Kh-29

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kh-29
(tên ký hiệu của NATO: AS-14 'Kedge')
Kh-29L (1).jpg
Kh-29L
Loại tên lửa không đối đất
Nguồn gốc Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1980-hiện nay
Quốc gia sử dụng Khối Warszawa, Trung Quốc, Ấn Độ, Iraq
Sử dụng trong Chiến tranh Iran-Iraq
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Matius Bisnovat
Georgiy I. Khokhlov
Năm thiết kế 1975
Nhà sản xuất Vympel / Tập đoàn Tên lửa Chiến thuật[1]
Giai đoạn sản xuất 1980- 2003 [2]
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng Kh-29L :660 kg (1,460 lb)[3]
Kh-29T :685 kg (1,510 lb)[3]
Kh-29TE :690 kg (1,520 lb) [3]
Chiều dài Kh-29L/T: 390 cm (12 ft 10 in)[3]
Kh-29TE :387.5 cm (12 ft 9 in)[3]
Đường kính 38.0 cm (15.0 in) [3]

Đầu nổ loại HE xuyên[1], 320 kg (705 lb)[1]
Cơ cấu nổ Tiếp xúc [1]

Động cơ tên lửa nhiên liệu rắn[1]
Sải cánh 110 cm (43 in) [3]
Tầm hoạt động Kh-29L :10 km (5.4 nmi)[3]
Kh-29T :12 km (6.5 nmi) [3]
Kh-29TE :30 km (16 nmi) [3]
Tốc độ 1.470 km/h (910 mph)[2]

Kh-29ML :900–1260 km/h (560–780 mph)[4]

Hệ thống điều khiển Kh-29L : laser bán chủ động
Kh-29T/TE: TV bị động
Cơ cấu phóng Kh-29L&T: MiG-27K,[3] MiG-29M,[3]
Su-27UB,[3] Su-30MK,[3] Su-39[3]

Kh-29L only: Su-25[3]
Kh-29T only: Su-35[3]
Also : Mirage F1E,[5] Su-17/22,[5] Su-24,[5] Su-33, Su-34, Su-37

Kh-29 (tiếng Nga: Х-29; AS-14 'Kedge';GRAU 9M721) là một loại tên lửa không đối đất của Nga với tầm bắn 10–30 km. Nó có đầu đạn cỡ lớn 320 kg, có hệ thống dẫn đường laser hoặc TV, và nó có thể trang bị trên các máy bay chiến đấu chiến thuật như Su-24 'Fencer'Su-30 'Flanker'.

Loại tên lửa tương đương của Mỹ là loại AGM-65 Maverick, nhưng có đầu đạn nặng hơn.[6] Kh-29 sử dụng để tấn công các mục tiêu chiến trường và cơ sở hạ tầng lớn như toàn nhà công nghệ, kho tàng và cầu,[6] nhưng nó cũng có thể được sử dụng tấn công tàu có trọng tải lên đến 10.000 tấn, các nhà chứa máy bay kiến cố và đường băng bê tông.[1]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Công việc phát triển bắt đầu vào cuối thập niên 1970 tại phòng thiết kế Molniya ở Ukraina, phòng thiết kế này chuyên thiết kế chế tạo vũ khí không đối đất, nhưng khi Molniya chuyển sang chuyên phát triển sản phẩm công nghệ vũ trụ thì Vympel đã nhận lấy trách nhiệm phát triển Kh-29.[6] Cuộc bắn thử nghiệm đầu tiên diễn ra vào năm 1976 và sau khi thử nghiệm rộng rãi, Kh-29 được chấp nhận trang bị cho quân đội năm 1980.[2]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Bố trí khí động của Kh-29 cơ bản giống với Molniya R-60 (AA-8 'Aphid'), R-60 là loại tên lửa không đối không của Molniya.[6] Hệ thống dẫn đường ở đầu tên lửa có thể là loại laser của Kh-25 (AS-10 'Karen') và TV của Kh-59 (AS-13 'Kingbolt').[5]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Kh-29 được trang bị cho Không quân Nga năm 1980, và được xuất khẩu rộng rãi.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kh-29L (Izdeliye 63, 'Kedge-A')[6] sử dụng hệ dẫn đường laser bán chủ động và có tầm hoạt động 8–10 km.[3]
  • Kh-29ML là phiên bản nâng cấp của Kh-29L.[6]
  • Kh-29T (Izdeliye 64, 'Kedge-B')[6] phiên bản dùng hệ dẫn đường TV, trang bị với đầu dò quang học tự động nhận dạng vật thể được phi công chỉ điểm trong buồng lái.
  • Kh-29TE là phiên bản tầm xa (30 km) của Kh-29T.[3] Tầm hoạt động nhỏ nhất là 3 km; phóng trên độ cao 200-10,000 m.[3]
  • Kh-29MP phiên bản chống radar phát triển trang bị cho Su-17 'Fitter' thực hiện nhiệm vụ SEAD.[6]

Một số nguồn của phương Tây đề cập đến biến thể thứ tư là "Kh-29D" sử dụng hệ dẫn đường hồng ngoại. Điều này có thể là mọt sự tham chiếu đến việc sử đổi camera của Kh-29T sử dụng ảnh hồng ngoại dùng trong điều kiện ngày/đêm[6], nhưng không xuất hiện trong các tài liệu tham khảo của Nga.

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Đông Đức [2].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d X-29TE / X-29L, Tactical Missiles Corporation, truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h Fiszer, Michal A. “25 years of service of Russian Kh-29 missile”. Situational Awareness. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008.  Written by Polish former Su-24 pilot
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p Rosoboronexport Air Force Department and Media & PR Service, AEROSPACE SYSTEMS export catalogue, Rosoboronexport State Corporation, tr. 122 
  4. ^ “KH-29”. The Probert Encyclopaedia. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2008. 
  5. ^ a ă â b “Vympel Kh-29 (AS-14 'Kedge')”, Jane's Electro-Optic Systems, 4 tháng 9 năm 2008, truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009 
  6. ^ a ă â b c d đ e ê “Kh-29 (AS-14 'Kedge')”, Jane's Air-Launched Weapons, 6 tháng 8 năm 2008 
  7. ^ Gertz, Bill (1 tháng 7 năm 2002), “China test-fires new air-to-air missile; Taiwan likely to get upgraded arms”, The Washington Times: page A1 
  8. ^ Fisher, Richard D., Jr. (tháng 1 năm 2004), The Impact Of Foreign Weapons And Technology On The Modernization Of China's People's Liberation Army, US-China Economic and Security Review Commission, tr. 4-2C