Kh-35

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kh-35
(tên ký hiệu NATO: AS-20 'Kayak')
3M24 Uran (SS-N-25 'Switchblade' - Dao bấm)
3K60 Bal (SSC-6 'Stooge')
Kh-35E fol maks2009.jpg
Loại tên lửa không đối đất, đất đối đất
Nguồn gốc Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1983
Quốc gia sử dụng Nga
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Zvezda
Nhà sản xuất Tập đoán tên lửa chiến thuật
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 520 kg (1.150 lb)[1]
610 kg (1.340 lb)[1] (phiên bản trực thăng)
Chiều dài 385 cm (152 in)[1]
440 cm (173 in)[1] (phiên bản trực thăng)
Đường kính 42,0 cm (16,5 in)[1]

Đầu nổ đầu nổ lõm HE
Trọng lượng đầu nổ 145 kg (320 lb)[1]

Sải cánh 133 cm (52,4 in)[1]
Tầm hoạt động 130 km (70 nmi)[1]
Tốc độ Mach 0.8
Hệ thống điều khiển quán tính và radar chủ động
Cơ cấu phóng MiG-21,[1] MiG-29SMT,[1] Su-30,[1] Su-35,[1] Ka-27,[1] Ka-28[1]
Seeker Kh-35E maks2005.jpg
Kh-35E maq maks2009.jpg

Zvezda Kh-35 (tiếng Nga: Х-35) (Mã GRAU: 3M24, NATO gọi là AS-20 'Kayak') là phiên bản phóng từ máy bay phản lực của một loại tên lửa chống tàu do Nga sản xuất. Cùng một loại tên lửa có thể phóng từ trực thăng, các tàu mặt nước và các khẩu đội phòng thủ bờ biển với sự trợ giúp của tầng đẩy phản lực, trong trường hợp đó nó được gọi là Uran ('uranium';SS-N-25 'Switchblade'; GRAU 3M24) hay Bal ('whale';SSC-6 'Stooge';GRAU 3K60). Loại tên lửa này cũng có biệt danh Harpoonski vì trông bề ngoài khá giống loại tên lửa chống hạm AGM-84 Harpoon của Mỹ. Nó được thiết kế để tấn công các tàu thuyền có tải trọng lên tới 5000 tấn.[1]. Loại tên lửa này được dùng để thay thế cho các tên lửa P-15 Termit bị lỗi thời cũng như dùng cho việc xuất khẩu.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Zvezda bắt đầu nghiên cứu phát triển Kh-35 vào năm 1983 với vai trò là một tên lửa đất đối đất nhằm thay thế cho SS-N-2 'Styx' dành cho thị trường xuất khẩu.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa Kh-35 có tốc độ cận âm, có hình dáng khí động học bình thường với cánh chữ thập và cánh thăng bằng[1] và ống hút khí nửa chìm. Tên lửa dùng động cơ tuốc bin cánh quạt đẩy (turbofan).[1] Tên lửa này được điều khiển bay tới mục tiêu ở pha cuối của quỹ đạp bằng lệnh từ radar chủ động của tên lửa và thiết bị đo độ cao vô tuyến.[1]

Dữ liệu về mục tiêu có thể được nạp vào tên lửa từ tàu sân bay hay các nguồn dữ liệu ngoài. Một dữ liệu nhiệm vụ bay được đưa vào hệ thống điều khiển tên lửa sau khi tọa độ mục tiêu được đưa vào đầu vào. Một hệ thống dẫn đường quán tính điều khiển tên lửa trong khi bay, ổn định tên lửa ở độ cao đường bay đã thiết lập và dẫn tên lửa tới khu vực địa điểm mục tiêu. Ở một khoảng cách nhất định cách mục tiêu, tên lửa bật radar tìm kiếm, khóa và theo dõi mục tiêu. Sau đó, hệ thống điều khiến quán tính chuyển tên lửa về hóa mục tiêu và thay đổi độ cao xuống rất thấp. Ở độ cao này, tên lửa tiếp tục quá trình điều khiển bằng dữ liệu nạp vào tên lửa và hệ thống điều khiển quán tính tiếp tục điều khiển tên lửa cho đến khi tên lửa trúng mục tiêu.

Loại ra đ dò tìm mới là Gran-KE đã được phát triển bởi hãng SPE Radar MMS[2] và sẽ được thay thế loại ra đ ARGS-35E X sử dụng trong tên lửa này[3].

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Kh-35U đưa vào trang bị năm 1994. Hiện nay trên thế giới có nhiều quốc gia đang sở hữu loại tên lửa này.[4]

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kh-35U (AS-20 'Kayak', Article 78U) - phóng từ máy bay phản lực.[1]
  • Kh-35E Uran (SS-N-25 'Switchblade', 3M24) - phóng từ trực thăng, khẩu đội pháo phòng thủ bờ biển và các tàu chiến[1] như các tàu khu trục Neustrashimy, các tàu khu trục Tartarstan/Gepard và 2 tàu khu trục nâng cấp Krivak. Trên tàu chiến tên lửa thường được bố trí dạng công ten nơ gồm 4 ống phóng chứa 4 tên lửa bên trong.
  • 3M24M Bal (SSC-6 'Stooge') - phiên bản dùng để bảo vệ bờ biển, rất giống với Kh-35E
  • IC-35 - bia bay không người lái
  • Kh-35UE - phiên bản nâng cấp với động cơ nhỏ hơn cho phép tăng sức chứa nhiên liệu, và tăng tầm bắn.[4]
  • Kh-37 (3M24E1) - phiên bản đề xuất nâng cấp với tầm bắn 250 km và khả năng tấn công mục tiêu trên đất liền, dẫn đường pha giữa bằng GPS và đầu dò ảnh hồng ngoại giống như Standoff Land Attack Missile (SLAM).[4] Một số nguồn cho rằng tên gọi của phiên bnar này là Uran hoặc Bal.

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

 Nga
Flag of India.svg Ấn Độ
 Algérie
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam

Trước kia[sửa | sửa mã nguồn]

 Liên Xô
 Iran

Các loại vũ khí có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

  • AGM-84 Harpoon (USA) - đầu nổ 221 kg, tầm bắn 93–315 km phụ thuộc vào cơ cấu phóng
  • C-802/YJ-82 CSS-N-8 'Saccade' (Trung Quốc) - đầu nổ 165 kg, tầm bắn 120–180 km
  • Exocet (Pháp) - đầu nổ 165 kg, tầm bắn 70-180 kmge
  • RBS-15 (Thụy Điển) - đầu nổ 200 kg, tầm bắn 200 km
  • Sea Eagle (UK) - đầu nổ 230 kg, tầm bắn 110+ km

Ghi chú và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p Rosoboronexport Air Force Department and Media & PR Service, AEROSPACE SYSTEMS export catalogue, Rosoboronexport State Corporation, tr. 123 
  2. ^ http://www.radar-mms.com/catalog/args35/
  3. ^ http://navaltoday.com/2011/08/26/jsc-tactical-missile-arms-presents-new-target-seeker
  4. ^ a ă â “Kh-37” ([[]][liên kết hỏng]), Jane's Air-Launched Weapons, 1 tháng 8 năm 2008 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]