S-75 Dvina

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
C75-Двина (S75-Dvina)
tên ký hiệu của NATO: SA-2 Guideline
SA-2 Guideline.JPG
Hệ thống tên lửa phòng không "C75-Двина" (S75-Dvina).
Loại Hệ thống SAM bán cơ động
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1957 đến nay
Quốc gia sử dụng  Liên Xô
 Ấn Độ
 Trung Quốc
 Việt Nam
 Ai Cập
 Iraq
 Syria
Sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam,
Chiến tranh Trung Đông,
Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Lavochkin OKB
Năm thiết kế 1953-1957
Nhà sản xuất Lavochkin OKB
Giá thành ~4,3 triệu USD/tổ hợp
Giai đoạn sản xuất 1957 đến nay
Các biến thể Hệ thống: S75A-Dvina (6 đơn nguyên), S75M-Volga (3 đơn nguyên)
Đạn: V-750, V-750V, V-750VK, V-750VN, V750M, V-750SM, V-750AK
Thông số kỹ chiến thuật (C75)
Khối lượng - kg
Chiều dài - m
Chiều rộng - m
Chiều cao - m
Kíp chiến đấu tiểu đoàn

Vũ khí chính 6 x tên lửa B750B (cho S75A-Dvina), B750M (cho S75M-Volga).
Vũ khí phụ không có
Động cơ O + G
- hp
Hệ truyền động Xe xích LAZ, xe đầu kéo TZM, xe tải ZIL-157.
Hệ thống treo thủy lực + lò xo
Khoảng sáng gầm - mm
Tầm hoạt động không cố định
Tốc độ - km/h

Lavochkin OKB S-75 (tiếng Nga: С-75; tên ký hiệu NATO SA-2 Guideline) là một tổ hợp tên lửa đất đối không (SAM) tầm cao được điều khiển bằng hệ thống radar ba tác dụng do Liên Xô chế tạo. Kể từ khi được triển khai lần đầu tiên vào năm 1957, nó đã trở thành một trong các loại tên lửa phòng không được triển khai và sử dụng nhiều nhất trong lịch sử. Tại Việt Nam, tổ hợp tên lửa phòng không này thường được gọi là SAM-2.

Tổ hợp này trở nên nổi tiếng lần đầu tiên khi một khẩu đội S-75 bắn hạ một chiếc máy bay do thám U-2 của CIA, khi chiếc máy bay này đang bay do thám trên không phận của Liên Xô vào năm 1960. Trong những năm tiếp theo, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã sử dụng S-75 rộng rãi và hiệu quả trong Chiến tranh Việt Nam để bảo vệ Hà NộiHải Phòng. Tổ hợp này cũng được sản xuất tại Trung Quốc với tên gọi HQ-1HQ-2 (Hồng Kỳ 1 và Hồng Kỳ 2). Một số quốc gia khác cũng sản xuất rất nhiều biến thể của S-75.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu thập niên 1950, Không quân Hoa Kỳ đẩy mạnh chương trình phát triển máy bay ném bom tầm xa mang theo vũ khí hạt nhân. Chương trình này dẫn đến việc phát triển máy bay Boeing B-47 Stratojet được hỗ trợ bởi máy bay cấp nhiên liệu trên không để nâng tầm hoạt động tới Liên Xô. Tiếp theo, một chương trình khác đã phát triển pháo đài bay B-52 với tầm hoạt động xa hơn và mang nhiều bom hơn B-47. Tầm hoạt động, tốc độ và khả năng mang bom của những máy bay ném bom này là một đe dọa lớn đối với Liên Xô trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa hai nước. Kết quả là Liên Xô bắt đầu phát triển hệ thống phòng thủ trên không. Mặc dù Liên Xô đã có tương đối nhiều pháo phòng không, kể cả pháo phòng không dẫn hướng bằng radar, nhưng giới hạn của súng so với máy bay ném bom tầm cao là hiển nhiên. Vì thế, Liên Xô bắt đầu xây dựng hệ thống tên lửa để thay thế hệ thống phòng thủ bằng súng từ thời Thế chiến thứ hai. Năm 1953, Lavochkin OKB bắt đầu phát triển hệ thống mà sau này trở thành C-75 dưới sự chỉ đạo của Petr Grushin. Chương trình này tập trung vào xây dựng tên lửa để có thể bắn hạ máy bay ném bom cỡ lớn bay ở tầm cao và không có khả năng thực hiện các động tác tránh như máy bay chiến đấu. Vì vậy, tên lửa không cần phải có khả năng đổi hướng liên tục, chỉ cần đơn giản là nhanh và tránh được các biện pháp chống tên lửa của máy bay. Đối với hệ thống như vậy, nghiên cứu phát triển diễn ra nhanh chóng và thử nghiệm được tiến hành vài năm sau. Năm 1957, lần đầu tiên, công chúng biết được sự hiện diện của C-75 khi tên lửa này được trình diễn trong lễ duyệt binh nhân ngày Quốc tế lao độngMoskva.

Triển khai trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

SAM-2 được triển khai với quy mô rộng bắt đầu từ năm 1957 và sau đó nhiều lần được nâng cấp. SAM-2 mặc dù không thay thế các phòng thủ tên lửa C-25 Berkut ở khu vực xung quanh Moskva nhưng đã thay thế súng phòng không tầm cao như súng 130 mm KS-30 và 100 mm KS-19. Giữa năm 1958 và 1964, tình báo Hoa Kỳ đã xác định tới hơn 600 trận địa SAM-2 được triển khai trên toàn Liên Xô. Các điểm này thường gắn liền với các trung tâm đông dân, khu công nghiệp và trung tâm chính phủ. Một số điểm cũng được triển khai trên các tuyến mà máy bay ném bom có thể bay để tới được trung tâm Liên Xô. Tới giữa thập kỷ 1960, Liên Xô đã kết thúc quá trình triển khai với khoảng 1.000 trận địa.

Ngoài Liên Xô, nhiều tên lửa SAM-2 cũng được triển khai trong thập niên 1960 ở Đông Đức để bảo vệ lực lượng Xô Viết ở nước này. Sau đó, tên lửa được bán hoặc viện trợ cho hầu hết các nước theo Hiệp ước Warszawa và sau đó là Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Cuba, Ai Cập, Syria và cuối cùng là Việt Nam.

Từ năm 1968, dựa trên phiên bản C-75A, Trung Quốc cũng tự chế tạo loại vũ khí này và đặt tên là HQ-1 (Hongqi-1) và HQ-2 (Hongqi-2). Mặc dù có một số cải tiến ở khoang chiến đấu của kíp điều khiển và hệ thống dẫn đường nhưng các loại tên lửa này nhanh chóng lạc hậu khi không thể đối phó được với máy bay cường kích hoạt động ở độ cao thấp và các máy gây nhiễu hiện đại trong chiến tranh điện tử và tên lửa chống ra đa[1]. Một số quốc gia khác cũng chế tạo nhiều phiên bản SAM-2 khác nhau thông qua việc phát triển các thành phần cấu tạo và kết hợp SAM-2 với các hệ thống khác. Vì vậy, ngày nay khó có thể tìm thấy một chiếc SAM-2 như ban đầu.

Trong Chiến tranh Lạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa SAM-2 trong tư thế hành quân tại một cuộc duyệt binh ở Berlin-CHDC Đức trước năm 1989

Ngày 1 tháng 5 năm 1960, SAM-2 được sử dụng trong tác chiến lần đầu tiên tại Liên Xô. Tại trận đánh một chuyến bay do thám vào vùng trời tỉnh Sverdlovsk của Liên Xô, các đơn vị tên lửa SAM-2 do các đại úy tiểu đoàn trưởng Boris Mojayev và Ivan Ylinysh chỉ huy đã bắn rơi một chiếc U2 của Không lực Hoa Kỳ trên độ cao 20 km. Viên phi công Hoa Kỳ Francis Gary Powers buộc phải nhảy dù và bị bắt.[2]

Năm 1958, hệ thống SAM-2 được Liên Xô viện trợ cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để bảo vệ vùng trời Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Nam Kinh, Quảng Châu và một số yếu địa khác. Ngày 7 tháng 10 năm 1961, đơn vị tên lửa SAM-2 của Trung Quốc đóng tại Hạ Môn đã bắn rơi một máy bay trinh sát RB-57 của Không quân Đài Loan. Trong năm tiếp theo, Đài Loan tiếp tục mất thêm hai chiếc RB-57 đều do SAM-2 bắn rơi tại Trung Quốc. Sau vụ này, Đài Loan phải cắt giảm rồi chấm dứt hẳn các chuyến bay trinh sát vào vùng trời Trung Quốc.

Tháng 10 năm 1962, trong cuộc khủng hoảng tên lửa tại Cuba, các đơn vị tên lửa SAM-2 do chuyên gia Liên Xô điều khiển cũng bắn rơi một máy bay U-2 của Hoa Kỳ do viên phi công Rudolf Anderson điều khiển trên vùng trời tỉnh Santiago de Cuba.

Năm 1965, hệ thống SAM-2 cũng được Liên Xô viện trợ cho Ai Cập và Syria để chống lại không quân Israel. Trong cuộc chiến tranh 6 ngày (5 đến 11 tháng 6 năm 1967) giữa Liên quân Ai Cập - Syria với Israel, quân đội Ai Cập không chịu nổi đòn tấn công của các binh đoàn thiết giáp Israel đã tháo chạy khỏi sa mạc Sinai, bỏ lại hơn 20 bộ khí tài C-75A, cùng loại với khí tài mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang sử dụng chống lại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của Hoa Kỳ (1965-1968). Các bộ khí tài này đều được các chuyên gia vũ khí nghiên cứu để áp dụng các vũ khí điện tử đối phó. Điều này đã gây ra một số khó khăn cho tên lửa SAM-2 tại Việt Nam.[3]

Tại chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc F-4 của Không quân Hoa Kỳ bị trúng tên lửa SAM-2 khi đang không kích miền Bắc Việt Nam

Ngày 27 tháng 3 năm 1965, Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký hiệp nghị viện trợ quân sự; trong đó, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam 4,5 cơ số tên lửa SAM-2 (54 quả) cùng toàn bộ khí tài, trang bị kỹ thuật kèm theo để thành lập 2 trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong Chiến tranh Việt Nam, tên lửa SAM-2 là một trong những vũ khí phòng không chủ lực để bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và một số yếu địa khác. Ngày 24 tháng 7 năm 1965, các Tiểu đoàn tên lửa 63 và 64 của Trung đoàn tên lửa 236 (Đoàn Sông Đà) trong trận đầu xuất quân có sự tham gia của các tổ chuyên gia Liên Xô do các thiếu tá Boris Mojayev và Ivan Ylinysh hướng dẫn điều khiển đã bắn rơi tại chỗ một chiếc F-4C của Không lực Hoa Kỳ trên vùng trời Hà Tây - Hòa Bình.[4]

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc 1965-1968 và 1972, các đơn vị tên lửa SAM-2 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh 3.542 trận, trong đó có 588 trận đánh ban đêm; tiêu thụ 5.885 quả đạn; bắn rơi 788 máy bay của không lực Hoa Kỳ, 366 chiếc rơi tại chỗ; trong đó có 43 máy bay B-52; bình quân 7,1 quả đạn diệt được một máy bay.[5]

Cho đến nay, Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới sử dụng tên lửa SAM-2 để đối phó một cách có hiệu quả với máy bay ném bom chiến lược B-52 của Không lực Hoa Kỳ. Trong chiến dịch phòng thủ đuờng không 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, 15 tiểu đoàn tên lửa SAM-2 bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng đã bắn rơi 27 máy bay B-52.[6]. Tuy nhiên, Hoa Kỳ chỉ thừa nhận mất 31 chiếc B-52 trong toàn bộ cuộc chiến, trong đó có 19 chiếc bị SA-2 của đối phương bắn hạ (15 chiếc trong số đó bị bắn rơi trong Chiến dịch Linebacker II).[7]

Tại các điểm nóng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 1 năm 1991, lần đầu tiên, tên lửa SAM-2 của Syria đã hạ một máy bay F-14 Tomcat của Không quân Israel tại vùng trời cao nguyên Golan. Trong cuộc xung đột Abkhazia - Gruzia (1992-1993), ngày 19 tháng 3 năm 1993, tên lửa SAM-2 của Gruzia cũng hạ được một chiếc Su-27 fighter của Không quân Nga.

Một số cải tiến và ứng dụng thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cải tiến tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cải tiến đáng kể nhất của hệ thống S-75 Dvina tại Việt Nam là việc chống nhiễu điện tử, đảm bảo cho bộ khí tài điều khiển tên lửa hoạt động bình thường. Ngày 15 tháng 12 năm 1967, Không quân Hoa Kỳ tung ra 44 phi vụ máy bay cường kích đánh phá cầu Đuống. Các tiểu đoàn tên lửa phòng không bảo vệ Hà Nội phóng lên 8 quả đạn đều không điều khiển được, hoặc rơi xuống đất, hoặc vượt mục tiêu tự huỷ. Sở dĩ có hiện tượng trên là do không quân Hoa Kỳ đã sử dụng máy phát nhiễu ALQ-71 gây nhiễu toàn bộ rãnh sóng điều khiển đạn và rãnh sóng xung trả lời của đạn (gọi chung là nhiễu rãnh đạn).

Sau khi dùng các biện pháp thu sóng kết hợp chụp ảnh, lực lượng phòng không Việt Nam đã phát hiện ra dải tần số và cường độ của loại nhiễu này. Từ các phát hiện trên, các chuyên gia Liên Xô (cũ) và các kỹ sư quân sự Việt Nam đã khắc phục bằng phương pháp "át nhiễu", nâng công suất sóng trả lời của đạn và sóng điều kiển đạn lên gấp ba lần, đủ sức vượt qua cường độ nhiễu không chỉ của loại ALQ-71 mà còn cả các loại máy gây nhiễu cùng tính năng có công suất lớn hơn như ALQ-101, ALQ-107. Từ năm 1968 đến năm 1973, các loại máy gây nhiễu rãnh đạn kiểu ALQ-xxx của không lực Hoa Kỳ trở nên vô hiệu đối với S-75 Dvina.

Ngoài ra, trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Hoa Kỳ tại miền Bắc Việt Nam từ 1965 đến 1968 và năm 1972, hệ thống radar của S-75 Dvina đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để theo kịp cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ, bảo đảm an toàn trong sử dụng và nâng cao độ chính xác khi chiến đấu.[8]

Ứng dụng thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

S-75 Dvina vốn là loại vũ khí phòng không được chế tạo để bảo vệ mục tiêu cố định là các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu dân cư lớn, các căn cứ quân sự, sở chỉ huy cố định và các yếu địa khác; vì vậy, tính chất tác chiến chủ yếu của nó là cố định và đặc điểm cấu tạo của vũ khí này cũng phù hợp với các trận địa cố định. Trận địa SA-2 cơ bản có hình lục giác đều với bán kính tới vài trăm mét nên dễ bị phát hiện từ trên không, sau này người Việt Nam đã bỏ kiểu bố trí đó vì lý do trên.

Trong chiến tranh đất đối không tại Việt Nam (1965-1972), do ưu thế gần như áp đảo của không quân Hoa Kỳ nên các đơn vị phòng không Việt Nam phải thực hiện chiến thuật cơ động và nghi binh cho tên lửa phòng không S-75 Dvina. Theo điều lệnh tác chiến của lực lượng phòng không Liên Xô (cũ), mỗi tiểu đoàn S-75 Dvina (kể cả loại S-75B Volkhov) đều cần từ 1 đến 2 trận địa dự bị trong phạm vi bán kính cơ động 5 đến 10 km. Tại Việt Nam, mỗi tiểu đoàn S-75 Dvina có từ 4 đến 6 trận địa dự bị ở phạm vi cơ động có thể lên đến hàng trăm km trên nhiều loại địa hình khác nhau. Sau mỗi trận đánh, toàn bộ khí tài được tháo dỡ, thu gom trong vòng chưa đến 1 giờ và được di chuyển ngay đến trận địa mới. Tại trận dịa cũ, người ta thường để lại một bộ khí tài giả làm bằng tre và cót, được sơn phết giống như thật. Đã nhiều lần, máy bay cường kích của Hoa Kỳ đã đánh vào các trận địa giả này. Do đó, mặc dù có số lượng không lớn nhưng nhiều đơn vị S-75 Dvina của phòng không Việt Nam vẫn tránh được những đòn đánh hủy diệt của Hoa Kỳ, bảo toàn được lực lượng.[9]

Mặc dù cơ động những bộ khí tài có tổng trọng lượng lên đến hàng trăm tấn trong điều kiện địa hình phức tạp, đường giao thông kém phát triển nhưng lực lượng phòng không Việt Nam vẫn dùng sức người để vượt qua, gây nhiều bất ngờ cho Hoa Kỳ.

Cũng theo bài bản tác chiến thì mỗi tiểu đoàn tên lửa S-75 Dvina (kể cả loại S-75B Volkhov) đều phải triển khai đủ 6 bệ phóng và đầy đủ bộ khí tài kèm theo. Tuy nhiên, trong các năm 1966-1968 và 1972, khi triển khai chiến đấu tại địa bàn Quảng Bình, Vĩnh LinhQuảng Trị chật hẹp, nhiều tiểu đoàn chỉ triển khai được 3 bệ, 2 bệ, thậm chí một bệ vẫn chiến đấu mặc dù hiệu suất bị giảm. Ngay tại đồng bằng Bắc Bộ, trong năm 1972, do bị thiếu khí tài, một số tiểu đoàn đã mạnh dạn chia số lượng bệ phóng ra 2-3 trận địa, trên đó, đã lắp sẵn đạn. Khi đánh xong ở một trận địa, kíp chiến đấu lập tức kéo khí tài ra trận địa mới, đấu nối với các bệ phóng đã sẵn sàng và có thể chiến đấu được ngay. Chiến thuật này đã gây bất ngờ không chỉ đối với Hoa Kỳ mà còn ngay cả đối với các sĩ quan tên lửa Liên Xô đang làm cố vấn tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh.[10]

Các biện pháp phản công và chống phản công[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm tiếp sau Hoa Kỳ đã đưa ra một số giải pháp cho SAM-2. Hải quân nhanh chóng đưa tên lửa Shrike vào hoạt động, và thực hiện cuộc tấn công đầu tiên của họ vào một trận địa vào tháng 10. Không quân phản ứng bằng cách trang bị cho những chiếc máy bay ném bom B-66 các đài nhiễu âm mạnh che mắt các radar cảnh báo sớm, và phát triển các kén làm nhiễu nhỏ hơn cho các máy bay chiến đấu làm phân tán thông tin phản hồi tới radar. Những phát triển sau này gồm máy bay Wild Weasel được trang bị các kén làm nhiễu và các hệ thống phản công điện tử, với mục đích làm nhiễu và sau đó bắn vào các trận địa bằng các tên lửa Shrike của chúng.

Tuy nhiên người Liên Xô và Việt Nam đã có khả năng thích ứng với một số chiến thuật đó. Liên Xô đã nhiều lần nâng cấp radar để cải thiện tính năng chống phản công điện tử. Họ cũng đưa ra một phương thức dẫn đường thụ động mới, theo đó tên lửa có thể khoá mục tiêu vào chính máy gây nhiễu. Điều này giúp tăng thêm ưu thế, bởi radar có thể tắt đi, khiến các tên lửa Shrike không thể hoạt động nhưng đạn V-75 vẫn bám mục tiêu đã được khóa và diệt mục tiêu. Hơn nữa, một số chiến thuật mới được phát triển để chống lại tên lửa Shrike. Một trong số chúng là hướng radar sang bên cạnh và bất ngờ tắt đi. Bởi Shrike là tên lửa chống bức xạ khá sơ khai, nó sẽ đi theo luồng sóng ra khỏi radar và sau đó đơn giản là rơi xuống khi mất tín hiệu (khi radar dừng phát sóng). Một cách khác là "phóng giả", khi radar thám sát được bật nhưng các tên lửa thực tế không được phóng đi. Điều này cho phép khẩu đội tên lửa quan sát xem mục tiêu có được trang bị Shrike hay không. Nếu máy bay bắn một tên lửa, nó có thể bị vô hiệu bởi kỹ thuật bên trên trong khi các trận địa SAM không phải lãng phí đạn tên lửa.

Các hệ thống phòng không thay thế[sửa | sửa mã nguồn]

Các lực lượng phòng không Liên Xô bắt đầu thay thế SAM-2 bằng các hệ thống SA-10SA-12 hiện đại hơn nhiều từ thập niên 1980. Ngày nay chỉ vài trăm, nếu có, trong số 4.600 tên lửa vẫn còn phục vụ ở Nga, thậm chí khi chúng đã qua một chương trình hiện đại hoá năm 1993.

SAM-2 vẫn còn được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, với một số mức độ khả năng hoạt động ở 35 quốc gia. Việt Nam và Ai Cập là những nước triển khai nhiều nhất với 280 tên lửa mỗi nước, Bắc Triều Tiên có 270 tên lửa, và Ba Lan có 240. Trung Quốc cũng triển khai HQ-2, một phiên bản copy SAM-2, với số lượng khá lớn.

Mô tả vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Học thuyết tổ chức của Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Trận địa SAM-2 tại miền Bắc Việt Nam. Chú ý tới mô hình lục giác khiến các trận địa dễ bị phát hiện từ trên không, sau này người Việt Nam đã bỏ kiểu bố trí đó vì lý do trên
Không ảnh một trận địa SAM-2 tại Cuba do máy bay trinh sát của Không lực Hoa Kỳ chụp trong cuộc khủng hoảng tên lửa năm 1962

Liên Xô sử dụng một tiêu chuẩn cơ cấu tổ chức khá tốt cho các đơn vị SAM-2. Các quốc gia khác có triển khai SAM-2 có thể sửa đổi cơ cấu này. Nói chung, SAM-2 được tổ chức theo cơ cấu trung đoàn với từ ba đến bốn tiểu đoàn hỏa lực và một tiểu đoàn kỹ thuật. Sở chỉ huy trung đoàn sẽ căn cứ thông tin tình hình đối phương từ mạng radar cảnh giới quốc gia kết hợp với các radar cảnh báo sớm của mình để chỉ đạo hoạt động tác chiến của các tiểu đoàn hỏa lực. Căn cứ thông tin do mạng thông tin trung đoàn cung cấp, các tiểu đoàn hỏa lực với 6 bệ phóng và 6 đạn thường trực sẽ thực hành tác chiến với các radar sục sạo mục tiêu, radar ngắm bắn và radar điều khiển của riêng mình phóng đạn đến mục tiêu.

Bố trí trận địa[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi tiểu đoàn thông thường có 6 bệ phóng bán cố định đơn thân cho các tên lửa V-750 của họ được bố trí xấp xỉ 60-100 mét cách nhau theo mô hình hoa sáu cạnh với các radar và các hệ thống dẫn đường được đặt ở trung tâm. Kiểu hình hoa này khiến các trận địa rất dễ bị nhận biết từ các ảnh trinh sát trên không. Thông thường sáu tên lửa của cơ số đạn thứ hai được cất giữ trên những xe đầu kéo gần trung tâm trận địa. Tùy theo mức độ tác chiến và cường độ hỏa lực cần huy động, người ta có thể tăng thêm đạn V-750 cho một tiểu đoàn thêm một đến hai cơ số.

Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

V-750
Peenemuende museum 12.jpg
Đạn tên lửa V-750V trong tư thế lắp ráp
Loại Tên lửa đất đối không
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử chế tạo
Các biến thể V-750, V-750V, V-750VK, V-750VN, V-750M, V-750SM, V-750AK
Thông số kỹ chiến thuật (V-750[11])
Đường kính 700 mm

Đầu nổ Frag-HE
Cơ cấu nổ Cưỡng bức hoặc tự động

Động cơ Thuốc phóng rắn và một giai đoạn nhiên liệu lỏng tiếp sau
Tầm hoạt động 45 kilômét (28 mi)
Độ cao bay 25.000 mét (82.000 ft)
Động cơ phụ 5 s phóng, sau đó 20 s duy trì
Hệ thống điều khiển dẫn đường điều khiển radio
Độ chính xác 65 m
Cơ cấu phóng Đơn thân, lắp trên mặt đất (không di động)

V-750 là đạn tên lửa loại hai tầng, gồm tầng đầu là động cơ phóng sử dụng nhiên liệu rắn và tầng kế tiếp theo là động cơ chính để duy trì quỹ đạo sử dụng nhiên liệu lỏng, đốt acid nitric khói đỏ là chất ôxy hoá và nhiên liệu chính là kerosene. Khi khởi động, động cơ phóng hoạt động trong khoảng 4-5 giây, và động cơ chính trong khoảng 22 giây, tới thời điểm đó tên lửa đã bay ở tốc độ khoảng Mach 3. Tầng động cơ phóng được lắp bốn cánh tam giác lớn với các bề mặt điều khiển nhỏ trên bộ phận lái của chúng, được dùng để điều khiển chống xoay tròn. Tiếp theo là khớp nối tầng với cụm 4 cánh hình tam giác nhỏ hơn nằm gần giữa thân. Tầng động cơ chính cũng có 4 cánh hình tam giác nhỏ hơn tầng đầu một chút, cùng lúc vừa làm nhiệm vụ chống xoay tròn, vừa làm nhiệm vụ lái đạn (được các trắc thủ điều khiển qua sóng vô tuyến cao tần từ xe chỉ huy trung tâm). Cuối cùng, với một bộ bề mặt điều khiển nhỏ hơn ở cực ngoài và (ở hầu hết các model) có các bộ phận thăng bằng nhỏ hơn ở mũi.

Các tên lửa được dẫn đường bằng tín hiệu điều khiển radio từ các máy tính dẫn đường ở trận địa. Các xung điều khiển và phản hồi được truyền dẫn trên ba kênh. Các model SAM-2 ban đầu nhận lệnh điều khiển thông qua hai bộ gồm bốn ăng ten nhỏ ở phía trước bộ phận thăng bằng trước, trong khi các model từ D về sau sử dụng các dải ăng ten lớn hơn chạy giữa các bộ phận thăng bằng trước và giữa. Hệ thống dẫn đường ở một trận địa SAM-2 chỉ có thể giải quyết từng mục tiêu, nhưng có thể hướng ba tên lửa chống lại nó. Các tên lửa khác có thể được phóng chống lại cùng một mục tiêu sau khi một hay nhiều tên lửa đã phóng lúc đầu đã hoàn thành đường bay và kênh radio trống.

Tên lửa thông thường được lắp một đầu đạn phân mảnh 195 kg (430 lb), với các kiểu kích hoạt nổ tiếp cận, tiếp xúc hay chỉ huy. Đầu đạn có bán kính tiêu diệt khoảng 65 m (215 ft) ở các độ cao thấp, ở các độ cao lớn với khí quyển loãng hơn cho phép mở rộng bán kính tiêu diệt lên đến 250 m (820 ft). Tên lửa có độ chính xác khoảng 75 m (250 ft), giải thích tại sao thông thường cần phải phóng hai quả một lúc. Một phiên bản, SA-2E, được lắp đầu đạn hạt nhân 295 kg (650 lb) với đương lượng nổ ước tính 15 kt, hay một đầu đạn quy ước với trọng lượng tương tự. Các đầu nổ của đạn V-750 và các phiên bản của chúng đều được lắp hai hệ thống ngòi nổ. Hệ thống ngòi nổ sát thương gồm hai chế độ điều khiển cưỡng bức và tự động, hoạt động vào chế độ điều khiển quỹ đạo của đạn. Hệ thống ngòi nổ tự hủy chỉ có chế độ tự động và chỉ được kích hoạt ở độ cao trên 23 km khi ngòi nổ sát thương không hoạt động. Ở độ cao dưới 1.000 m, ngồi nổ tự hủy hoàn toàn không hoạt động.

Tầm hoạt động thông thường của tên lửa khoảng 45 km (30 dặm), với độ cao tối đa khoảng 20,000 m (60,000 ft). Radar và hệ thống dẫn đường có ngưỡng tầm ngắn khá dài khoảng 500-1,000 m (3,000 ft), khiến chúng khá an toàn khi tấn công ở độ cao thấp.

Các tên lửa từ SA-2 Guideline (tất cả các phiên bản SA-75 / SAM-2)

Tên lửa Chỉ số của nhà máy Tính năng
V-750 1D Tầm bắn 7 – 29 km, Độ cao bắn 3000 – 23000 m
V-750V 11D Tầm bắn 7 – 29 km, Độ cao bắn 3000 – 25000 m, Trọng lượng 2163 kg, Chiều dài 10726 mm, Trọng lượng đầu đạn 190 kg, Diameter 500 / 654 mm
V-750VK 11D Tên lửa đã hiện đại hoá
V-750VM 11DM Tên lửa để bắn máy bay – máy làm nhiễu
V-750VM 11DU Tên lửa đã hiện đại hoá
V-750VM 11DА Tên lửa đã hiện đại hoá
V-750M 20ТD Không có thông tin chi tiết
V-750SM - Không có thông tin chi tiết
V-750VN 13D Tầm bắn 7 - 29/34 km, Độ cao bắn 3000 - 25000/27000 m, Chiều dài 10841 mm
- 13DА Tên lửa với đầu đạn mới trọng lượng 191 kg
V-750АK - Không có thông tin chi tiết
V-753 13DM Tên lửa từ hệ thống SAM hải quân M-2 Volkhov-M (SA-N-2 Guideline)
V-755 20D Tầm bắn 7 – 43 km, Độ cao bắn 3000 – 30000 m, Trọng lượng 2360 – 2396 kg, Chiều dài 10778 mm, Trọng lượng đầu đạn 196 kg
V-755 20DP Tên lửa bắn vào tuyến bay thụ động, Tầm bắn 7 – 45 km chủ động, 56 km passive, Độ cao bắn 300 - 30000 (35000) m
V-755 20DА Tên lửa đã hết giai đoạn bảo đảm và được chuyển đổi thành 20DS
V-755OV 20DO Tên lửa để thu thập mẫu không khí
V-755U 20DS Tên lửa với khối lựa chọn để bắn vào mục tiêu độ cao thấp (dưới 200 m), Độ cao bắn 100 - 30000 / 35000 m
V-755U 20DSU Tên lửa với khối lựa chọn để bắn mục tiêu độ cao thấp (dưới 200 m) và rút ngắn thời gian chuẩn bị phóng tên lửa, Độ cao bắn 100 - 30000 / 35000 m
V-755U 20DU Tên lửa với thời gian chuẩn bị phóng ngắn
V-759 5Ja23 (5V23) Tầm bắn 6 - 56 (hay 60 hay 66) km, Độ cao bắn 100 - 30000 / 35000 m, Trọng lượng 2406 kg, Chiều dài 10806 mm, Trọng lượng đầu đạn 197 – 201 kg
V-760 15D Tên lửa với đầu đạn hạt nhân
V-760V 5V29 Tên lửa với đầu đạn hạt nhân
V-750IR - Tên lửa với kíp nổ xung radio
V-750N - Tên lửa thử nghiệm
V-750P - Tên lửa thực nghiệm - với các cánh xoay
V-751 KM Tên lửa thực nghiệm – phòng thí nghiệm bay
V-752 - Tên lửa thực nghiệm - bộ phận phóng ở các bên
V-754 - Tên lửa thực nghiệm - với đầu điều khiển bán chủ động
V-757 17D Tên lửa thực nghiệm - với động cơ phản lực tĩnh siêu âm
- 18D Tên lửa thực nghiệm - with scramjet
V-757Kr 3M10 Tên lửa thực nghiệm – phiên bản cho2K11 Krug (SA-4 Ganef)
V-758 (5 JaGG) 22D Tên lửa thực nghiệm – tên lửa ba giai đoạn, Đầu đạn 3200 kg, Tốc độ 4,8 M (= 1560 m/s = 5760 km/h)
Korshun - Tên lửa mục tiêu
RM-75MV - Tên lửa mục tiêu – cho độ cao thấp
RM-75V - Tên lửa mục tiêu – cho độ cao lớn
Sinitsa-23 5Ja23 Tên lửa mục tiêu

Radar[sửa | sửa mã nguồn]

Radar 'Fan Song'

SAM-2 thông thường sử dụng radar cảnh báo sớm Spoon Rest với tầm hoạt động khoảng 275 km (170 miles). Radar Spoon Rest cung cấp thông tin thám sát sớm về máy bay đang tới và sau đó chuyển nó cho radar thu nhận Fan Song. Những radar này, có tầm hoạt động khoảng 65 km (40 dặm), được dùng để xác định vị trí, cao độ, và tốc độ của máy bay thù địch. Hệ thống Fan Song gồm hai ăng ten hoạt động ở các tần số khác nhau, một cung cấp thông tin về độ cao và chiếc kia thu thập thông tin về góc phương vị. Trụ sở trung đoàn cũng có một radar Spoon Rest, và một radar tầm xa băng C Flat Face và thiết bị dò tìm cao độ Side Net. Thông tin từ các radar này được gửi từ trung đoàn xuống những người điều khiển radar Spoon Rest tại các tiểu đoàn để cho phép họ phối hợp tìm kiếm. Những phiên bản SAM-2 ban đầu sử dụng một radar mục tiêu được gọi là Knife Rest, đã được thay thế trong sử dụng tại Liên Xô, nhưng vẫn được thấy ở những cụm bố trí cũ ở các quốc gia khác.

Các biến thể chủ yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nâng cấp cho các hệ thống tên lửa chống máy bay thường gồm việc cải tiến cả tên lửa, radar và bảng điều khiển. Thông thường những nâng cấp của tên lửa dẫn tới những thay đổi của các thành phần khác đều lợi dụng ưu thế tính năng mới được cải tiến của nó. Vì thế, khi Liên Xô đưa ra một SAM-2 mới, nó đi kèm với một radar cải tiến để thích ứng với tầm hoạt động và độ cao lớn hơn của tên lửa.

  • SA-2A; SAM-2 Dvina (Двина - Sông Dvina) với radar dẫn đường Fan Song-A và tên lửa V-750 hay V-750V. Việc triển khai đầu tiên bắt đầu năm 1957. Cả tên lửa và bộ phận phóng dài 10.6 m (34.8 ft), với bộ phận phóng có đường kính 0.65 m (25.5 in), và đường kính tên lửa 0.5 m (19.7 in). Trọng lượng phóng là 2287 kg (5,041 lb). Tên lửa có tầm hoạt động hiệu quả 30 km (19 dặm), với tầm hoạt động tối thiểu 8 km (5 dặm) và cao độ đánh chặn trong khoảng 450 và 25,000 m (1,500-82,000 ft).
  • SA-N-2A; SAM-2M-2 Volkhov-M (Tiếng Nga Волхов - Sông Volkhov): Phiên bản hải quân của model A và được trang bị cho tàu tuần dương lớp Sverdlov Dzerzhinski. Biến thể này nói chung bị coi là không thành công và không được trang bị cho bất kỳ một tàu nào khác.
  • SA-2B; SAM-2 Desna (Tiếng Nga Десна - Sông Desna). Phiên bản này có các radar Fan Song-B cải tiến với các tên lửa V-750VK và V-750VN, đi vào phục vụ năm 1959. Các tên lửa hơi dài hơn các phiên bản A, dài 10.8 m (35.4 ft), vì có bộ phận phóng mạnh hơn. SA-2B có thể chiến đấu với các mục tiêu ở cao độ từ 500 m đến 30 km (1,640-98,450 ft) và tầm hoạt động lên tới 34 km (21 dặm).
Đạn tên lửa V-750 trong tư thế vận chuyển trên xe TZM kiểu Zil-131
  • SA-2C; SAM-2M Volkhov. Một lần nữa, model mới có một radar cải tiến, Fan Song-C, đi cùng với tên lửa V-750M đã được nâng cấp, được triển khai năm 1961. Tên lửa V-750M có vẻ ngoài giống với V-750VK/V-750VN, nhưng có tính năng tốt hơn với tầm hoạt động lên tới 43 km (27 dặm) và giới hạn độ cao giảm còn 400 m (1,312 ft).
  • SA-2D; radar Fan Song-E và tên lửa V-750SM. Tên lửa V-750SM khác biệt khá nhiều so với các phiên bản A/B/C vì có các ăng ten mới với một máy dò khí áp mũi dài hơn. Nhiều khác biệt khác ở hộp motor duy trì. Tên lửa dài 10.8 m (35.4 ft), có cùng đường kính thân và đầu đạn như SA-2C, nhưng trọng lượng tăng lên tới 2450 kg (5,400 lb). Tầm hoạt động hiệu quả là 43 km (27 dặm), tầm hoạt động tối thiểu 6 km (4 dặm) và độ cao đánh chặn trong khoảng 250 và 25000 m (820-82,000 ft). Các biện pháp phản công máy bay được cải tiến dẫn tới sự phát triển Fan Song-E với các ăng ten tốt hơn có thể cắt xuyên qua dải nhiễu mạnh.
  • SA-2E: radar Fan Song-E và tên lửa V-750AK. Tương tự như model D, nhưng với một đầu đạn hình củ hành và không có các cánh thăng bằng phía trước. SA-2E dài 11.2 m (36.7 ft), có đường kính thân 0.5 m (19.7 in) và trọng lượng khi phóng 2450 kg (5,400 lb). Tên lửa có thể được trang bị hoặc đầu nổ hạt nhân chỉ huy 15 kt hoặc một đầu đạn HE quy ước 295 kg (650 lb).
  • SA-2F: radar Fan Song-F và tên lửa V-750SM. Sau khi quan sát việc gây nhiễu ở Việt Nam và sự đối phó trong cuộc Chiến tranh Sáu Ngày khiến loại SA-2 hoàn toàn không hiệu quả, các hệ thống hiện hữu nhanh chóng được nâng cấp với một hệ thống radar mới được thiết kế để bỏ qua các nhiễu nhấp nháy (scintillation) băng rộng. Hệ thống chỉ huy cũng gồm một phương thức điều khiển trên nhiễu (home-on-jam) để tấn công máy bay mang theo thiết bị làm nhiễu, cũng như một hệ thống hoàn toàn quang (sử dụng hạn chế) khi chúng không thể hoạt động. Công việc phát triển model F được bắt đầu năm 1968 và được triển khai tại Liên Xô cuối năm đó, trong khi các chuyến tàu chở tên lửa tới Việt Nam bắt đầu cuối năm 1970.
  • SA-2 FC: Phiên bản mới nhất của Trung Quốc. Có thể thám sát sáu mục tiêu đồng thời và có khả năng điều khiển đồng thời 3 tên lửa.
  • SAM-2M Volga (Tiếng Nga С-75М Волга - Sông Volga). Phiên bản từ năm 1995.

Như đã đề cập từ trước, đa số các quốc gia có SAM-2 đã gắn các phần từ các phiên bản khác nhau, từ các hệ thống của một bên thứ ba hay thêm các thành phần được sản xuất trong nước. Điều này đã tạo ra rất nhiều biến thể SAM-2 theo nhu cầu sử dụng của từng nước.

Một HQ-2 trưng bày tại Minsk WorldShenzhen, Trung Quốc
  • HQ-1 (Hồng Kỳ, Cờ đỏ): Phiên bản Trung Quốc của SA-2 với các thiết bị điện tử ECCM để chống System-12 ECM trên những chiếc U-2 do Phi đội Mèo Đen của Trung Hoa Dân Quốc sử dụng.
  • HQ-2: HQ-1 nâng cấp với khả năng ECCM thêm nữa để chống lại System-13 ECM trên những chiếc U-2 do Phi đội Mèo Đen của Đài Loan sử dụng. HQ-2 nâng cấp vẫn còn phục vụ hiện tại, và phiên bản mới nhất sử dụng radar mạng phase được đặt tên định danh SJ-202, có khả năng đồng thời thám sát và chiến đấu với nhiều mục tiêu ở độ cao 115 km và 80 km. Việc đưa vào sử dụng radar đa chức năng SJ-202 đã loại bỏ nhu cầu về nhiều radar với các chức năng riêng biệt, và vì thế cải thiện rất nhiều tính hiệu quả tổng thể của hệ thống phòng không HQ-2. Một phiên bản không người lái được đặt tên định danh BA-6.

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia sử dụng SAM-2 hiện tại, gồm cả Nga
Đạn V-750 của hệ thống S-75 Dvina trên xe kéo đạn TZM trong cuộc diễu binh ngày 7 tháng 10 năm 1979 tại CHDC Đức (cũ)

Bên sử dụng cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ đề liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • 17D, rocket cho SAM-2
  • Project Nike Hệ thống tên lửa phòng không độ cao trung bình tương tự của Hoa Kỳ
  • Wild Weasel

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lê Huy Hòa (chủ biên). Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2003. trang 1281-1282.
  2. ^ Nghiêm Đình Tích (chủ biên). Lịch sử bộ đội tên lửa phòng không (1965-2005). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 23.
  3. ^ Nguyễn Minh Tâm (chủ biên). Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2008. trang 37-38
  4. ^ Nghiêm Đình Tích (chủ biên). Lịch sử bộ đội tên lửa phòng không (1965-2005). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 23, 143, 51-52.
  5. ^ Nghiêm Đình Tích (chủ biên). Lịch sử bộ đội tên lửa phòng không (1965-2005). NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 575-576
  6. ^ Nguyễn Minh Tâm (chủ biên). Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 2008. trang 223-224
  7. ^ Project CHECO Office of History HQ PACAF
  8. ^ Bách khoa tri thức quốc phòng toàn dân. NXB chính trị quốc gia. Hà Nội. 2003. trang 418.
  9. ^ Nghiêm Đình Tích. Lịch sử bộ đội tên lửa phòng không (1965-2005). NXB Quân đội Nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 58-59.
  10. ^ E. P. Glazunov (chủ biên). Chiến tranh Việt Nam là như thế đó. Dịch giả: Đào Tuấn Anh-Nguyễn Đứng Nguyên. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2007. trang 385
  11. ^ “V-750”. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2008. .
  12. ^ http://mdb.cast.ru/mdb/3-2008/item3/article3/

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tên lửa Nga và Liên Xô