Sukhoi Su-17

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Su-17/Su-20/Su-22
Su-22UM3K, Radom Air Show 2007.jpg
Su-22UM3K, Triển lãm hàng không Radom 2007
Kiểu Máy bay tấn công mặt đất/ máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất Sukhoi
Chuyến bay đầu tiên 2 tháng 8-1966
Được giới thiệu 1972
Tình trạng Hoạt động tích cực
Hãng sử dụng chính Flag of the Soviet Union.svg Không quân Xô Viết
Flag of Poland.svg Không quân Ba Lan
Flag of Vietnam.svg Không quân Nhân dân Việt Nam
Số lượng được sản xuất 2,867
Những phương án tương tự Su-20
Su-22
Được phát triển từ Sukhoi Su-7

Sukhoi Su-17 (tên ký hiệu của NATO 'Fitter') là một máy bay tấn công của Liên Xô, được phát triển từ máy bay tiêm kích/ném bom Su-7. Loại máy bay này rất thành công, với một thời gian dài phục vụ trong không quân Xô Viếtkhông quân Nga. Dòng máy bay này được xuất khẩu rộng rãi tới các nước Đông Âu, Châu Á, và Trung Đông.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử của Su-17 bắt đầu như một nỗ lực để cải tiến máy bay tiêm kích/ném bom Su-7. Dù Su-7 có một số ưu điểm, bao gồm một bộ khung vững chắc và tốc độ bay thấp hoàn hảo, nhưng cánh nó có những điểm méo mó nhỏ và nó có tốc độ cất cánh hạ cánh lớn do đó đòi hỏi phải có đường băng dài.

Những nghiên cứu của trung tâm khí động học Xô Viết, TsAGI, đã đề xuất một hình dạng cánh cụp cánh xòe. Cánh có hình dạng thay đổi được có thể xòe ra để nâng cao tốc độ ở độ cao thấp và hiệu suất tuần tra, hay cụp lại để bay với tốc độ cao hơn. Vài mẫu cánh VG planform đã được phát triển, cho Su-7 (và máy bay ném bom Tupolev Tu-22), hình dạng được chọn cho phép chỉ phần ở phía ngoài chuyển động, để lại một đoạn cánh phía trong cố định. Ngoài việc làm cho máy bay dễ dàng tương thích với cánh mới, thân máy bay cũng được thiết kế sửa chữa cho phù hợp, bộ phận bánh máy bay được chuyển vào những khoang nhỏ trong cánh thay vì trong thân như trước kia, cho phép mở rộng giá treo vũ khí dưới thân, điểm treo vũ khí dưới cánh được đặt dưới phần cánh cố định.

Một sửa đổi trên Su-7 với cánh mới đã được xây dựng và nó bay lần đầu tiên vào 2 tháng 8-1966 với tên gọi là Su-7IG (изменяемой геометрии - izmenyaemoi geometrii, "có thể thay đổi được hình dạng") (hay S-22I). Cánh điều khiển bằng tay, nó có thể quay góc 28°, 45°, và 63°. Những kết quả rất khả quan, nó có thể trình diễn bay tốc độ thấp, khoảng cách cất cánh và hạ cánh giảm xuống một nửa, và quan trọng là nó có thể mang được những vũ khí hạng nặng.

Su-7 và Su-17 bên cạnh nhau

Những quan sát viên của Phương Tây đã có những ý niệm mơ hồ về loại máy bay mới đã bay thử tại sân bay Domodedovo, Moskva vào tháng 7 năm 1967, họ được xem như loại máy bay đó là Su-7IG (tên ký hiệu của NATO 'Fitter-B') chỉ bay thử nghiệm, và họ đã rất ngạc nhiên khi các đơn vị không quân của Liên Xô trang bị loại máy bay đó vào năm 1972.

Loại máy bay mới, được biết đến trong các phòng thiết kế là S-32, đã có tên gọi chính thức là Su-17. Trong các hoạt động tại các đơn vị nó thường được gọi với cái tên "Strizh", tiếng Nga cho "Martlet - Chim nhạn không chân". Phiên bản sản xuất chính đầu tiên là Su-17M, với động cơ khỏe hơn và hệ thống điện tử mới, như thùng nhiên liệu thêm ở trên lưng. Một phiên bản xuất khẩu "làm nhẹ bớt" đã được thiết kế với tên gọi Su-20, với các giảm bớt tiêu chuẩn trang bị. Cả 3 phiên bản đầu tiên đều được NATO gán tên là Fitter-C.

Su-17

Sukhoi OKB sau này đã phát triển một danh sách dài những phiên bản có tính năng ưu việt. Phiên bản dành cho Liên Xô có tên gọi là Su-17, phiên bản xuất khẩu tương đương có tên gọi là Su-22. Khoảng 3000 chiếc Su-17 và các phiên bản của nó đã được sản xuất từ giữa năm 1966 đến khi kết thúc sản xuất vào năm 1991. Liên Xô đã sử dụng Su-17 rộng rãi trong Chiến tranh Afghanistan, với 100-150 chiếc phục vụ trong cuộc chiến đó. Nhiều chiếc đã bị bắn hạ bởi tên lửa đất đối không FIM-92 Stinger của Mỹ. 3 chiếc Su-22 đã bị bắn hạ trên không bởi những chiếc F-16 của Pakistan, khi những chiếc máy bay của Liên Xô bay lạc vào trung tâm vũ trụ của Pakistan.

Những chiếc 'Fitter' cánh cụp cánh xòe cũng được sử dụng trong chiến tranh ở LibyaIraq. 2 chiếc Fitter của Libya đã bị bắn hạ trong sự kiệm Vịnh Sidra bởi những chiếc F-14 của hải quân Hoa Kỳ vào 19 tháng 8-1981. Nhiều chiếc cũng đã bị mất trong suốt chiến trang Iran-Iraq vào những năm 1980, và hơn 6 chiếc đã bị không quân Hoa Kỳ phá hủy trong Chiến tranh vùng vịnh.

Khả năng thao diễn của Su-17 khá kém, dù phiên bản cải tiến Su-7B đã có những thay đổi. Nó khá lớn, gây tiếng ồn lớn và tạo nhiều khói. Nó được thiết kế với nhiệm vụ chính là tấn công mặt đất, nhưng nó lại tham gia không chiến tương đối nhiều. Không quân Nga đã cho những chiếc Su-17 về hưu, nhưng còn khoảng 550 chiếc vẫn đang hoạt động trong biên chế của không quân các nước khác trên thế giới.

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Su-7IG ('Fitter-B'): chuyển đổi từ Su-7BMK để xây dựng khái niệm bay.
  • 'Fitter-C' (tên ký hiệu của NATO giống với một sô phiên bản):
    • Su-17: được chế tạo lại với số lượng nhỏ (khoảng 24 chiếc) vào năm 1969, được dựa trên mẫu Su-7U huấn luyện 2 chỗ, với phần lưng phình lên cho các bình chứa nhiên liệu (4.550 lít). Nó giữ lại động cơ Lyulka AL-7F-1 của Su-7 (68.64 kN/15.432 lbf lực đẩy chính hay 99.12 kN/22.282 lbf khi đốt nhiên liệu lần 2).
    • Su-17M: phiên bản sản xuất chính, bắt đầu sản xuất vào năm 1971, gồm động cơ Lyulka AL-21F-3, 2 chỗ, hệ thống dẫn đường/tấn công mới (giữ lại radar khoảng cách SRD-5M, dù hãm ở đuôi của Su-7BMK). Có vận tốc cực đại là Mach 2.1, phiên bản xuất khẩu tương đương có tên gọi là Su-20.
    • Su-17R: một số nhỏ máy bay Su-17M trang bị hệ thống trinh sát. Phiên bản xuất khẩu tương đương có tên gọi là Su-20R.
  • Su-17M-2D ('Fitter-D'): giới thiệu trong năm 1974 với phần mũi mở rộng 38 cm, loại bỏ radar khoảng cách để cải thiện tầm nhìn của phi công. Phần mũi chứa hệ thống tìm đường laser/dò tìm mục tiêu (LRMTS), radar dẫn đường DISS-7 Doppler. Phiên bản xuất khẩu có tên gọi Su-17M-2K ('Fitter-F'), loại bỏ LRMTS, thay thế động cơ cũ bằng động cơ Tumanskii/Khatchaturov R-29BS-300 (tương tự như trên MiG-23) công suất sau khi đốt nhiên liệu lần 2 là 112.76 kN (25.348 lbf).
  • Su-17UM-2D ('Fitter-E'): phiên bản huấn luyện 2 chỗ đầu tiên, dựa trên Su-17M-2D, nhưng có một số điểm khác biệt, thân máy bay dài hơn do kính chắn gió di chuyển lên phía trước, có cùng chiều dài như Su-17M. Khả năng mang nhiên liệu bên trong bị giảm bớt và pháo cũng bị loại bỏ, nhưng có hệ thống điện tử và vũ khí đầy đủ. Phiên bản xuất khẩu, sử dụng động cơ R-29BS-300 giống như Su-17M-2K, có tên gọi là Su-17UM-2K.
  • Su-17UM-3 ('Fitter-G'): phiên bản huấn luyện được nâng cao lên, cánh đuôi thẳng đứng và cánh bụng có thể dời đi được. Không giống đa số những model sau của Fitter, nó giữ lại đầu vào không khí, cho phép máy bay đạt được vận tốc Mach 2.1. Hệ thống điện tử không chiến bị loại bỏ cho hệ thống mới cho phép giáo viên mô phỏng những cuộc tấn công và tình trạng khẩn cấp khi đang bay. Phiên bản huấn luyện có tên gọi Su-22UM-3K, một số sử dụng động cơ Lyulka, còn số khác dùng động cơ Tumanskii/Khatchaturov.
  • Su-17M-3 ('Fitter-H'): phiên bản ghế đơn dựa trên Su-17UM-2D, nhưng chỉ với buồng lái đơn, giữ lại 2 pháo. Radar Doppler di chuyển vào trong. Giá treo tên lửa K-13 (AA-2 'Atoll') hoặc R-60 (AA-8 'Aphid') được thêm vào giữa 2 giá treo mỗi cánh. Khả năng chứa nhiên liệu bên trong gia tăng với 4.850 lít. Phiên bản xuất khẩu, giống phần lớn ngoại trừ sử dụng động cơ R-29BS-300, có tên gọi Su-22M-3K ('Fitter-J').
Su-22M4
  • Su-17M-4 ('Fitter-K'): phiên bản sản xuất cuối cùng, sản xuất bắt đầu vào năm 1980, với việc nâng cấp đáng kể hệ thống điện tử, gồm hệ thống dẫn đường RSDN (giống với LORAN), dẫn đường tín hiệu, dẫn đường quán tính, hệ thống đo khoảng cách laser mạnh hơn, sóng định vị vô tuyến, và hệ thống radar cảnh báo SPO-15LE ('Sirena'). Thêm những khe nạp không khí bổ sung (gồm bộ nạp không khí ở cánh) để có thêm luồng không khí làm mát động cơ. 'Fitter-K' trang bị tên lửa dẫn đường TV và vũ khí chùm tên lửa chống radar BA-58 Vjuga. Tùy chọn thêm hệ thống phòng thủ gồm các chùm kim loại gây nhiễu, pháo sáng gây nhiễu. Phiên bản xuất khẩu có tên gọi Su-22M-4.
  • Su-22M-5: phiên bản nâng cấp trọn gói của Nga-Pháp liên doanh cho các máy bay hiện nay, với buồng lái hiện đại, HOTAS, hệ thống điện tử cải tiến. Xóa bỏ hệ thống đo khoảng cách laser thay vào đó là radar Phazotron/Thomson-CSF 'Phathom'.

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các nước sử dụng Su-17/Su-20/Su-22
 Armenia
Nhiều chiếc phục vụ trong Không quân Armenia, số lượng chính xác không biết rõ.
 Afghanistan
khoảng 70 chiếc đã được cung cấp cho không quân Afghan vào năm 1982, gồm cả 45 Su-22M-4 được chuyển vào năm 1984.
 Algérie
Không quân Algeria sử dụng 32 chiếc, không còn hoạt động.
 Angola
Lực lượng Phòng không và Không quân Nhân dân Angola sử dụng 22 chiếc Su-22.
 Azerbaijan
Không quân Azerbaijan dùng 2 chiếc Su-17.
 Belarus
Không quân Belarus nhận được những chiếc Su-17 từ không quân Xô viết, không còn sử dụng.
 Bungary
Không quân Bulgarian sử dụng 18 Su-22M4 và 3 Su-22UM, không còn sử dụng.
 Cộng hòa Séc
Không quân Séc nhận được 31 Su-22M-4 và 5 Su-22UM-3K. Ngừng hoạt động năm 2002[1].
Flag of the Czech Republic (bordered).svg Tiệp Khắc
Tiệp Khắc chia Su-22 (49 Su-22M-4 và 8 Su-22UM-3K năm 1992) cho Cộng hòa Séc và Slovakia năm 1993.
Flag of East Germany.svg Đông Đức
Luftstreitkräfte der NVA sử dụng Su-22 đến khi thống nhất nước Đức, máy bay được chuyển cho Luftwaffe.
Flag of Egypt.svg Ai Cập
Không quân Ai Cập sử dụng 48 chiếc Su-20/22, tất cả đã ngừng sử dụng, được thay thế bởi F-4 Phantom IIF-16 Fighting Falcon.
Flag of Germany.svg Đức
Su-22 được chuyển từ Đông Đức, không hoạt động trong Luftwaffe, một số máy bay được sơn màu của Luftwaffe để thử nghiệm và đánh giá.
 Hungary
Không quân Hungary dùng 12 Su-22M3 và 3 Su-22UM-3 từ năm 1983. 2 chiếc hai chỗ và một chiếc huấn luyện đã rơi. Ngừng hoạt động năm 1997.
 Iraq
Không quân Iraq sử dụng một số kiểu Su-22, một số đã chạy sang Iran năm 1991.
 Iran
Không quân Cộng hòa Hồi giáo Iran sử dụng một số kiểu Su-20 và Su-22.
 Libya
Không quân Libya có 90 Su-22, có 40 Su-22M3 và Su-22UM3K đang hoạt động.
 CHDCND Triều Tiên
30 chiếc hiện đang hoạt động trong Không quân Bắc Triều Tiên.
 Peru
Không quân Peru có 35 Su-22M, Su-22M3, và Su-22UM3.
 Ba Lan
Không quân Ba Lan còn 48 Su-22M4K và Su-22UM3K trong tổng số 137 chiếc có được. Tất cả sẽ ngừng hoạt động trước 2012.
Chiếc Su-22M số hiệu 5815 này thuộc Trung đoàn 923 Không quân Nhân dân Việt Nam đã tham gia chuyến tuần tra biển đầu tiên tại quần đảo Trường Sa ngày 10 tháng 2 năm 1988.
 Nga
Không quân Nga nhận được từ Liên Xô, không còn sử dụng.
 Slovakia
Lực lượng Phòng không Không quân có 18 Su-22M-4 và 3 Su-22UM-3K nhận từ Tiệp Khắc năm 1993.
 Liên Xô
Liên Xô chia Su-22 cho các quốc gia độc lập tách ra.
 Syria
60 Su-22 đang hoạt động trong Không quân Syria.
 Turkmenistan
Su-17 đang hoạt động trong Quân đội Turkmenistan.
 Ukraina
40 Su-17 đã ngừng hoạt động.
 Uzbekistan
Su-17 không rõ tình trạng trong Quân đội Uzbekistan.
 Việt Nam
Khoảng 145 Su-22M4 hiện đang hoạt động trong Không quân Nhân dân Việt Nam.
 Yemen
50 Su-22 phục vụ trong Không quân Yemen.

Thông số kỹ thuật (Su-17M-4)[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu từ Sukhoi[2]

Sukhoi Su-17M4.png

Đặc điểm riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi hành đoàn: 1
  • Chiều dài: 19.03 m (62 ft 5 in)
  • Sải cánh: cánh cụp 10.02 m (32 ft 10 in) và cánh xòe 13.68 m (44 ft 11 in)
  • Chiều cao: 5.12 m (16 ft 10 in)
  • Diện tích cánh: từ 34.5 m² (370 ft²) đến 38.5 m² (415 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 12160 kg (26,810 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 16400 kg (36,155 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 19430 kg (42,835 lb)
  • Động cơ: 1× Lyulka AL-21F-3 76.5 kN (17.200 lbf) - 109.8 kN (24,675 lbf)

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vận tốc cực đại: 1400 km/h (755 knots, 870 mph) trên biển và 1860 km/h (1,005 knots, 1,155 mph, Mach 1.7) trên độ cao lớn
  • Tầm bay: 1.150 km (715 mi) (tấn công) - 2.300 km (1.430 mi) (tuần tiễu)
  • Trần bay: 14200 m (46,590 ft)
  • Vận tốc bay lên: 230 m/s (45.276 ft/min)
  • Áp lực lên cánh: 443 kg/m² (90.77 lb/ft²)
  • Lực đẩy/trọng lượng: 0.68

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2x pháo 30 mm NR-30, 80 viên mỗi súng
  • 2 giá treo dưới cánh mang tên lửa không đối không R-60 (AA-8 'Aphid')
  • 10 giá treo cứng mang được 4.250 kg (9.370 lb) vũ khí (3 vị trí dưới cánh cố định, 4 hoặc 2 trên thân), gồm bom, chùm rocket, bom napalm, vũ khí hạt nhân. Còn có thể mang tên lửa dẫn đường điện tử/quang học Kh-23 (AS-7 'Kerry'), Kh-25 (AS-10 'Karen'), Kh-29 (AS-14 'Kedge'), và Kh-58 (AS-11 'Kilter'); bom điều khiển laser.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Info about Czech air force
  2. ^ Sukhoi. “Su-22M4”. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có chung sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]