Khối phía Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ Khối phía đông 1948-1989

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thuật ngữ Khối phía đông (hay Khối Xô Viết) đã được dùng để chỉ Liên Xô và các đồng minh của mình ở TrungĐông Âu (Bulgaria, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Ba Lan, România, và - đến đầu thập niên 1960 - Albania).

Tên gọi "Khối phía đông" cũng đã được sử dụng để gọi chung tên của các quốc gia thành viên của Hiệp ước Warszawa (một liên minh quân sự do Liên Xô lãnh đạo) hoặc của tổ chức Comecon (Hội đồng Tương trợ Kinh tế) (một tổ chức kinh tế quốc tế của các nhà nước cộng sản). Các đồng minh của Liên Xô bên ngoài Đông Âu như Mông Cổ và thường là Cuba, Việt Nam Dân chủ Cộng hòaBắc Triều Tiên đôi khi được bao gồm trong Khối phía đông.

Các thuật ngữ Khối phía đông và Liên Xô đôi khi bị nhầm lẫn. Dù Liên Xô đã có nhiều ảnh hưởng kinh tế và chính trị lên các đồng minh của Khối phía đông, các quốc gia khác trong Khối phía đông chưa bao giờ là một nước cộng hòa thành viên của Liên Xô.

Thể chế chính trị và kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Về chính trị, chúng đều là những quốc gia độc tài được cai trị bởi một đảng cầm quyền. Mỗi nước đều có cán bộ tuyên giáo để dạy bảo người dân phải nghĩ gì, có mật vụ để phát hiện bất đồng chính kiến, và có trại tù để giam giữ những người chỉ trích chế độ. Tất cả đều bày ra các cuộc tuyển cử khôi hài trong đó đảng chiếm hơn 95 phần trăm phiếu bầu. Trừ Yugoslavia và Albania sau năm 1960, các nước khác đều nhận lệnh từ Moscow, một trung tâm quyền lực đã đưa xe tăng vào Hungary năm 1956 và Tiệp Khắc năm 1968 để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng.[1] Tất cả các nước trong khối cộng sản vào thời đó có nền kinh tế do trung ương kiểm soát. Hầu hết hoặc tất cả tài sản đều thuộc về nhà nước, và giá cả được các nhà làm kế hoạch kinh tế đặt ra, chứ không do thị trường định đoạt.

Nam Tư và Albania[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Tư chưa bao giờ là một phần của Khối phía đông hoặc của Hiệp ước Warszawa. Mặc dù Nam Tư tuyên bố là một quốc gia cộng sản, lãnh đạo của nước này, Thống chế Tito, đã lên nắm quyền lực thông qua các nỗ lực của ông từ một cuộc kháng chiến phi đảng phái trong Thế chiến thứ hai. Do ông không phải do Hồng quân Liên Xô dựng lên, ông không phải trung thành với Liên Xô. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Nam Tư tự thiết lập thành một quốc gia trung lập và là một trong những sáng lập viên của Phong trào Không liên kết.

Tương tự, chính phủ Albania theo chủ nghĩa Stalin cũng lên nắm quyền lực một cách độc lập không phải nhờ Hồng quân mà nhờ một cuộc kháng chiến trong Thế chiến thứ hai. Albania đã cắt đứt quan hệ với Liên Xô đầu thập niên 1960 do kết quả của sự phân chia Trung-Xô, nên Albania đã liên minh với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và lập trường chống chủ nghĩa xét lại của Trung Quốc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]