Tên ký hiệu của NATO

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tên ký hiệu của NATOtên mật mã phân loại những thiết bị vũ khí quân sự của Liên XôTrung Quốc. Nó được tạo ra để làm thuận lợi cho sự liên lạc giữa các đơn vị quân đội nói những ngôn ngữ khác nhau trong khối NATO và vì trong nhiều trường hợp tên thật của thiết bị không thống dụng, và tên thật của thiết bị không được tìm ra bởi Phương Tây trong vài năm đầu khi thiết bị đó được đưa vào sử dụng. Mặt khác do các thiết bị được sử dụng trên nhiều nước, nên tên ký hiệu của NATO đã được sử dụng rỗng rãi.

NATO luôn duy trì danh sách những tên ký hiệu quy ước này. Việc chỉ định những cái tên cho máy bay của Liên XôTrung Quốc được giao cho Ủy ban tiêu chuẩn không trung gồm 5 quốc gia gồm Australia, Canada, New Zealand, Vương quốc AnhHoa Kỳ.

Ký tự đầu của tên chỉ ra điều gì đó về việc sử dụng thiết bị đó; chẳng hạn, máy bay chiến đấu được chỉ định với chữ cái F, máy bay ném bom với chữ B, trực thăng với chữ H, tên lửa đất đối đấtSS, tên lửa đất đối khôngG. Với loại máy bay cánh cố định, những tên với một âm tiết được sử dụng cho máy bay động cơ cánh quạt, trong khi những tên hai âm tiết được chỉ định cho động cơ phản lực. Có lẽ tên ký hiệu nổi tiếng nhất là cho tên lửa đạn đạo SS-1, hay là loại tên lửa Scud.

Bộ quốc phòng Hoa Kỳ mở rộng tên ký hiệu của NATO trong một sô trường hợp. Chẳng hạn, trong khi NATO chỉ định hệ thống tên lửa đất đối không trên tàu chiến hay tàu ngầm có cùng tên với những hệ thống trên đất liền tương ứng, mặc dù có vài sự khác nhau nhỏ (trong một sô trường họp do thiếu sự nhất quán trong thông tin, nên ở nơi không có tên ký hiệu hệ thống tương ứng thì một tên mới sẽ được đặt). Bộ quốc phóng Mỹ đã chỉ định một loạt những sự khác biệt với nhưng hậu tố khác nhau cho các hệ thống (SA-N- so với SA-). Tuy nhiên, tên gọi tương tự như hệ thống trên đất liền cũng mang lại sự thuận tiện.

Liên Xô không gán những "tên dân gian" cho máy bay, dù những biệt danh không chính thức là bình thường trong bất kỳ lực lượng không quân nào. Hầu hết thời gian (tuy nhiên không phải thường xuyên) những phi công Liên Xô không sử dụng tên NATO (hay từ những bản dịch từ đó), do sau đó một cái tên Nga được sử dụng để chỉ loại vũ khí đó. Nhiều tên, mặc dù không có hướng tâng bốc mà là một vấn đề của quan điểm. Nhiều người cho đó là không phải là toàn bộ ý nghĩa thực tế, những lời ám chỉ thường có hai nghĩa, và một vài người đã ghi nhớ và sợ những cái tên này. Hàng trăm cái tên phải đượ nghĩ ra và chọn lựa, vì vậy những cái tên bao trùm một sự đa dạng của đối tượng. Trong dịp hiếm có, như tên gọi Fulcrum (điểm tựa) của MiG-29Bear (con gấu) của Tu-95, tên mật mã của NATO đã thể hiện sự tâng bốc (hay tối thiểu).

Có khi chỉ ra được rất nhiều từ mà bắt đầu với một chức cái đã cho, nhiều máy bay (và cả thiết bị khác cũng vậy) có những tên khác thường. Chẳng hạn "Backfire" (Lửa chặn) Tu-22M giống như là sự chuyển tới kế hoạch "backfire" (đốt lửa chặn), nhưng trong hàng không, từ "Backfire" là một vụ nổ nhiên liệu nguy hiểm ở động cơ (nó có thể làm chết những người dưới mặt đất). Máy bay ném bom có những cái tên bắt đầu với từ B và những cái tên như Badger (Lửng) Tu-16, Bear (Gấu) Tu-95, và Blackjack (Dùi cui) Tu-160 luôn được sử dụng. "Frogfoot" tên ký hiệu của Sukhoi Su-25, ám chỉ nó trong vai trò một máy bay hỗ trợ trên không. Máy bay vận chuyển bắt đầu với chữ cái C (như "cargo" (hàng hóa)), dẫn đến những tên tương tự như Careless (Cẩu thả) Tu-154Candid (thật thà) Il-76.

Danh sách tên ký hiệu của NATO[sửa | sửa mã nguồn]

Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]