Mikoyan MiG-29

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
MiG-29
Mig-29 on landing.jpg
MiG-29UB huấn luyện của Không quân Nga
Kiểu Máy bay tiêm kích đa nhiệm
Hãng sản xuất Mikoyan
Chuyến bay đầu tiên 6 tháng 10-1977
Được giới thiệu Tháng 8-1983
Tình trạng Hoạt động tích cực
Hãng sử dụng chính Flag of Russia.svg Không quân Nga
Flag of India.svg Không quân Ấn Độ
Flag of Algeria.svg Không quân Algérie
Flag of Ukraine.svg Không quân Ukraina
Được chế tạo 1982-nay
Số lượng được sản xuất 1257+
Chi phí máy bay 29 triệu USD[1][2]
Những phương án tương tự Mikoyan MiG-29M
Mikoyan MiG-35

Mikoyan MiG-29 (tiếng Nga: Микоян МиГ-29) (tên ký hiệu của NATO "Fulcrum" (Điểm tựa)) là một loại máy bay tiêm kích phản lực thế hệ thứ 4 do Liên Xô (cũ) và Nga (hiện nay) thiết kế chế tạo, MiG-29 được thiết kế cho vai trò chiếm ưu thế trên không. Được phát triển vào thập niên 1970 bởi Phòng thiết kế Mikoyan, nó bắt đầu đi vào hoạt động trong Không quân Xô viết vào năm 1983, và tiếp tục được sử dụng bởi Không quân Nga cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới. Tên gọi "Fulcrum" của NATO không được các phi công Xô viết sử dụng.[3] MiG-29 được thiết kế để đối đầu với những loại máy bay tiêm kích mới của Hoa Kỳ như F-16 Fighting Falcon, và F/A-18 Hornet.

Tới nay, đã có khoảng 1.600 chiếc được sản xuất, 900 trong số đó để xuất khẩu. Một chiếc MiG–29 từng được Nga rao bán với giá 40 triệu USD nhưng nay ở các thị trường, MiG–29 luôn gặp số phận hẩm hiu. Moldova muốn "tống khứ" nốt 6 chiếc MiG-29 còn lại trong biên chế Không quân nước này với một mức giá rẻ bèo, 1 triệu USD/chiếc. Cuối năm 2008, Nga chào bán cho Liban 10 máy bay MiG–29 với mức “chiết khấu lớn” (chỉ có giá ít hơn 5 triệu USD/chiếc) nhưng không được quốc gia này đồng ý. Một phần lý do chính là chi phí bảo dưỡng đắt đỏ, khoảng 5 triệu USD/năm.[4] Trong khi MiG-29 bán ế thì các đối thủ chính của nó, F-16 Fighting Falcon bán rất chạy ở Trung Đông. Do đơn đặt hàng của Oman trị giá tới 3,5 tỷ USD, hãng Lockheed Martin sẽ phải tiếp tục duy trì sản xuất máy bay tiêm kích F-16 cho tới năm 2013-2015. Ả Rập Saudi cũng đặt mua F-15 Silent Eagle do Tập đoàn Boeing chế tạo với trị giá 30 tỷ USD. Quốc gia này cũng đã tuyên bố kế hoạch mua vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự của Mỹ với tổng trị giá lên tới 60 tỷ USD[5]

Sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29UB thuộc đội biểu diễn Swifts Aerobatic Team ('Strizhi')
MiG-29 của Slovakia
MiG-29UB tại triển lãm hàng không Koksijde 2005
MiG-29 Fulcrum B của Đức (tiếp thu từ Đông Đức) và đã bán cho Ba Lan với giá tượng trưng 1 euro 1 chiếc
MiG-29SE của Peru
MiG-29 của Nga trong một triển lãm hàng không

Lịch sử của MiG-29, giống như loại Sukhoi Su-27 "Flanker" lớn hơn, bắt đầu vào năm 1969 khi mà Liên Xô nghiên cứu chương trình 'F-X' của Không quân Hoa Kỳ, kết quả đầu tiên của chương trình này là F-15 Eagle. Giới lãnh đạo của Liên Xô lúc bấy giờ đã nhận thức được những máy bay tiêm kích mới của Mỹ có công nghệ vượt trội hơn hẳn so với máy bay tiêm kích của Liên Xô lúc ấy. MiG-21 "Fishbed" là một mẫu máy bay rất nhanh nhẹn, cơ động so với các mẫu máy bay tiêu chuẩn lúc ấy, nhưng nó lại thiếu tầm bay, vũ khí và khả năng phát triển. MiG-23 "Flogger", được phát triển để làm đối thủ với F-4 Phantom II, MiG-23 rất nhanh và có nhiều không gian bên trong cho nhiên liệu và các linh kiện trang bị, nhưng nó lại thiếu khả năng cơ động và hỗn chiến do khối lượng lớn hơn nhiều so với MiG-21. Liên Xô cần một loại máy bay tiêm kích cân bằng giữa sự nhanh nhẹn, cơ động và hệ thống kỹ thuật hiện đại tinh vi. Kết quả là, Hội đồng bộ trưởng Xô Viết đã đưa ra yêu cầu về đề án PFI (ПФИ - перспективный фронтовой истребитель, có nghĩa là "Máy bay tiêm kích tiền tuyến tiên tiến"). Yêu cầu trên đã bộc lộ nhiều tham vọng về một loại máy bay tiêm kích có phạm vi hoạt động lớn, thích nghi với chiến trường hẹp (bao gồm cả việc cất, hạ cánh trên đường băng xấu), khả năng nhanh nhẹn cơ động cao, có tốc độ Mach 2+, và mang được vũ khí hạng nặng. Phác thảo khí động học cho loại máy bay mới phần lớn được thực hiện ở TsAGI (Viện khí động học Nga), hợp tác với Phòng thiết kế Sukhoi.

Tuy nhiên, vào năm 1971 người Xô Viết nhận thấy loại máy bay PFI có giá thành quá đắt mà họ lại rất cần một số lượng lớn, và chương trình máy bay PFI đã bị chia thành các chương trình TPFI (ТПФИ - тяжёлый ПФИ, có nghĩa là "Máy bay tiêm kích tiền tuyến tiên tiến hạng nặng") và LPFI (ЛПФИ - легкий ПФИ, có nghĩa là "Máy bay tiêm kích tiền tuyến hạng nhẹ"), những chương trình của Liên Xô được tiến hành song song với quyết định cùng thời gian của Không quân Mỹ về chương trình "Máy bay tiêm kích hạng nhẹ" và F-16 Fighting Falcon, YF-17 Cobra. Loại máy bay tiêm kích hạng nặng vẫn được Sukhoi phát triển, kết quả là Su-27 "Flanker", trong khi loại máy bay chiến đấu hạng nhẹ được Mikoyan phát triển. Thiết kế chi tiết của loại máy bay hạng nhẹ được tổng hợp thành Product 9, với tên gọi đầu tiên là MiG-29A vào năm 1974, chuyến bay đầu tiên diễn ra vào ngày 6 tháng 10-1977. Những chiếc MiG-29 tiền sản xuất bị phát hiện đầu tiên bởi những vệ tinh do thám của Mỹ vào tháng 11-1977; và chúng được người Mỹ gán cho mật danh là Ram-L bởi vì nó được quan sát thấy tại Trung tâm thử nghiệm bay Zhukovsky gần thành phố Ramenskoye. Ban đầu Phương Tây đưa ra suy đoán ám chỉ Ram-L có dáng vẻ giống với YF-17 Cobra và động cơ là loại động cơ phản lực tuabin phụ trội Tumansky R-25.

Dù chương trình bị trì hoãn do mất hai nguyên mẫu thử nghiệm do tai nạn động cơ, nhưng phiên bản sản xuất MiG-29B đã đi vào hoạt động chính thức vào tháng 8-1983, tại đơn vị đóng ở căn cứ không quân Kubinka. Những cuộc thử nghiệm công nhận cấp nhà nước hoàn thành vào năm 1984, và những đợt giao máy bay bắt đầu vào cùng năm cho Hàng không tiền tuyến Xô viết.

Khối lượng công việc chia ra giữa TPFI và LPFI trở nên rõ ràng hơn khi MiG-29 được trang bị cho các đơn vị hoạt động ở tiền tuyến của VVS (không quân Xô viết vào giữa thập niên 1980. Trong khi loại tiêm kích hạng nặng, tầm xa Su-27 được giao nhiệm vụ với vai trò nguy hiểm như xuất kích không đối không tấn công các máy bay chiến đấu từ xa cũng như phá hủy các khí tài đắt tiền của Phương Tây ở hậu phương của quân địch, thì MiG-29 nhỏ hơn thay thế trực tiếp cho MiG-23 ở các đơn vị thuộc hàng không tiền tuyến như không chiến trực diện. MiG-29 được bố trí tương đối gần với tiền tuyến, nhiệm vụ của nó là chiếm ưu thế trên không trong một khu vực để hỗ trợ các đơn vị bộ binh cơ giới của Liên Xô. Bộ phận hạ cánh khỏe và vỉ bảo vệ ở khe hút khí vào động cơ giúp MiG-29 có thể hoạt động từ những đường băng bị hư hại chưa được chuẩn bị, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trong cuộc chiến hiện đại thường diễn ra rất nhanh. MiG-29 còn được giao nhiệm vụ bảo vệ cứ điểm và ngăn chặn đối phương dùng đường hàng không vận chuyển hàng hậu cần, bảo vệ các máy bay cường kích khỏi các máy bay tiêm kích của NATO như F-15 và F-16. Những chiếc MiG-29 thuộc hàng không tiền tuyến sẽ bảo đảm cho các lực lượng mặt đất của Liên Xô có thể hoạt động dưới một "tán ô" được bảo vệ, tán ô này cũng sẽ di chuyển cùng với các đơn vị.

Ở Phương Tây, loại máy bay tiêm kích mới của Liên Xôtên ký hiệu của NATO"Fulcrum-A" cho mẫu tiên sản xuất MiG-29A, và tên gọi này được thừa nhận rộng rãi, trong khi đó loại máy bay mới này vẫn là một ẩn số đối với Phương Tây lúc đó. Phiên bản MiG-29B dành cho xuất khẩu rộng rãi nhưng nó là một phiên bản yếu hơn so MiG-29B của Liên Xô, nó được biết đến với tên MiG-29B 9-12AMiG-29B 9-12B (tương ứng cho các nước thuộc khối Hiệp ước Warszawa và các nước ngoài khối này), nó có hệ thống điện tử hạn chế và không mang được vũ khí hạt nhân. Tổng cộng đã có khoảng 840 chiếc MiG-29B được sản xuất.

Phiên bản nguyên gốc của MiG-29 với hệ thống điện tử hàng không cải tiến chỉ dành cho Liên Xô, nhưng những phiên bản đa vai trò của Mikoyan, bao gồm cả phiên bản hoạt động trên tàu sân bay có tên gọi là MiG-29K chưa bao giờ được sản xuất với số lượng lớn. Ở thời kỳ hậu Xô viết, sự phát triển MiG-29 đã gặp nhiều khó khăn do Phòng thiết kế Mikoyan thiếu những ủng hộ chính trị so với đối thủ là Sukhoi. Một số phiên bản tiên tiến hơn vẫ đang được theo đuổi cho xuất khẩu, và những nâng cấp cho các máy bay Nga đang hoạt động hiện nay vẫn tỏ ra thích hợp. Những phiên bản mới của MiG-29 có tên gọi là MiG-29SMTMiG-29M1/M2 hiện đang được phát triển. Hơn nữa, việc phát triển phiên bản hoạt động trên tàu sân bay MiG-29K đang được tiếp tục tiến hành cho Hải quân Ấn Độ trang bị trên tàu sân bay INS Vikramaditya (trước đây là tàu sân bay Admiral Gorshkov của Nga). Phiên bản này trước đây đựoc phát triển để trang bị cho tàu sân bay Admiral Kuznetsov, nhưng loại Sukhoi Su-33 lớn hơn đã được ưu tiên trang bị.

Liên Xô không gán các "tên thông dụng" chính thức cho máy bay của mình, mặc dù tên biệt danh không chính thức là chuyện bình thường. Đặc biệt hơn, một số phi công Liên Xô thấy tên gọi ký hiệu Fulcrum của NATO cho MiG-29 là một sự mô tả tâng bốc mục đích chủ định của máy bay, và nó đôi khi được sử dụng không chính thức trong các đơn vị của Nga.[3]

MiG-29 xuất hiện công khai trước Phương Tây lần đầu tiên khi nó có một cuộc viếng thăm đến Phần Lan vào tháng 7-1986. 2 chiếc MiG-29 cũng được đem đến tham dự triển lãm hàng không Farnborough tại Anh vào tháng 9-1988. Các chuyên gia Phương Tây rất ấn tượng về khả năng không thể chối cãi và sự nhanh nhẹn khác thường của MiG-29, nhưng MiG-29 lại quá nhiều khói do động cơ Klimov của nó gây ra.

MiG-29 được xuất khẩu cho Algérie, Bangladesh, Bulgaria, Cuba, Cộng hòa Séc, Eritrea, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungary, Ấn Độ, Iran, Iraq, Malaysia, Myanma, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Peru, Ba Lan, România, Serbia, Slovakia, Syria, và Yemen. Các nước thuộc Liên Xô (cũ) Belarus, Kazakhstan, Moldova, Turkmenistan, Ukraina, và Uzbekistan đã cho một số lớn MiG-29 nghỉ hoạt động sau khi Liên Xô tan rã; một số vẫn còn hoạt động, một số đem bán như 34 chiếc MiG-29 đã được Moldova bán cho nước ngoài.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29 của Đức

Vì nó được phát triển cùng với những thông số cơ bản được đưa ra bởi TsAGI cho nguyên bản chính PFI, MiG-29 có đường nét khí động học tương tự như Sukhoi Su-27, nhưng nó có một số điểm khác nhau đáng chú ý. Nó được chế tạo với khối lượng lớn nhôm và một số vật liệu composite. Nó có cánh xuôi sau đặt giữa thân với kết hợp gốc diềm cánh trước (LERXs) tạo góc 40°, 2 cánh đuôi ngang thăng bằng xuôi sau và 2 cánh phụ thẳng đứng ở đuôi, phía trên 2 động cơ. Những gờ mỏng tự động đặt trên gờ trước cánh; chúng có 4 đoạn ở những kiểu đầu và 5 đoạn ở những phiên bản sau này. Trên bộ phận lái ở đuôi, có những cánh tà và cánh chỉnh liệng ở đầu cánh.

MiG-29 có hệ thống điều khiển thủy lực và một máy lái tự động truyền dẫn 3 trục SAU-451, không giống với Su-27, nó không có hệ thống điều khiển fly-by-wire. Dù sao, nó rất nhanh nhẹn, thực hiện những pha quay ngoắt tức thời và duy trì ổn định hoàn hảo, góc tấn lớn, và sự chống chọi tuyệt vời đối với hiện tượng quay tròn. Khung máy bay có thể chịu được gia tốc lên tới 9-g (88 m/s²) khi thao diễn. Hệ thống điều khiển có giới hạn "mềm" ngăn cản phi công muốn vượt qua giới hạn gia tốc g và góc alpha (góc tấn), nhưng nó có thể bị vô hiệu hóa bằng thao tác của phi công.

Động cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Klimov RD-33
Động cơ của MiG-29

MiG-29 có 2 động cơ phản lực Klimov RD-33 được lắp đặt trong khoảng không gian rộng, mỗi động cơ có công suất 50 kN và 83.5 kN khi đốt nhiên liệu phụ trội. Khoảng không gian giữa 2 động cơ sinh ra lực nâng, do đó giảm đáng kể lực tác dụng lên cánh, một cải tiến lợi dụng lực sinh ra từ chỗ trống giữa 2 động cơ nhằm nâng cao khả năng cơ động. Động cơ được đặt dọc theo các ống lấy không khí được thiết kế ngay dưới gốc diềm cánh (LERXs), có độ dốc thay đổi được nhằm tăng tốc độ. Nó thích nghi hoàn toàn với điều kiện hoạt động tại chiến trường, lối dẫn khí chính có thể được đóng hoàn toàn và động cơ thay đổi sang sử dụng bộ nạp khí phụ trên thân máy bay để cất cánh, hạ cánh, và bay ở độ cao thấp, ngăn ngừa những mảnh vỡ từ dưới đất bắn vào gây hư hại động cơ máy bay (FOD, hư hại do vật thể bên ngoài). Trong trường hợp này động cơ nhận được luồng không khí xuyên qua mái hắt trên LERXs được mở tự động khi khe hút khí được đóng. Tuy nhiên ở những phiên bản sau này của MiG-29 là MiG-35, mái hắt ở lưng bị bỏ đi, và thay thế bằng thiết kế tấm màn chắn mắt lưới ở khe hút khí chính, tương tự như màn chắn của Su-27.[6]

Hệ thống nhiên liệu và tầm bay[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29A

MiG-29B chỉ chứa được 4.365 lít nhiên liệu được lưu trữ trong 6 thùng chứa, 4 ở trong thân và mỗi cánh một thùng. Do chứa được khối lượng nhiên liệu hạn chế nên nó có phạm vi hoạt động hẹp, không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của một máy bay tiêm kích phòng thủ cứ điểm. Để phục vụ trong những chuyến bay dài, nó cần được cung cấp thêm một lượng nhiên liệu phụ là 1.500 lít (330 Imp gal, 395 USgal), được chứa trong một thùng chứa nằm ở giữa máy bay, trong các phiên bản sau, 2 thùng nhiên liệu phụ đã được thêm vào dưới cánh, mỗi thùng chứa 1.150 lít nhiên liệu. Ngoài ra một số nhỏ MiG-29 được trang bị hệ thống cần tiếp nhiên liệu trên không, cho phép máy bay ở trên không lâu hơn trong một chuyến bay, hệ thống nạp nhiên liệu trên không cho máy bay từ máy bay chở dầu gồm có một ống kim loại đặt ở đầu máy bay nhận nhiên liệu và một ống tiếp có phễu từ máy bay vận tải. Một số khung máy bay MiG-29B đã được nâng cấp lên thành cấu hình "Fatback" (MiG-29 9-13), phiên bản này có thêm một thùng nhiên liệu bên trong được gắn dưới lưng. Một số phiên bản tiên tiến, như MiG-35, có thể mang thêm một thùng nhiên liệu nữa dọc lưng máy bay cho phù hợp với nhiệm vụ, dẫu rằng không có thùng nhiên liệu này cũng không ảnh hưởng gì đến việc thực hiện nhiệm vụ.

Buồng lái[sửa | sửa mã nguồn]

Phi công lái máy bay với một cần điều khiển ở giữa truyền thống và ga ở tay trái. Loại ghế dành cho phi công là loại ghế phóng Zvezda K-36DM, nó thể hiện một cách ấn tượng trong trường hợp thoát khẩn cấp dành cho phi công.

Buồng lái của MiG-29 có những mặt đồng hồ thông thường, với màn hình hiển thị trước mặt phi công (HUD) và hệ thống hiển thị trên mũ của phi công Shchel-3UM, nhưng nó không có HOTAS (thanh điều khiển kiểu phương Tây). Nhưng dù sao, MiG-29 có tầm nhìn tốt hơn so với những máy bay tiêm kích phản lực trước đó của Nga, nhờ vòm kính bọt đặt trên cao. Những phiên bản nâng cấp được giới thiệu với "buồng lái thủy tinh" được trang bị màn hình hiển thị đa chức năng tinh thể lỏng (LCD) hiện đại và một hệ thống HOTAS thật sự

Cảm biến[sửa | sửa mã nguồn]

Buồng lái MiG-29
IRST của MiG-29

MiG-29B có một một hệ thống radar điều khiển hỏa lực Phazotron RLPK-29 (Radiolokatsyonnyi Pritselnyi Kompleks) gồm radar xung-Doppler phát hiện theo dõi và khóa mục tiêu N-019 (Sapfir 29; tên ký hiệu của NATO "Slot Back"), và một máy tính số Ts100.02-02. Phiên bản radar gốc của MiG-29 là N-019A, nó đã đặt MiG-29 chỉ ngang hàng với những loại radar tương đương của Phương Tây, điều này đã gây nên những thất vọng đối với VVS (Không quân Xô Viết). Nó có thiếu sót nghiêm trọng trong giao chiến ngoài tầm nhìn (BVR). MiG-29 theo dõi mục tiêu là máy bay chiến đấu từ khoảng cách 70 km (38 hải lý) phía trước mặt và 35 km (19 nm) phía sau. Phạm vi theo dõi máy bay ném bom được mở rộng gấp 2 lần. 10 mục tiêu có thể hiện lên trên màn hình theo dõi, nhưng radar chỉ khóa một mục tiêu cho tên lửa điều khiển bán chủ động (SARH). Bộ xử lý tín hiệu cũng gặp rắc rối khi gặp phải những quấy phá từ mặt đất, và phạm vi trong phát hiện theo dõi tầm xa đã bị giảm bớt. Nó cũng khá dễ bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện tử. Điều này có nghĩa là MiG-29 không có khả năng sử dụng loại tên lửa tầm xa SARH mới đáng tin cậy Vympel R-27 (NATO AA-10 "Alamo").

Khả năng kém cỏi bắt nguồn phần lớn từ thực tế radar N-019 không phải là một thiết kế mới. Thay vào đó, hệ thống này là một phát triển xa hơn của cấu trúc đã sử dụng trong hệ thống Sapfir-23ML của Phazotron, đã sử dụng trên MiG-23ML. Khi thiết kế chi tiết MiG-29 thời kỳ đầu vào giữa thập niên 1970, Phazotron NIIR được giao nhiệm vụ sản xuất một radar hiện đại cho MiG-29. Để kịp tốc độ phát triển, Phazotron đặt cơ sở thiết kế mới dựa trên chương trình radar thử nghiệm của "Soyuz" của NPO Istok trước đó. Do đó, N-019 ban đầu dự định có ngăn ăng-ten mảng pha hai chiều và bộ xử lý tín hiệu số, giúp máy bay có thể dò tìm và theo dõi mục tiêu cỡ máy bay chiến đấu trong một phạm vi ít nhất là 100 km. Được chế tạo từ những công nghệ điện tử hàng không Liên Xô lúc đó, đây là một mục đích đầy tham vọng. Thử nghiệm và những nguyên mẫu nhanh chóng để lộ ra nó không thể đạt được khung thời gian như yêu cầu đòi hỏi, ít nhất không phải trong một radar sẽ được đặt trong mũi của MiG-29. Khi thiết kế một radar hoàn toàn mới, mặc dù khiêm nhường hơn, Phazotron quay trở lại một phiên bản của ăng-ten gương kép quay quanh được sử dụng thành công ở Sapfir-23ML nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí. Hệ thống này sử dụng cùng bộ xử lý tín hiệu tương tự (analog signal) với những thiết kế trước đó của họ, ghép với một máy tính số Ts100 do NII Argon thiết kế. Trong khi cách giải quuyết này đưa ra một hệ thống radar làm việc cho máy bay tiêm kích mới, nó kế thừa tất cả các điểm yếu của thiết kế trước đó. Việc tin cậy vào công nghệ thập niên 1960 tiếp tục lây truyền cho MiG-29 dưới dạng khả năng của nó trong phát hiện và theo dõi mục tiêu trên không ở khoảng cách mà tên lửa R-27R-77 có thể vươn tới, dù thiết kế mới như bộ xử lý tín hiệu địa chỉ số N-010 Zhuk-M quan trọng, vẫn còn những khuyết điểm cố hữu trong thiết kế tương tự (analog). Còn đa số máy bay MiG-29 đang tiếp tục hoạt động sử dụng radar tương tự (analog) N-019 hoặc N-019M, dù VVS biểu hiện mong muốn nâng cấp tất cả những chiếc MiG-29 hiện có với hệ thống số hoàn toàn.

Bí mật của loại radar N-019 đã bị một kỹ sư thiết kế của Phazotron là Adolf Tolkachev cung cấp cho CIA vào năm 1986. Để đáp lại mọi rắc rối, Liên Xô vội vàng đưa ra phiên bản radar sửa đổi N019M Topaz cho loại MiG-29S nâng cấp. Tuy nhiên, VVS vẫ chưa thỏa mãn với tính năng của hệ thống và yêu cấu những bản cải tiến khác. Phiên bản nâng cấp mới đây được trang bị loại radar N-010 Zhuk-M, có một mạng anten 2 chiều, cải thiện phạm vi hoạt động, và khả năng xử lý nhiều tình huống, phát hiện, theo dõi nhiều mục tiêu, và khả năng tương thích với loại tên lửa không đối không Vympel R-77 (hay RVV-AE) (NATO AA-12 "Adder"). Một phần hữu ích từ MiG-29 được chia sẻ với Sukhoi Su-27 là hệ thống S-31E2 KOLS, một sự kết hợp giữa bộ phận đo khoảng cách bằng tia laser (kính trắc viễn laser) và IRTS (tìm kiếm và theo dõi bằng tia hồng ngoại) trong một bộ phân được goi là "con ngươi" ở phía trước vòm buồng lái. Nó có thể kết hợp với radar hoặc sử dụng độc lập, và cung cấp độ chính xác đặc biệt cho quá trình ngắm bắn bằng radar hay máy tính.

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc MiG-29 với vũ khí

Trang bị cho MiG-29 bao gồm một pháo đơn 30 mm GSh-30-1 ở gốc cánh trái. Lúc đầu nó có 150 viên đạn, nhưng sau này bị giảm xuống còn 100 viên trong các phiên bản sau này của MiG-29. MiG-29B nguyên bản không thể khai hỏa pháo khi nó mang thùng nhiên liệu ở giữa thân máy bay vì nó ngăn cản việc tống vỏ đạn ra ngoài. Vấn đề này sau đó được sửa chữa trong MiG-29S và các phiên bản sau đó. 3 giá treo được gắn vào mỗi cánh (4 giá treo ở một số phiên bản). Trong mỗi giá treo có một thùng nhiên liệu chưa được 1.150 lít nhiên liệu, mỗi giá treo mang được 1 tên lửa không đối không tầm trung R-27 (AA-10 "Alamo"), hoặc bom không điều khiển hoặc rocket. Một số máy bay Xô Viết có thể mang 1 quả bom hạt nhân tại giá treo đặc biệt nằm ở giữa thân. Những điểm treo phía ngoài thường mang tên lửa không chiến tầm gần R-73 (AA-11 "Archer"), mặc dù một số vẫn sử dụng loại tên lửa cũ R-60 (AA-8 "Aphid"). MiG-29B nguyên bản có thể mang bom thường và tên lửa không điều khiển, đây không phải là vũ khí thông minh. Những phiên bản nâng cấp mang được bom dẫn hướng bằng laser và bom dẫn hướng quang học (electro-optical bomb), cũng như tên lửa không đối đất và không đối biển.

Tai tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Hợp đồng giữa Algérie và Rosoboronexport của Nga cung cấp 34 chiếc MiG-29SMT đã được kí kết năm 2006. Giá trị hợp đồng, theo nguồn tin không chính thức, đạt 1,28 tỷ USD. Năm 2006-2007, Algérie đã nhận 15 chiếc MiG-29 nhưng sau đó nước này ngừng tiếp nhận sau khi tuyên bố hàng loạt lỗi kỹ thuật trên máy bay. Cuối cùng, Algérie đã trả lại máy bay cho Nga.

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nga phụ trách về vấn đề vũ khí Vladimir Popovkin cho rằng hợp đồng cung cấp máy bay tiêm kích MiG-29 kí kết giữa Nga và Algérie bị đổ vỡ là vì những nguyên nhân chính trị.[cần dẫn nguồn] Phía Algérie khi đó đã khẳng định có những vấn đề về chất lượng và một số chiếc được lắp ráp từ đồ cũ. MiG-29 bắt đầu được đưa vào trang bị từ những năm 1980 và kho dự trữ các chi tiết và bộ phận của loại máy bay này vẫn còn nhiều nên tập đoàn MiG đã sử dụng các bộ phận này để lắp cho những chiếc MiG-29 bán cho Algérie. Vụ việc sau đó đã được điều tra và phanh phui.[7]

Vì vậy năm 2008 Nga phải chấp nhận mua 28 chiếc MiG-29 để giúp tập đoàn MiG không bị phá sản.[7]

Bị ăn mòn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Trung tướng Sergei Bainetov, Giám đốc Cơ quan phụ trách an ninh các chuyến bay của Lực lượng Vũ trang Nga thì sau vụ tai nạn MiG-29 xảy ra hôm 05/12/2008 cách sân bay Domna khoảng 5 km tại khu vực Chita, phía Đông Siberia khiến 1 phi công quân sự Nga thiệt mạng, một nhóm thanh tra thuộc Bộ Quốc phòng Nga đã tiến hành kiểm tra tất cả số máy bay tiêm kích này và đã loại bỏ khoảng 90 chiếc. Nhóm thanh tra đã phát hiện ra sự ăn mòn ở phần đuôi máy bay thậm chí trên cả những máy bay hoàn toàn mới với thời gian bay chưa đến 150 giờ.[8]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29UB của không quân Hungary tại Triển lãm hàng không Koksijde 2005
MiG-29 bị phá hủy ở Bosnia và Herzegovina
MiG-29 và F-16 của Ba Lan

Hoạt động chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Xô đã xuất khẩu MiG-29 cho một số quốc gia đang phát triển. Vì máy bay tiêm kích thế hệ thứ 4 yêu cầu các phi công phải có nhiều kinh nghiệm, cơ sở hạ tầng phục vụ, bảo dưỡng và nâng cấp, những chiếc MiG-29 đã có lịch sử hoạt động đa dạng với nhiều lực lượng không quân khác nhau. Ví dụ, trong khi những chiếc MiG-29 có một lịch sử hoạt động ưu tú trong Không quân Ấn Độ[cần dẫn nguồn], Ấn Độ đã đầu tư rất lớn vào loại máy bay này, tuy nhiên MiG-29 lại không có được những thành tích tốt trong lực lượng không quân một số quốc gia như IraqNam Tư.

Những chiếc MiG-29 do các phi công Iraq điều khiển đã tham chiến trong Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Theo không quân Hoa Kỳ, 5 chiếc MiG-29 đã bị bắn hạ bởi những chiếc F-15.[9] 8 chiếc MiG-29 đã bay sang Iran, những chiếc máy bay này sau đó đã được biên chế hoạt động trong Không quân Iran, ngoài ra Iran cũng mua những chiếc MiG-29 khác từ Nga.

Một chiếc MiG-29UB của Cuba đã bắn hạ 2 chiếc máy bay dân sự loại Cessna 337 của tổ chức người Cuba lưu vong có tên gọi Những người anh em cứu nguy vào năm 1996. Khi những chiếc máy bay này xâm nhập vào không phận Cuba.[10]

Năm 1999, 2 chiếc MiG-29 của Không quân Eritrea đã bị bắn hạ bởi những chiếc Su-27 của Không quân Ethiopia. Lần thứ nhất vào 25 tháng 2-1999 và lần thứ hai vào 26 tháng 2-1999. Một bản báo cáo khác cũng đề cập đến việc 5 chiếc MiG-29 đã bị bắn hạ bởi Su-27. Trong khi một số nguồn báo cáo nói rằng những chiếc MiG-29 của Eritrea đã bắn hạ 2 chiếc MiG-21 của Ethiopia. Báo cáo khác cũng nói rằng MiG-29 của Eritrea đã bắn hạ 3 chiếc MiG-23. Rất ít thông tin được làm rõ trong cuộc xung đột nhỏ này và các báo cáo của cả 2 phía đều rất sơ sài, thiếu chi tiết.[10] Người ta cho rằng những phi công của NgaUkraina đã huấn luyện cho các phi công của 2 nước này.

Ngày 20 tháng 4-2008, Gruzia chính thức cáo buộc một chiếc MiG-29 của Nga đã bắn hạ một phương tiện bay không người lái Hermes 450 của mình và cung cấp một đoạn băng video quay từ chiếc máy bay không người lái bị bắn hạ, quay cảnh một chiếc MiG-29 đã bắn một tên lửa không đối không vào nó. Nga phủ nhận máy bay đó là của mình và nói họ không có bất kỳ phi công nào thực hiện bay vào ngày hôm đó. Người đứng đầu chính quyền ly khai Abkhazia tuyên bố lực lượng quân sự đã bắn hạ máy bay không người lái bằng một chiếc L-39 "vì nó xâm phạm không phận Abkhaz và phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn."[11] Kết luận điều tra về đoạn video của UN chỉ ra đoạn video là thật và máy bay không người lái đó đúng là đã bị bắn hạ bởi một chiếc MiG-29 hoặc Su-27 của Nga sử dụng một tên lửa tầm nhiệt R-73 [11].

Ngày 10 tháng 5-2008, lực lượng vũ trang của Phong trào Công lý và Bình đẳng Darfur (JEM) đã thực hiện một cuộc tấn công vào thủ đô Sudan. Trong cuộc tấn công, 1 chiếc MiG-29 của Không quân Sudan đã bị bắn hạ bởi súng máy 14.5 và 12.7 mm của lực lượng nổi dậy Phong trào Công lý và Bình đẳng Darfur, chiếc MiG-29 này đang thực hiện một cuộc tấn công một đoàn xe hộ tống ở ngoại ô Khartoum của Omdurman. Máy bay được điều khiển bởi một phi công người Nga (lính đánh thuê). Viên phi công đã chết khi dù không mở sau khi thoát khỏi máy bay. Lực lượng chính quy của Sudan đã đẩy lùi quân nổi dậy và Sudan đã cáo buộc Chad đã giúp đỡ JEM trong cuộc tấn công này. [12] [13][14]

MiG-29 trong biên chế của Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29
MiG-29 bắn tên lửa AA-10

Không quân Ấn Độ (IAF) đã đặt mua hơn 50 chiếc MiG-29 vào năm 1980 trong khi nó vẫn đang trong giai đoạn phát triên ban đầu. Từ khi bắt đầu hoạt động trong IAF vào năm 1985, MiG-29 đã trải qua một loạt những sửa đổi như thêm vào hệ thống điện tử hàng không mới, các hệ thống phụ, động cơ phản lực cánh quạt đẩy và radar.[12] Phiên bản nâng cấp của Ấn Độ được biết đến với tên gọi Baaz (tiếng Hindi: Hawk - Chim ứng) và là thành phần quan trọng thứ hai trong phi đội máy bay tấn công của IAF sau Sukhoi Su-30MKI.

Thành tích hoạt động tốt MiG-29 đã khiến Ấn Độ ký một thỏa thuận với Nga vào năm 2005-2006 để nâng cấp 67 chiếc MiG-29 với trị giá lên đến 888 triệu USD. Theo đó, Nga sẽ thay thế radar N-019 cũ bằng loại Phazatron Zhuk-M. Nga cũng cấp giấy phép sản xuất 120 động cơ phản lực Klimov RD-33RD-33 series 3 cho Hindustan Aeronautics Limited để nâng cấp[13]. Những chiếc MiG-29 cũng được nâng cấp để có thể tiếp nhiên liệu trên không nhằm tăng thời gian bay.[14] Năm 2008, IAF cũng ký một hợp đồng chính thức trị giá 900 triệu USD với Tập đoàn MiG về việc nâng cấp 69 chiếc MiG-29 đang hoạt động của họ. Hợp đồng nâng cấp bao gồm một hệ thống điều khiển vũ khí mới, hệ thống điện tử hàng không, buồng lái, tên lửa không đối không, tên lửa không đối đất chính xác cao và bom thông minh. Những chiếc MiG-29 nâng cấp sẽ có khả năng chiến đầu ngoài tầm nhìn (BVR) tăng lên. 6 chiếc MiG-29 đầu tiên sẽ được nâng cấp tại Nga trong khi 63 chiếc còn lại sẽ được nâng cấp tại nhà máy của Hindustan Aeronautics ở Ấn Độ. Ấn Độ cũng ký một hợp đồng nhiều triệu USD với hãng Israel Aircraft Industries để cung cấp hệ thống điện tử hàng không và hệ thống phụ cho nâng cấp.[15] Không quân Ấn Độ đã sửa đổi và thử nghiệm thành công những chiếc MiG-29 bắn loại tên lửa BVR (loại tên lửa hạ mục tiêu nằm ngoài tầm nhìn) R-77 Adder (RVV-AE). Người ta tin rằng mọi chiếc MiG-29 của Không quân Ấn Độ đều được nâng cấp để sử dụng R-77 Adder như một thứ vũ khí tiêu chuẩn. MiG-29 cũng được sửa đổi để tương thích với các loại tên lửa BVR do Ấn Độ tự phát triển nằm trong chương trình có tên là Chương trình phát triển tên lửa tổng hợp (hay tên gọi tắt là Astra).

Cuộc xung đột Kargil[sửa | sửa mã nguồn]

Những chiếc MiG-29 của Ấn Độ đã tham gia Chiến tranh KargilKashmir năm 1999. Không quân Ấn Độ (IAF) đã sử dụng MiG-29 với cường độ lớn để hộ tống cho những chiếc Mirage 2000 ném bom điều khiển bằng laser vào các vị trí của đối phương. Theo các nguồn tin của Ấn Độ, trong thời gian diễn ra chiến tranh Kargil, 2 chiếc MiG-29 thuộc phi đội 47 IAF (Cung thủ đen) đã thành công khi khóa được 2 chiếc F-16 của Không quân Pakistan (PAF) khi đang đến gần không phận của Ấn Độ, MiG-29 nhận lệnh từ bộ chỉ huy IAF để bỏ cuộc săn đuổi đối phương.[16] Sau sự kiện này, PAF đã ra lệnh mọi máy bay đều phải ở trong không phận của Pakistan. Tuy nhiên, tuyên đố này đã bị bác bỏ bởi không quân Pakistan và không có bằng chứng chứng minh tuyên bố của IAF. Đồng thời, trong thời gian diễn ra cuộc xung đột, MiG-29 của Ấn Độ đã được trang bị tên lửa RVV-AE (R-77) với khả năng BVR cho phép Ấn Độ đạt được ưu thế trên không trong cuộc xung đột.

MiG-29 trong lực lượng của Nam Tư và Serbia[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư đã mua tổng cộng 14 chiếc MiG-29 và 2 chiếc MiG-29UB từ Liên Xô năm 1987. MiG-29 bắt đầu hoạt động trong 127. Lovacka Avijacijska Eskadrila (127. LAE, Phi đoàn không quân tiêm kích), còn được biết đến với tên gọi Vitezovi (Hiệp sĩ), thuộc 204. Lovacki Avijacijski Puk (204. LAP, Trung đoàn không quân tiêm kích) đóng tại Căn cứ không quân Batajnica, phía tây Belgrade, ngày nay là Cộng hòa Serbia. Máy bay được chỉ định mang tên L-18 (Lovac, máy bay tiêm kích), hay NL-18 ('Nastavni Lovac, máy bay tiêm kích huấn luyện) cho phiên bản "UB".

Những chiếc MiG-29 trong không quân Nam Tư được đánh số từ:

  • MiG-29: 18101-18114
  • MiG-29UB: 18301-18302

Cuộc chiến của NATO chống lại Liên bang Nam Tư[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29 tiếp tục hoạt động trong Không quân Cộng hòa Liên bang Nam Tư (sau khi Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư tan rã) và cuối cùng thuộc Không quân Serbia. Trong thời gian lệnh cấm vận vũ khí diễn ra đối với Nam Tư, điều kiện của MiG-29 trở nên tồi tệ hơn. Khi chiến dịch Lực lượng Đồng minh diễn ra, những chiếc MiG-29 của Nam Tư đã 15 năm tuổi và thiếu phụ tùng thay thế. 2 chiếc MiG-29 đầu tiên bị phá hủy mang số hiệu 18112 (phi công là Iljo Azrinov, rơi gầnPriština) và 18111 (phi công là Nebojša Nikolić, rơi gần Titel), vào ngày 24 tháng 3. Những chiếc MiG-29 đều cất cánh từ Căn cứ không quân Slatina. Chiếc MiG-29 số 18106 do Predrag Milutinović điều khiển đã rơi gần Kruševac vào cùng ngày. Vào 26 tháng 3, MiG-29 số 18114 do Slobodan Perić điều khiển và MiG-29 do Zoran Radoslavljević điều khiển cất cánh từ Căn cứ không quân Batajnica để đánh chặn 2 chiếc F-15C của NATO đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra không chiến trên không gần Bosnia. Perić bị bắn hạ gần Bijeljina nhưng vẫn sống sót, còn Radoslavljević bị thiệt mạng khi bị bắn hạ gần Valjevo. Chiếc MiG-29 số 18109 do Slobodan Tešanović điều khiển đã rơi gần sân bay Užice-Ponikve trong một chuyến bay thường vào ngày 4 tháng 5. Như vậy đã có 6 chiếc MiG-29 bị phá hủy do bị bắn hạ hoặc gặp tai nạn. 4 chiếc khác (18103, 18104, 18107, 18302) đã bị phá hủy khi đang đậu ở căn cứ.

Trong chiến tranh Kosovo, phía Nam Tư tuyên bố bắn rơi 1 chiếc F-117A bằng MiG-29 bởi phi công Gvozden Đukić[17][18]. Phía Mỹ công nhận chiếc F-117A đã bị hạ, nhưng họ cho là bởi tên lửa phòng không SA-3 phóng bởi tiểu đoàn phòng không do Zoltan Dani chỉ huy.

Sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29 trong triển lãm hàng không Radom 2005.

Các đơn vị không quân vẫn tiếp tục sử dụng 5 chiếc MiG-29 còn lại (tỷ lệ bay rất thấp) sau chiến tranh, dù họ phải thay thế những chiếc MiG-29 bị mất bằng loại MiG-21 được sơ tán từ Pristina sau chiến tranh. Mùa xuân năm 2004, có tin cho rằng Không quân Cộng hòa Serbia và Montene sẽ ngừng sử dụng MiG-29 vì máy bay không được bảo dưỡng.[19]

Hiện nay, MiG-29 đã khôi phục hoạt động trong Không quân Serbia. Trong phi đội không quân tiêm kích 101.LAE (127.LAE và 126.LAE cũ), thuộc Căn cứ không quân 204, chiếc MiG-29 đầu tiên trở lại hoạt động vào tháng 2-2008, chiếc thứ 2 vào tháng 3 (phiên bản UB mang số 18301) và chiếc thứ 3 vào tháng 5. Còn hai chiếc khác sẽ trở lại hoạt động vào mùa hè năm 2008, khi động cơ và các thành phần của chúng được gửi trở lại sau khi đại tu ở Nga. Chiếc MiG-29 số 18101 được đại tu trước, xuất hiện lần đầu vào ngày 15 tháng 2, nhân Ngày quân đội SerbiaNgày quốc khánh cộng hòa Serbia, trong cuộc tập trận quân sự "Sretenje 2008"Niš. Máy bay được điều khiển bởi đại tá Nebojska Djukanovic, tư lện không quân và phòng không.[20] Chiếc MiG-29 thứ hai trở lại phục vụ (MiG-29 UB số 18301) được sử dụng để huấn luyện phi công của phi đội 101.LAE, đơn vị này đã không bay MiG-29 kể từ năm 2004.[21] MiG-29 của Không quân Serbia được nhìn thấy lần cuối công khaiowr Novi Sad trong triển lãm hàng không "Čenej 2008". Chiếc MiG-29 số 18101 do đại tá Nebojska Djukanovic điều khiển xuất hiện lần đầu trong lớp sơn ngụy trang và biểu tượng mới. Chiếc thứ ba đại tu (MiG-29 18105), cùng với chiếc đầu tiên đại tu đã bay trong cuộc tập trận quâ sự của học viên Học viện quân sự Serbia"Diplomac 2008".[22]

MiG-29 phục vụ tại Đức[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29 của Đông Đức
MiG-29A của Bulgaria

Cộng hòa Dân chủ Đức đã mua 24 chiếc MiG-29 (20 MiG-29A, 4 MiG-29UB), chúng bắt đầu hoạt động vào năm 1988-1989. Sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào tháng 11-1989 và nước Đức thống nhất vào tháng 10-1990, những chiếc MiG-29 và những máy bay khác của Luftstreitkräfte der NVA (Không quân Đông Đức) đã chuyển cho Luftwaffe (Không quân Tây Đức). Sau khi được hãng DaimlerChrysler Aerospace (hiện nay là EADS) nâng cấp để phù hợp với tiêu chuẩn NATO, chúng có tên gọi là MiG-29GMiG-29GT. Vào tháng 3-1991, 1 chiếc MiG-29 đã được gửi cho Không quân Mỹ để người Mỹ đánh giá, cùng với vài chiếc Su-22 và MiG-23.

Liên hiệp các nhà khoa học Hoa Kỳ tuyên bố MiG-29 tốt hơn F-15 và các máy bay tiêm kích khác của Mỹ trong không chiến tầm gần vì MiG-29 được trang bị Helmet Mounted Weapons Sight (HMS - hiểu nôm na là thiết bị ngắm bắn vũ khí gắn trên mũ phi công) và khả năng cơ động tốt hơn.[23] Điều này đã được chứng minh khi MiG-29 của Không quân Đức tham gia cuộc tập trận DACT với các máy bay tiêm kích của Mỹ.[24][25] Phi công Đức luôn luôn chiến thắng trong hỗn chiến tầm gần. HMS đóng góp một phần rất lớn vào thành công này, nó cho phép phi công có thể khóa bất cứ mục tiêu nào mà phi công có thể nhìn thấy, miễn sao mục tiêu phải ở trong tầm bắn của tên lửa, bao gồm những mục tiêu gần như ngoài boresight 45° (có thể hiểu boresight như hướng nhìn thẳng từ mũi máy bay ra phía trước, ở đây thì MiG-29 có tầm nhìn thẳng từ mũi ra phía trước là 45°, và nó có thể khóa tất cả mục tiêu nằm ngoài 45° này).[26] Ngược lại với MiG-29, các máy bay của Mỹ chỉ có thể khóa mục tiêu trong một tấm kính hẹp phía trước mũi máy bay. Người Mỹ vẫn không có được thiết bị nào tương tự như HMS của người cho đến cuối năm 2003, khi Không quân MỹHải quân Mỹ có được khả năng hoạt động ban đầu của Hệ thống điều khiển đặt trên mũ chung.

Từ năm 1993, những chiếc MiG-29 của Đức đã được biên chế vào đơn vị không quân 1./JG73 "Steinhoff" ở Laage gần Rostock. Trong thời gian hoạt động trong không quân Đức, 1 chiếc MiG-29 ("29+09") đã bị phá hủy do tai nạn vào 25 tháng 6-1996 vì lỗi của phi công. Năm 2003, phi công Luftwaffe (không quân Đức) đã bay tổng cộng trên 30.000 giờ trên MiG-29. Vào tháng 09-2003, 22 trong 23 chiếc hiện còn của Đức đã được bán lại cho Không quân Ba Lan với giá tượng trưng là 1 € một chiếc.[27] Chiếc cuối cùng được chuyển vào tháng 8-2004.[15]

Chiếc MiG-29 ("29+03") thứ 23 vẫn được trưng bày ở Laage trước khi được chuyển đến Luftwaffenmuseum der BundeswehrSân bay Gatow Berlin vào năm 2006..[16]

MiG-29 trong biên chế của Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi những chiếc MiG-21MiG-23 của Ba Lan ngừng sử dụng vào năm 2003, trong một thời gian ngắn Ba Lan chỉ có 22 chiếc MiG-29 từ Phi đoàn tiêm kích chiến thuật số 1 làm nhiệm vụ đánh chặn. Với 22 chiếc MiG-29 do Đức chuyển giao (hoạt động từ năm 2005 trong Phi đoàn tiêm kích chiến thuật 41 (thay thế MiG-21) đưa số lượng MiG-29 của Ba Lan lên con số 44 chiếc (8 chiếc là phiên bản huấn luyện). Từ năm 2007, MiG-29 được hỗ trợ bởi những chiếc F-16 Block 52+ từ Phi đoàn chiến thuật số 3 (thay thế MiG-21) và số 6 (thay thế Su-22), từ năm 2008 F-16 sẽ biên chế trong Phi đoàn chiến thuật số 10 (thay thế MiG-21). Hiện Ba Lan đang là quốc gia thuộc NATO sử dụng MiG-29 nhiều nhất (chỉ có 32 chiếc đang hoạt đông hiện tại). MiG-29 của Ba Lan hiện đang thuộc Phi đoàn chiến thuật số 1 tại Căn cứ không quân số 23 gần Mińsk Mazowiecki và Phi đoàn chiến thuật số 41 tại Căn cứ không quân số 22 gần Malbork. Ba Lan trước đây đã cho Israel thuê một chiếc MiG-29 đánh giá khả năng và chiếc MiG-29 này đã từ Israel bay về Ba Lan.

MiG-29 tại Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29 của Malaysia cùng với F-14 của không quân Mỹ.

Năm 1997, Mỹ đã mua được 21 chiếc máy bay của Moldova để đánh giá và phân tích, theo hiệp định Hợp tác chống mối đe dọa từ bên ngoài. 14 chiếc MiG-29 được trang bị một radar gây nhiễu tích cực trong lưng và nó có khả năng trang bị vũ khí hạt nhân. Một phần lý do mà Mỹ mua những máy bay này là để ngăn chặn chúng sẽ được bán cho "quốc gia côn đồ", đặc biệt là Iran.[17] Cuối năm 1991, những chiếc MiG-29 đã được chuyển cho Trung tâm tình báo không trung và không gian quốc gia (NASIC) tại Căn cứ không quân Wright-Patterson gần Dayton, Ohio. 1 chiếc MiG-29S của Moldova hiện đang trưng bày tại Bảo tàng không quân quốc gia Hoa Kỳ tại Wright-Patterson, và 1 chiếc MiG-29UB đang trưng bày tại trụ sở NASIC. Số phận những chiếc MiG-29 của Moldova không được tiết lộ, nhiều người tin rằng chúng đã bị loại bỏ. 1 chiếc MiG-29 đang trưng bày tại Căn cứ không quân Nellis, Nevada, trong màu sơn của Liên Xô, trong khi 1 chiếc khác của Moldova đang đặt ở căn cứ trong màu ngụy trang nguyên bản của nó. Tại Căn cứ không quân hải quân Fallon, 1 chiếc MiG-29 đang được trưng bày. Một chiếc khác cũng được trưng bày tại Căn cứ không quân MacDill, trong khi một chiếc nữa đang ở Căn cứ không quân Goodfellow, Texas.

Một nhà sưu tập tư nhân, Don Kirlin, có 2 chiếc MiG-29 được mua lại từ Kyrgyzstan, những chiếc MiG-29 này thiếu hệ thống điện tử và vài chi tiết khác do hạn chế của Bộ ngoại giao Mỹ. Hiện nay chúng đang được đặt tại sân bay Quincy, sân bay bang Illinois. Theo những công nhân làm việc tại sân bay, Kirlin đã trả 100.000 $US cho 2 chiếc máy bay..[28]

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

9-01
Nguyên mẫu
MiG-29 "Fulcrum-A" (Product 9.12)
Phiên bản sản xuất đầu tiên, bắt đầu phục vụ năm 1983.
MiG-29B-12 "Fulcrum-A" (Product 9.12A)
Phiên bản xuất khẩu hạn chế tính năng cho các quốc gia ngoài khối Warszawa Pact. Không mang được vũ khí hạt nhân và có hệ thống rada, EMC và IFF tính năng hạn chế.
MiG-29UB-12 "Fulcrum-B" (Product 9.51)
Phiên bản huấn luyện 2 chỗ. Thiếu radar và pháo GSh-30. Ghế thứ 2 nối liền với thiết bị HUD và kính ngắm, ghế phóng là loại Zvezda K-36DM. Nó không có radar thay vào đó là một modul, với modul này huấn luyên viên có thể đưa ra các tình huống giả định trong trận đánh và các trường họp khẩn cấp. UB có nghĩa là Uchebno-Boevoi (huấn luyện chiến đấu) ám chỉ là nó có thể chiến đấu, nhưng với việc thiếu radar và súng thì điều này không chắc. Có những tùy chọn nâng cấp sẵn sàng cho MiG-29UB, bao gồm radar tăng cường cho khả năng chiến đấu.
MiG-29S "Fulcrum-C"
MiG-29 trong một triển lãm hàng không
MiG-29S có khung giống với phiên bản "Fatback" MiG-29B cũ hơn. Những khác biệt bắt đầu với những cải tiến trong hệ thống điều khiển bay. 4 máy tính mới tăng thêm độ ổn định và khả năng kiểm soát tăng với góc tấn (AoA) tăng thêm 2°. Hệ thống điều khiển bay cơ khí-thủy lực cải tiến cho phép phi công dễ dàng điều khiển máy bay hơn trong các pha nhào lộn. MiG-29S có thêm một cái "bướu" trên lưng (khiến nó có biệt danh là "Fatback"), đầu tiên người ta tin rằng nó dùng để chứa thêm nhiên liệu, nhưng thật ra, hầu hết thể tích được sử dụng cho hệ thống đối phó điện tử (ECM) L-203BE Gardenyia-1 mới. Nhiên liệu bên trong chỉ mang thêm được 75 lít, tỷ lệ nhiên liệu của máy bay là khoảng 0.27, như vậy chỉ có thể ngang với F-16. Nó có thể mang 1150 lít (304 US gallon, 2000 lb) trong các thùng nhiên liệu phụ vứt được dưới mỗi cánh và một thùng khác ở giữa.Bên trong những điểm cứng dưới cánh được nâng cấp cho phép sắp đặt giá treo trước sau cho trọng tải lớn lên đến 4.000 kg (8.820 lb). Toàn bộ trọng lượng tối đa đã tăng lên đến 20.000 kg (44.000 lb).
Trong MiG-29S, pháo GSh-30-1 được lắp trên mạn trái của máy bay cho phép máy bay khai hỏa trong khi thùng nhiên liệu giữa vẫn được gắn liền. Như với MiG-29 phiên bản trước chỉ có 6 điểm treo dưới cánh, nhưng MiG-29S có thể nâng cấp lên tới 8 giá treo. MiG-29S nâng cấp có thể sử dụng loại tên lửa mới lúc đó là R-27E (AA-10 'Alamo'), loại này có tầm bắn gấp 1.5 lần so với kiểu R-27 cơ bản do khác biệt về động cơ tên lửa lớn hơn. Ngoài ra những giá treo cải tiến có thể mang được tên lửa không đối không radar chủ động tầm xa R-77 (AA-12 'Adder') mới.
MiG-29M
Lúc đầu, hệ thống điện tử hàng không của MiG-29S chỉ thêm một hệ thống ngắm IRST mới kết hợp với một hệ thống huấn luyện tốt hơn cho phép máy bay mô phỏng mục tiêu radar và IR. Tuy nhiên, cuối cùng MiG-29S cải tiến cũng được trang bị radar Phazotron N-019M và nhiều thiết bị thử nghiệm gắn liền (built-in test equipment-BITE) (đặc biệt là radar) để giảm bớt sự phụ thuộc vào các thiết bị hỗ trợ từ mặt đất; MiG MAPO gọi kiểu này là MiG-29SD. Sửa lại thuật toán hệ thống vũ khí trong phần mềm của MiG-29S, kết hợp với tăng khả năng xử lý, cho phép theo dõi 10 mục tiêu cùng lúc và tiêu diệt 2 mục tiêu cùng lúc bằng tên lửa R-77.
MiG-29S cũng có một khả năng tấn công mặt đất hạ chế với vũ khí không dẫn đường, nhưng để thay đổi MiG-29 thành một máy bay tiêm kích đa vai trò thực sự, MAPO đã thiết kế phiên bản MiG-29SM với hệ thống điện tử hàng không cải tiến cần thiết để mang các vũ khí dẫn đường chính xác. MiG-29S có các phiên bản nâng cấp là 'MiG-29 SE/SD/SM', kết hợp triển kết hợp với MiG-29K dành cho hải quân, đã khuyến khích MAPO tiến tới phiên bản đa chức năng MiG-29M "Super Fulcrum".
Hiệu suất bay của MiG-29S đã bị giảm bớt khi so sánh với MiG-29 nguyên gốc do trọng lượng của nhiên liệu mang thêm và hệ thống điện tử hàng không. Chỉ có 48 chiếc MiG-29 được chế tạo cho Không quân Nga trước khi ngân sách bị cắt. Trong số này người ta không xác định được có bao nhiêu phiên bản 'S' chiếm ưu thế trên không và bao nhiêu phiên bản 'SM' đa vai trò.
MiG-29SD/S-13 "Fulcrum-C" (Product 9.13)
Phiên bản MiG-29 tương tự như 9.12, nhưng có phần lưng mở rộng để chứa nhiên liệu và 1 máy gây nhiễu chủ động Gardeniya.
MiG-29SE/S-13 "Fulcrum-C" (Product 9.13S)
Phiên bản có cùng khung với 9.13, nhưng với một trọng tải vũ khí mang ngoài tăng thêm 4.000 kg, và dự trữ thêm 2 thùng nhiên liệu dưới. Radar nâng cấp thành N019ME, có khả năng theo dõi 10 mục tiêu và tiêu diệt 2 mục tiêu cùng lúc. Tương thích với tên lửa không đối không Vympel R-77 (AA-12 'Adder') (tương tự như loại AIM-120 AMRAAM).
MiG-29SM "Fulcrum-C" (Product 9.13M)
Tương tự như 9.13, nhưng có khả năng mang tên lửa không đối đất và đối hải Kh-29T, Kh-31A và Kh-31P, và bom điều khiển bằng laser KAB-500KR.
MiG-29K "Fulcrum-D" (Product 9.31)
Phiên bản hải quân, ký tự "K" dùng để thay cho từ "Korabelnogo bazirovaniya" (hoạt động trên boong tàu), với trang bị như cánh gấp, sỗ hãm, và gia cố bộ phận hạ cánh. Dự định đầu tiên là dùng MiG-29K trang bị cho lớp tàu sân bay Admiral Kuznetsov, MiG-29K chưa bao giờ được Bộ quốc phòng Nga tán thành sản xuất hàng loạt, phiên bản này đã phải bỏ dở vào năm 1992 do thay đổi về học thuyết quân sự và những khó khăn trong tài chính quân sự.[29] Tập đoàn MiG đã khởi động lại chương trình này vào năm 1999 và thực hiện cải tiến quan trong trên mẫu thiết kế trước đó. Vào ngày 20 tháng 1-2004, Hải quân Ấn Độ đã ký một hợp đồng mua 12 chiếc MiG-29K một chỗ và 4 chiếc MiG-29KUB huấn luyện hai chỗ, hợp đồng này sẽ giao hàng trong thời gian từ 2007 đến 2009.[30][31] Sửa đổi được thực hiện trên mẫu thiết kế để đáp ứng yêu cầu của Hải quân Ấn Độ, MiG-29K được trang bị với radar Zhuk-ME, động cơ RD-33MK, trọng tải chiến đấu lên đến 5.500 kg, 13 giá treo vũ khí, bổ sung thùng nhiên liệu trong lưng và cánh LERXs, tăng khả năng chứa nhiên liệu lên 50% so với phiên bản đầu của MiG-29 và nâng cấp hệ thống điều khiển bay fly-by-wire số 4 kênh. Bề mặt MiG-29K được phủ sơn đặc biệt nên phản xạ radar nhỏ hơn 4-5 lần so với MiG-29 cơ bản. Màn hình trong buồng lái gồm có HUD lớn và 3 màn hình đa năng LCD màu (7 trên MiG-29KUB) và module vệ tinh GPS Sigma-95 của Pháp và hệ thống hiển thị mục tiêu trên mũ Topsight E. Tương thích với vũ khí mang trên MiG-29M và MiG-29SMT.[32]
MiG-29 của Đông Đức cũ
MiG-29KUB "Fulcrum-D" (Product 9.47)
Đặc điểm giống hệt MiG-29K nhưng có buồng lái có 2 chỗ. Thiết kế này sẽ được dùng để huấn luyện cho phi công điều khiển MiG-29K và nó có khả năng chiến đấu đầy đủ. Chiếc MiG-29KUB đầu tiên được phát triển cho Hải quân Ấn Độ thực hiện chuyến bay đầu tiên tại trung tâm thử nghiệm bay Zhukovsky của Nga vào ngày 22 tháng 1-2007.[33]
MiG-29M / MiG-33 "Fulcrum-E" (Product 9.15)
Bài chi tiết: Mikoyan MiG-29M
Phiên bản đa vai trò tiên tiến, khung máy bay được thiết kế lại, hệ thống điều khiển bay cơ học được thay thế bằng hệ thống fly-by-wire và động cơ là RD-33 ser.3M.
MiG-29UBM (Product 9.61)
Phiên bản huấn luyện của MiG-29M. Không chế tạo.
MiG-29SMT (Product 9.17)
Một gói nâng cấp của những chiếc MiG-29 thế hệ đầu (9.12 đến 9.13) chứa đựng nhiều cải tiến được dự định thực hiện trên MiG-29M. Những thùng nhiên liệu bổ sung trên lưng mở rộng hơn giúp máy bay đạt tầm bay tối đa lên đến 2.100 km (với nhiên liệu bên trong). Buồng lái nâng cáo thiết kế HOTAS, 2 màn hình màu LCD đa năng (6 và 8 in) và 2 màn hình LCD đơn sắc khác nhỏ hơn. Radar Zhuk-ME được nâng cấp có đặc tính tương tự như trên MiG-29M. Động cwo nâng cấp loại RD-33 ser.3, có lực đẩy khi đốt nhiên liệu phụ trội đạt 8.300 kgf (81.4 kN) mỗi chiếc. Trọng tải vũ khí tăng lên 4.500 kg trên 6 giá treo dưới cánh và 1 giá treo ở bụng, nó có thể trang bị vũ khí tương tự như phiên bản MiG-29M. Máy bay nâng cấp còn có thể sử dụng hệ thống điện tử hàng không và vũ khí của các nước khác.[34] Phiên bản này hiện đang hoạt động trong Nga (16), Yemen, Algérie, Syria, và Iran.
MiG-29UBT (Product 9.51T)
Tiêu chuẩn SMT nâng cấp cho MiG-29UB. Cụ thể cho Algérie và Yemen.[35][36]
MiG-29M2 / MiG-29MRCA
MiG-29A
Phiên bản 2 chỗ của MiG-29M (có lẽ dựa trên thiết kế MiG-29UBM đã bị hủy bỏ). Có đặc điểm giống hệ MiG-29M, với tầm bay hoạt động nhỏ hơn, chỉ khoảng 1800 km. RAC MiG được giới thiệu trong vài triển lãm hàng không, như Fifth China International Aviation and Aerospace Exhibition (CIAAE 2004),[37] AERO INDIA 2005,[38][39] MAKS 2005.[40]. Nó đã một lần được gọi tên là MiG-29MRCA cho mục đích tiếp thị và hiện đang tiến triển thành MiG-35.
MiG-29N
Phiên bản xuất khẩu cho Malaysia, giống như MiG-29SD nhưng có khả năng tiếp nhiên liệu trên không, nâng cấp hệ thống thông tin liên lạc, cải tiến hệ thống dẫn đường và nâng cấp động cơ.
MiG-29UBN
Phiên bản huấn luyện 2 chỗ cho Malaysia.
MiG-29MaE / MiG-29MEh / MiG-29EM
Phiên bản xuất khẩu của MiG-29M.
MiG-29MR
Phiên bản trinh sát của MiG-29M.
MiG-29OVT
MiG-29OVT
Một số nguồn cho rằng tên mã NATO của nó là "Fulcrum-F". Mẫu này là một trong số 6 chiếc MiG-29M tiền sản xuất trước năm 1991, sau này được trang bị công nghệ động cơ đẩy vec-tơ và fly-by-wire. Nó được sử dụng như một mẫu thí nghiệm thao diễn động cơ đẩy vec-tơ và công nghệ trong những buổi triển lãm hàng không để phô diễn những cải tiến tương lai trong MiG-29M. Nó có hệ thống điện tử hàng không giống MiG-29M. Điểm khác nhau duy nhất là trong cách bố trí buồng lái với công tắc bổ sung để bật chức năng đẩy vec-tơ. 2 động cơ đẩy vec-tơ RD-133, mỗi chiếc có vòi xả khí đặc biệt có thể quay mọi hướng, giúp lực đẩy vec-tơ có thể lệch mọi hướng theo thiết kế. Tuy nhiên, dù nó có động cơ đẩy vec-tơ thì những chi tiết khác không được nhấn mạnh. Nó đã cùng trình diễn với MiG-29M2 trong một số triển lãm hàng không trên thế giới để quảng bá cho xuất khẩu. Ngoài ra nó thường được sử dụng như một máy bay thao diễn nhào lộn trên không.[41]
MiG-35 "Fulcrum-F"
MiG-35
Bài chi tiết: Mikoyan MiG-35
MiG-29M2 nâng cấp mới được hé mở gần đây.
MiG-29G/MiG-29GT
Đây là tiêu chuẩn nâng cấp NATO cho những chiếc MiG-29 / 29UB của Không quân Đức, thừa hưởng từ Đông Đức cũ. Công việc được thực hiện bởi MiG Aircraft Product Support GmbH (MAPS), một công ty liên doanh hình thành giữa MiG Moscow Aviation Production Association và Daimler Chrysler Aerospace năm 1993.[42]
MiG-29AS/MiG-29UBS
Không quân Slovak đã tiến hành nâng cấp những chiếc MiG-29/-29UB của mình để tương thích tiêu chuẩn của NATO. Do công ty RAC MiG các hãng Phương Tây thực hiện, bắt đầu vào năm 2005. Máy bay hiện được trang bị hệ thống dẫn đường và liên lạc của Rockwell Collins, hệ thống nhận biết bạn thù của BAE Systems, buồng lái kính mới với những màn hình LCD đa chức năng và bộ xử lý số mới, ngoài ra còn có thể tương thích với các thiết bị của Phương Tây trong tương lai. Tuy nhiên, vũ khí của máy bay vẫn được giữ nguyên. 12 trong số 21 chiếc MiG-29 đã được nâng cấp và đã giao vào cuối tháng 2 năm 2008.[18]
MiG-29 Sniper
Những chiếc MiG-29 của Không quân Romania do công ty của Israel thực hiện. Chương trình đã tạm dừng khi những chiếc MiG-29 của Romania ngừng hoạt động năm 2003. Chương trình này có chi phí cao, do đó khiến chính phủ Romania quyết định dùng chương trình MiG-29 và đầu tư thêm vào chương trình MiG-21 LanceR.

Các quốc gia sử dụng MiG-29[sửa | sửa mã nguồn]

Những nước vẫn sử dụng có màu xanh đậm, không còn sử dụng có màu xanh nhạt

Các quốc gia hiện vẫn đang sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

 Algérie
Không quân Algérie Algérie có 105 chiếc đang hoạt động. 65 MiG-29, 4 MiG-29UBT và 36 MiG-29SMT sẽ được giao vào 2007 và 2008. Thuộc các đơn vị không quân sau:
113 đóng ở Tindouf
143 đóng ở Ouargla
153 đóng ở Béchar-Oukda/Leger
193 đóng ở Bou Sfer
 Armenia
Không quân Armenia có 18 chiếc đang hoạt động.
 Azerbaijan
Azerbaijan có 48 chiếc đang hoạt động.
 Bangladesh
Không quân Bangladesh có 8 chiếc đang hoạt động. MiG-29 (9.12A) và MiG-29UB (9.51). Thuộc phi đội số 8 đóng ở Bashar
 Belarus
Belarus có 50 chiếc đang hoạt động.
 Bungary
Không quân Bulgaria có 20 MiG-29B đang hoạt động, gồm cả 4 MiG-29UB. Thuộc đơn vị 2/3 đóng ở Graf Ignatievo
 Cuba
Cuba có 14 chiếc đang hoạt động nhưng chỉ 3 chiếc là có thể bay.
 Eritrea
Eritrea có 5 chiếc đang hoạt động.
 Hungary
Không quân Hungary có 21 chiếc đang hoạt động. MiG-29 (9.12A) và MiG-29UB (9.51). Thuộc đơn vị số 2 và 59 đóng tại Kecskemét.
Flag of India.svg Ấn Độ
Không quân Ấn Độ có 63 chiếc đang hoạt động.
 Iran
Không quân Cộng hòa Hồi giáo Iran có được 21 chiếc từ Iraq chạy sang vào năm 1991, một số được mua từ Nga trong thập niên 1990. Hiện nay Iran có 60 MiG-29A và 15 MiG-29-UB đang hoạt động (tổng cộng 75 chiếc), một số báo cáo nói rằng có 35 MiG-29A, trong khi các nguồn khác cho rằng ít hơn chỉ có 24 chiếc (bao gồm cả MiG-29UB). Hầu hết những máy bay này đều được nâng cấp bởi Iran, bao gồm thêm cần tiếp nhiên liệu trên không. Thuộc đơn vị 11 đóng tại Tehran và Mehrabad Int'l, đơn vị 23 đóng tại Tabriz.
MiG-29B của Không quân Hungary
 Kazakhstan
Kazakhstan có 40 chiếc đang hoạt động.
 Malaysia
Không quân Hoàng gia Malaysia có 18 chiếc. 2 chiếc bị rơi, còn lại 16 chiếc đang hoạt động. Thuộc đơn vị số 19 đóng quân tại Kuantan-Sultan Ahmed Shah.
 Myanmar
Myanmar có 12 chiếc đang hoạt động.
 CHDCND Triều Tiên
Không quân Nhân dân Triều Tiên có 40 chiếc đang hoạt động. Thuộc trung đoàn không quân 57 đóng tại Onchon-up
 Peru
Không quân Peru có 19 chiếc đang hoạt động, gồm 16 MiG-29S và 2 MiG-29UB mua từ Belarus, 3 MiG-29SE mua từ Nga, 2 chiếc bị rơi. Những chiếc còn lại thuộc đơn vị số 612 đóng tại Chiclayo.
 Ba Lan
Không quân Ba Lan mua 12 chiếc (9 chiếc MiG-29 9.12 và 3 chiếc MiG-29UB 9.51) từ Liên Xô vào năm 1989-1990. 10 chiếc của Cộng hòa Séc (9 MiG-29A và 1 MiG-29UB) đã được đổi lấy 11 chiếc trực thăng PZL W-3 Sokół của Ba Lan vào năm 1996. Sau đó 22 chiếc đã được Đức chuyển cho Ba Lan vào năm 2003. Hiện nay Ba Lan có 44 chiếc (36 MiG-29A và 8 MiG-29UB) nhưng chỉ có 32 chiếc đang hoạt động trong 2 đơn vị số 1 đóng tại căn cứ Mińsk Mazowiecki và 44 đóng tại căn cứ Malbork.
MiG-29 của Ba Lan
 Nga
Nga có tổng cộng 580 chiếc đang hoạt động, 266 chiếc thuộc Không quân Nga[43] và 110 chiếc thuộc Hải quân Nga (150 chiếc làm dự bị, 50 chiếc dành cho huấn luyện).[44] Bao gồm:
Trung tâm huấn luyện 783- Armavir
Trung đoàn không quân tiêm kích 14 - Kursk
Trung đoàn không quân tiêm kích 28 - Andreapol (căn cứ không quân)
Trung tâm thao diễn cộng nghệ không quân cận vệ 237 - Kubinka
Trung đoàn không quân tiêm kích 19 - Millerovo
Trung đoàn không quân tiêm kích 31 - Zernograd
Trung đoàn không quân tiêm cận vệ 120
Hàng không hải quân Nga
 Serbia
Lực lượng phòng không không quân Serbia có 4 chiếc MiG-29B và 1 chiếc MiG-29UB đang hoạt động.[45] Thuộc phi đội tiêm kích số 101 đóng tại Căn cứ không quân số 204 (Căn cứ không quân Batajnica) sử dụng MiG-29 (9.12A) và MiG-29UB (9.51).
 Slovakia
Không quân Slovakia có 21 chiếc từ năm 1993, 13 chiếc đang hoạt động. Năm 2005-2006 chúng đã được nâng cấp thành MiG-29SD (AS - S cho Slovak) và MiG-29UBS với tiêu chuẩn của NATO/ICAO. Thuộc phi đội tiêm kích số 1 đóng tại Sliac, sử dụng MiG-29 (9.12A) và MiG-29UB (9.51).
 Sudan
Sudan có 10 chiếc đang hoạt động.
 Syria
Không quân Syria có 42 chiếc đang hoạt động. Bao gồm trong các phi đội số 697, 698, 699 tại căn cứ Saiqal, sử dụng MiG-29 (9.12B), MiG-29 (9.13) và MiG-29UB (9.51).
MiG-29 của Cuba
 Turkmenistan
Turkmenistan có 20 chiếc đang hoạt động.
 Ukraina

Không quân Ukraina có 217 chiếc[46] đang hoạt động. Gồm các lữ đoàn hàng không tiêm kích số 9, 40, 114, 204.

Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Mỹ mua 21 chiếc từ Moldova.
 Uzbekistan
Uzbekistan có 30 chiếc đang hoạt động.
 Yemen
Yemen có 44 chiếc đang hoạt động. 6 chiếc được mua từ Moldova.

Các quốc gia không còn sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Flag of the Czech Republic (bordered).svg Tiệp Khắc
Tiệp Khắc có 18 MiG-29A và 2 MiG-29UB từ năm 1989. Tất cả chuyển cho (tỷ lệ 1:1) Cộng hòa Séc và Slovakia.
 Cộng hòa Séc
Cộng hòa Séc đã nhận được 9 chiếc MiG-29A và 1 chiếc MiG-29UB. Những máy bay này không hoạt động lâu, sau đó được đổi với Ba Lan để lấy 11 trực thăng PZL W-3 Sokół năm 1996.
MiG-29 của Đông Đức cũ
Flag of East Germany.svg Cộng hòa Dân chủ Đức
Đông Đức có 24 chiếc được giao vào năm 1988-1989, gồm 4 MiG-29UB. Chúng đóng tại Preschen. Khi nước Đức thống nhất vào năm 1990, chúng được chuyển cho Luftwaffe.
Flag of Germany.svg Đức
Không quân Đức thừa hưởng 24 chiếc từ Đông Đức vào năm 1990 và nâng cấp chúng với tiêu chuẩn của NATO. 1 chiếc bị mất, và 1 chiếc hiện đang trưng bày, còn 22 chiếc khác chuyển cho Ba Lan vào năm 2003, sau khi những chiếc Eurofighter Typhoon thay thế chúng.
JG73 "Steinhoff" đóng tại Laage sử dụng MiG-29 (9.12A) và MiG-29UB (9.51) dưới tên gọi MiG-29G.
 Iraq
Iraq có 41 chiếc. Một số bị phá hủy trong Chiến tranh vùng Vịnh, 21 chiếc bay sang Iran. Không còn sử dụng.
 Moldova
Moldova có 34 chiếc nhận từ Liên Xô sau khi Liên Xô sụp đổ. 6 chiếc bán cho Yemen, 21 bán cho Mỹ, 1 MiG-29S bán cho Romania.
 România
Romania có 20 MiG-29A mua từ Liên Xô vào năm 1989 cộng với 1 MiG-29S từ Moldova. Hiện 18 chiếc đang nằm trong kho sau khi ngân sách dành cho nâng cấp bị cắt.[47]
 Liên Xô
Sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, có khoảng 1000 chiếc đang hoạt động. Sau đó chúng được chuyển cho các nước cộng hòa độc lập tách ra từ Liên Xô: Belarus(50), Ukraina (220), Kazakhstan (40), Uzbekistan (30), Turkmenistan (20). Hơn 600 chiếc thuộc về Nga. Nhiều chiếc sau đó được bán cho các quốc gia thứ 3 mà không được công bố.[48]
Không quân Xô viết
Nguyên mẫu MiG-29UB trưng bày tại Latvia.
Flag of SFR Yugoslavia.svg Nam Tư/ Nam Tư
Không quân SFR Nam Tư có 14 MiG-29B và 2 MiG-29UB. Trong Chiến tranh Kosovo, 5 chiếc MiG-29B bị bắn hạ. 4 chiếc khác và 1 chiếc MiG-29UB bị phá hủy dưới đất bởi NATO.[49] 4 MiG-29B và 1 MiG-29UB hiện đang thuộc về Serbia.
127.LAE thuộc 204.LAP đóng tại Căn cứ không quân Batajnica sử dụng MiG-29 (9.12A) và MiG-29UB (9.51) trong khoảng thời gian 1986-1991.
Không quân FR Nam Tư
127. LAE "Vitezovi" thuộc 204.LAP đóng tại Căn cứ không quân Batajnica sử dụng MiG-29 (9.12A) và MiG-29UB (9.51) trong khoảng thời gian 1991-2006.

Những chiếc MiG-29 trưng bày[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-29.

Có vài bảo tàng tại Nga hiện đang trưng bày MiG-29, bao gồm:

1 chiếc MiG-29 hiện đang trưng bày tại Đức. Chỉ có 1 chiếc MiG-29G (29+03) của Đức còn lại được chuyển đến Laage cho Luftwaffenmuseum der Bundeswehr trong Sân bay Gatow Berlin, là một phần của cuộc triển lãm "50 Jahre Luftwaffe".[19]

MiG-29 Sniper đang trưng bày tại Romania Muzeul Aviatiei, Bucharest.

6 chiếc MiG-29 cũ của Không quân Moldova hiện đang trưng bày tại Mỹ tại các địa điểm:

2 nguyên mẫu MiG-29UB hiện đang trưng bày tại Bảo tàng hàng không Riga. Sau 213 chuyến bay thử nghiệm gần Moscow từ 23 tháng 8 năm 1982 đến 10 tháng 4 năm 1986, nó bị tháo rời, bộ phận cánh và đuôi được tái sử dụng trên nguyên mẫu (9-16). Phần còn lại được chuyển đến Trường kỹ sư hàng không quân sự, và sau đó chuyển đến Bảo tàng hàng không Riga năm 1994, và được trưng bày cho đến nay. Những bộ phận còn lại của nguyên mẫu đang ở trong điều kiện rất xấu, các tấm vỏ thân bị mở ra, một vòm kính che bị vỡ và buồng lái để mở đã khiến bộ phận bị hủy hoại do thời tiết.

Đặc điểm kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Orthographic projection of the Mikoyan MiG-29.

Đặc điểm riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi hành đoàn: 1
  • Chiều dài: 17.37 m (57 ft)
  • Sải cánh: 11.4 m (37 ft 3 in)
  • Chiều cao: 4.73 m (15 ft 6 in)
  • Diện tích cánh: 38 m² (409 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 11.000 kg (24.250 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 16.800 kg (37.000 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 21.000 kg (46.300 lb)
  • Động cơ: 2× Klimov RD-33, 8300 kgf (xấp xỉ 81.4 kN) mỗi chiếc

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Radar Phazotron N019, N010

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ France-Presse, Agence. "Russia To Sell 20 MiG-29 Fighters To Myanmar". Defense News, 23 tháng 12 năm 2009.
  2. ^ Russian MiG-29 Jets 'Attack' China in Myanmar, Pravda, 2009-12-24
  3. ^ a ă Zuyev, A.; McConnell, M.. Fulcrum: A Top Gun Pilot's Escape From the Soviet Empire. Warner Books, 1993. ISBN 0-446-36498-3.
  4. ^ [1]
  5. ^ [2]
  6. ^ Lake, p.94.
  7. ^ a ă [3]
  8. ^ Nga tìm lời giải vì sự ăn mòn trên MiG-29 mới [nguồn tự xuất bản]
  9. ^ USA Air Force Milestones, 1999-12-31.
  10. ^ Cuba11.589
  11. ^ [4]
  12. ^ [5]
  13. ^ http://en.klimov.ru/media/news/2007-01-24/
  14. ^ [6]
  15. ^ [7]
  16. ^ [8]
  17. ^ "MiG-29 (English translation)." artofwar.ru. Retrieved 5 October 2012.
  18. ^ Lazanski, Miroslav. (Kako je oboren F-117: English translation) "F-117." Politika, Serbia. Retrieved 2 August 2010.
  19. ^ ACIG 380.
  20. ^ http://www.vojska.mod.gov.yu/eng/index.php?action=fullnews&id=208
  21. ^ http://www.mycity.co.yu/imgs/88721_63538899_mig%2029.JPG
  22. ^ [9]
  23. ^ FAS MiG-29
  24. ^ Buzzards, AeroWeb.
  25. ^ Code One, 1995-07.
  26. ^ Lake, John. Jane's How to Fly and Fight in the Mikoyan MiG-29 (HarperCollins, 1997 ISBN 0-00472144-6), p.70.
  27. ^ MiGi za 1 euro w Bydgoszczy Bản mẫu:Icon pl.
  28. ^ Hoffman, Carl "Building Your Own Air Force, One Mig at a Time", Wired magazine, issue 13.10 http://www.wired.com/wired/archive/13.10/kirlin_pr.html
  29. ^ Rac Mig
  30. ^ Rac Mig
  31. ^ IndiaDaily
  32. ^ Rac Mig
  33. ^ en.rian.ru
  34. ^ Rac Mig
  35. ^ Centre for Analysis of Strategies and Technologies - CAST comments
  36. ^ Moscow Defense Brief
  37. ^ People's Daily Online - Latest MiG-29 planes to be flown
  38. ^ Rac Mig
  39. ^ ACIG Exclusives : Aero India 2005 : Chapter 4
  40. ^ MAKS 2005 highlights
  41. ^ http://www.aviapedia.com/fighters/mig-29vft-video-smotr
  42. ^ Moscow Defense Brief
  43. ^ Aviatsiya Voyenno entry at the Globalsecurity.org website
  44. ^ MIG-29/MIG-35 Fulcrum Counter-Air Fighter entry at the Warfare.ru website
  45. ^ MIG-29 FIGHTER entry at the Serbian Armed Forces Official Website
  46. ^ Ukraine - Air Force Equipment
  47. ^ Romania retires its MiG-29 fleet article in Adevărul website, tháng 1 năm 2003.
  48. ^ airforce-technology.com - MiG-29
  49. ^ Yugoslav & Serbian MiG-29s article at the ACIG (Air Combat Information Group) website
  50. ^ http://www.flug-revue.rotor.com/frtypen/FRMiG-29.htm

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có cùng sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách tiếp theo[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-23 - MiG-25 - MiG-27 - MiG-29 - MiG-29M - MiG-31 - MiG-35

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]