Raduga Kh-22

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kh-22
(tên ký hiệu của NATO: AS-4 'Kitchen')
Raduga Kh-22.jpg
Kh-22 dưới bụng một chiếc Tu-22M2
Loại Tên lửa không đối đất
Nguồn gốc Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1962-2007
Quốc gia sử dụng Nga
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuất Raduga
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 5,820 kg (12,800 lb) (Kh-22E)[1]
Chiều dài 11,65 m (38,2 ft) (Kh-22E)[1]
Đường kính 181 cm (71 in) (Kh-22E)[1]

Đầu nổ 900 kg (1,984 lb) HE (Kh-22E)[1]
hay đầu đạn hạt nhân 350–1000kT

Động cơ Tên lửa nhiên liệu lỏng
Sải cánh 300 cm (120 in) (Kh-22E)[1]
Động cơ Hydrazine và IRFNA
Tầm hoạt động lên đến 290 km (160 nmi) (Kh-22E)[1]
Tốc độ Mach 2,2-3,4 (Kh-22E)[1]
Hệ thống điều khiển quán tính, có đầu dò tích cực ở giai đoạn cuốir[1]
Cơ cấu phóng Tu-22M,[1] Тu-22К, Тu-95К22
Kh-22 ở cánh một chiếc Tu-22M3

Raduga Kh-22 (tiếng Nga: Х-22; AS-4 'Kitchen') là một loại tên lửa chống hạm cỡ lớn, tầm xa được Liên Xô phát triển. Kh-22 ban đầu được dự định nhằm đối phó với các tàu sân bay và nhóm tàu sân bay chiến đấu của hải quân Mỹ, do được trang bị một đầu đạn hạt nhân. Loại tên lửa này được coi là một vũ khí rất mạnh, ngay khi chỉ được trang bị với một đầu đạn thường. Tạp chí Australian Air Power miêu tả Kh-22 là "một vũ khí khủng khiếp ở mọi giới hạn".

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Kh-22 được phát triển từ cuối thập niên 1950, khi các quan chức của Liên Xô nhận thấy tên lửa là một làn sóng của tương lai, và những máy bay ném bom do người điều khiển sẽ lỗi thời. Đối mặt với mối đe dọa rằng lực lượng máy bay ném bom sẽ bị hạn chế, các sĩ quan chỉ huy của VVSAV-MF của Liên Xô đã quyết định cải tạo những chiếc máy bay ném bom hạng nặng của họ thành raketonosets, những máy bay ném bom mang tên lửa. Kh-22 (Tổ hợp 22) được phát triển bởi phòng thiết kế Raduga và sử dụng để trang bị cho Tupolev Tu-22.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Kh-22 sử dụng một động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng Isayev, nhiên liệu là hydrazine và IRFNA (inhibited red fuming nitric acid), tạo cho tên lửa có tốc độ tối đa đạt gần Mach 2 và tầm bay đạt đến 290 km (160 nmi). Nó có thể được sử dụng ở cả chế độ hoạt động trên độ cao lớn và dưới độ cao thấp. Ở chế độ trên độ cao lớn, nó đạt đến trần bay là 27,000 m (88,580 ft) và tạo ra một tốc độ lớn để bổ nhào xuống mục tiêu, với tốc độ giai đoạn cuối đạt khoảng Mach 3,4. Ở chế độ bay thấp, nó đạt tới độ cao 12,000 m (39,370 ft) và bổ nhào xuống mục tiêu với vận tốc khoảng Mach 1,2 tại độ cao cuối cùng dưới 500 m (1,640 ft). Hệ thống dẫn đường là hệ thống tự động ổn định con quay hồi chuyển, với một máy đo độ cao nhiệt.

Người ta tuyến bố rằng khi sử dụng đầu đạn shaped charge 1000 kg, nó sẽ tạo ra một lỗ đường kính 5 mét (15 feet) và sâu 12 mét (38 feet) trong các thử nghiệm của Liên Xô.[2],[3]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 1962.

Máy bay được sử dụng chính để mang tên lửa là Tu-22M 'Backfire',.[1][4] nhưng Nga cũng sử dụng Тu-22К 'Blinder-B' và Tupolev Tu-95К22 'Bear-G' để mang Kh-22.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

2 phiên bản ban đầu được chế tạo là Kh-22A với đầu đạn thường và Kh-22N, với đầu đạn hạt nhân 350-1000 kiloton.[5]. Vào giữa thập niên 1960, phiên bản Kh-22P đã được chế tạo, đây là một loại tên lửa chống bức xạ. Vào thập niên 1970, Kh-22 được nâng cấp thành Kh-22MKh-22MA, với nhiều cải tiến quan trọng, trong đó có kết nối dữ liệu cho phép cập nhật dữ liệu khi đang bay.

  • Kh-22E - phiên bản trang bị đầu đạn thường cho xuất khẩu

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]