Kim Kyok Sik, Kim Jong Un, Kim Kyong Hui, O Kuk Ryol, O Kŭng Nyŏl.
Thượng tướng
상장
Sangjang
O Il Jong, Hwang Pyong So, Pyon In Son, Kim Hyong Ryong
OF-8
Trung tướng
중장
Chungjang
Song Sok Won, Jang Jong Nam
OF-7
Thiếu tướng
소장
Sojang
Một số quân nhân từng thụ phong hàm này là An Ji Yong
OF-6
Quân hàm sĩ quan
OF-5
Đại tá
대좌
Taejwa
Thượng tá
상좌
Sangjwa
OF-4
Trung tá
중좌
Chungjwa
OF-3
Thiếu tá
소좌
Sojwa
OF-2
Đại úy
대위
Taewi
Thượng úy
상위
Sangwi
OF-1
Trung úy
중위
Chungwi
Thiếu úy
소위
Sowi
Quân hàm hạ sĩ quan và binh sĩ
OR-9
Chuẩn úy
특무상사
T'ŭngmu-sangsa
Còn gọi là Đặc vụ Thượng sĩ, Thượng sĩ cao cấp hoặc Thượng sĩ thâm niên, Thượng sĩ niên trưởng.
OR-8
OR-7
Thượng sĩ
상사
Sangsa
OR-6
Trung sĩ
중사
Chungsa
OR-5
Hạ sĩ
하사
Hasa
OR-4
Binh nhất
상급병사
Sanggŭp-pyŏngsa
Còn gọi là Thượng cấp Binh sĩ.
OR-3
중급병사
Chunggŭp-pyŏngsa
Còn gọi là Trung cấp Binh sĩ.
OR-2
Binh nhì
하급병사
Hagŭp-pyŏngsa
Còn gọi là Hạ cấp Binh sĩ.
OR-1
전사
Chŏnsa
Còn gọi là Chiến sĩ.

Trang thiết bị[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối năm 1970, Triều Tiên bắt đầu tổ chức lại quân đội và hiện đai hóa lục quân. Triều Tiên đã bắt đầu chế tạo các loại xe tăng T-62 trang bị pháo 115mm, đây là loại xe tăng chiến đấu chủ yếu của Quân đội Liên Xô trong những năm 1960. Dựa trên xu thế chung và các bức ảnh chụp được ở các cuộc diễu binh của lực lượng vũ trang cho thấy rõ ràng là Triều Tiên đã có những thay đổi đáng kể từ các thiết kế của Liên Xô hay Trung Quốc trong các mẫu xe tăng của họ.

Năm 1980, để quân đội cơ động hơn và hiện đại hơn, nhiều loại xe tăng mới, pháo tự hành, xe bọc thép, xe tải đã được đồng loạt đưa vào trang bị. Lục quân vẫn giữ các loại vũ khí trước đây và bảo quản một số lượng lớn trang thiết bị trong các kho niêm cất, giữ lại các trang bị đã cũ nhưng có sự cải tiến trong các lực lượng chính quy hay trong lực lương dự bị.

Giữa những năm 1980 đến 1992, Triều Tiên đã tổ chức và trang bị lại, được triển khai chủ yếu cho lục quân. Từ giữa các năm 1984 đến 1992, quân đội đã trang bi thêm khoảng 1.000 xe tăng, hơn 2.500 xe APC/IFV, khoảng 6.000 pháo và dàn phóng rốc két. Năm 1992, Triều Tiên đã phát triển gấp đôi số lượng xe tăng và pháo binh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ International Institute for Strategic Studies (3 tháng 2 năm 2010). Trong Hackett, James. The Military Balance 2010. London: Routledge. ISBN 1857435575. 
  2. ^ http://globalfirepower.com/country-military-strength-detail.asp?country_id=North-Korea
  3. ^ http://www.globalsecurity.org/military/world/spending.htm
  4. ^ " Background Note: North Korea", US Department of State, October, 2006.
  5. ^ KN-01 Anti-Ship Cruise Missile, globalsecurity.org
  6. ^ North Korea test-fires short-range barrage, AP, July 2, 2009
  7. ^ North Korea fires four missiles, Jerusalem Post, July 2, 2009
  8. ^ North Korea Missile Chronology 2008/9, NTI.org
  9. ^ North Korea to Deploy New Missile, U.S. Says, NTI.org, July 9, 2007
  10. ^ North Korea test-fires more missiles, says Seoul, CNN, July 4, 2009
  11. ^ In N. Korea, Missiles Herald A Defiant 4th, Washington Post, July 4, 2009
  12. ^ No-Dong The source provides information of the No-Dong (Rodong) program as a whole, although it points out, that total production of Nodong missiles amounts only to 50 units. Since it is known that the Rodong-1 only has been produced in a number, greater than 200, this source probably refers to the Rodong-2.
  13. ^ [1]
  14. ^ Взлет не разрешен, vzgliad.ru, March 27, 2009
  15. ^ FACTBOX: North Korea's Taepodong-2 long-range missile, Reuters, March 13, 2009
  16. ^ North Korea to launch 'satellite' on rocket, welt.de, February 24, 2009
  17. ^ North Korea's Missiles, Radio Free Asia, February 25, 2009

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Quân độichâu Á LocationAsia.png

Afghanistan | Ai Cập | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia2 | Đài Loan (Quân đội Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc 3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanmar | Nepal | Nga1 | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippines | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Thổ Nhĩ Kỳ1 | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen