Cách mạng Hồi giáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cách mạng Hồi giáo
Ayatollah Khomeini trở về sau thời gian lưu vong

Articles


Cách mạng Hồi giáo (hay còn được biết với tên Cách mạng Iran hoặc Cách mạng Hồi giáo Iran[1][2][3][4][5][6], Tiếng Ba Tư: انقلاب اسلامی, Enghelābe Eslāmi) là một cuộc cách mạng đưa Iran từ chế độ quân chủ do Shah Mohammad Reza Pahlavi đứng đầu thành quốc gia Cộng hòa Hồi giáo dưới sự lãnh đạo của Ayatollah Ruhollah Khomeini, người lãnh đạo cuộc cách mạng và là người khai sinh ra nước Cộng hòa Hồi giáo[7]. Một số báo chí gọi đây là "cuộc cách mạng vĩ đại thứ ba trong lịch sử", sau Cách mạng PhápCách mạng Tháng Mười Nga[8], và là một sự kiện "biến chủ nghĩa phong kiến Hồi giáo thành một lực lượng chính trị... từ Maroc đến Malaysia"[9].

Mặc dù có một số người cho rằng cuộc cách mạng vẫn còn tiếp diễn, khoảng thời gian của nó có thể được tính từ khi bắt đầu tháng 1 năm 1978 với cuộc tuần hành lớn đầu tiên nhằm lật độ Shah[10], và kết thúc với sự phê chuẩn một Hiến pháp chính trị thần quyền mới - trong đó Khomeini trở thành Lãnh đạo Tối cao của quốc gia - vào tháng 12 năm 1979. Trong khoảng thời gian đó, Mohammad Reza Pahlavi đã rời khỏi Iran vào tháng 1 năm 1979 sau khi những cuộc đình công và tuần hành làm tê liệt đất nước, và vào ngày 1 tháng 2, 1979 Ayatollah Khomeini quay lại Tehran trong sự chào đón của hàng triệu người Iran[11]. Sự sụp đổ cuối cùng của triều đại Pahlavi diễn ra thời gian ngắn sau đó vào ngày 11 tháng 2 khi giới quân sự Iran tuyên bố rằng mình "trung lập" sau khi lực lượng du kích và phiến quân áp đảo lực lượng trung thành với Shah trong trận đánh có vũ trang ngay trên đường phố. Iran chính thức trở thành một nước Cộng hòa Hồi giáo vào ngày 1 tháng 4, 1979 khi người dân Iran phê chuẩn quyết định này trong một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc với số ủng hộ áp đảo[12].

Cuộc cách mạng độc đáo ở sự ngạc nhiên mà nó tạo ra trên toàn thế giới[13]: nó thiếu rất nhiều động cơ thông thường của một cuộc cách mạng - thất bại trong một cuộc chiến tranh, một cuộc khủng hoảng kinh tế, cuộc nổi dậy của nông dân, hoặc sự bất mãn của giới quân sự[14]; lại tạo ra một sự thay đổi sâu sắc với tốc độ thần kỳ[15]; lật độ một đế chế được cho là có sự bảo hộ mạnh mẽ của lực lượng vũ trang và các dịch vụ bảo an được đầu tư dồi dào[16][17]; và đã thay thế một vương triều cổ đại bằng một chế độ chính trị thần quyền dựa trên Hộ pháp vụ của Luật gia Hồi giáo[18] (hay velayat-e faqih). Kết quả của nó - một nước Cộng hòa Hồi giáo "dưới sự lãnh đạo của một học giả tôn giáo lưu vong 80 tuổi quê ở Qom" — là, như một học giả đã nói, "rõ ràng là một sự cố cần được giải thích..."[19]

Không quá đặc biệt nhưng nhưng mạnh mẽ hơn đó là cuộc tranh cãi về kết quả của cuộc cách mạng. Đối với một số người đó là thời đại của chủ nghĩa anh hùng và sự hy sinh đã sản sinh ra một hạt nhân của thế giới các quốc gia Hồi giáo - "một mô hình hoàn hảo về cuộc sống huy hoàng, nhân đạo và thiêng liêng... cho tất cả con người trên thế giới"[20]. Ở thái cực khác, những người Iran bất mãn chế độ giải thích cuộc cách mạng như thời điểm khi "chúng ta đã mất trí trong một vài năm"[21], và là một hệ thống "hứa hẹn với chúng ta thiên đường, nhưng... tạo ra một địa ngục trên trần gian"[22].

Nguyên nhân cuộc cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có nhiều lời giải thích về nguyên nhân tại sao cuộc cách mạng lại diễn ra và thành công, trong đó bao gồm những hành động của Shah và những sai lầm cùng thành công của các lực lượng chính trị khác nhau:

  • Chế độ của Shah không được nhân dân ưa chuộng: Quần chúng nhận thức rằng Shah chịu ảnh hưởng lớn - nếu không nói là con rối - của thế lực phi Hồi giáo phương Tây (Hoa Kỳ)[23][24], nơi mà nền văn hóa của nó đang làm ô uế đất nước Iran; rằng chế độ của Shah ngột ngạt, thối nát, và ngông cuồng[25][26].
  • Sự thất bại về chuyên môn của chế độ: tình trạng thắt cổ chai, thiếu hụt và lạm phát, của chương trình kinh tế quá tham vọng của chế độ[27]; sự thất bại của các lực lượng bảo an của chế độ khi đối phó với sự phản kháng và biểu tình[28]; cấu trúc quyền lực hoàng gia quá tập trung[29].
  • Sự phát triển của phong trào phục hưng Hồi giáo chống lại Tây phương hóa và nhận thấy Ayatollah Khomeini là người kế tục bước đi của Imam dòng Shi'a Husayn ibn Ali, và Shah là một phiên bản hiện đại của kẻ thù của Hussein, bạo chúa đáng ghét Yazid I[30];
  • Việc đánh giá thấp phong trào Hồi giáo của Ayatollah Khomeini từ Shah - người cho rằng chúng chỉ là mối đe dọa nhỏ -[31][32][33] và từ cả những người kế tục đang chống lại Shah - cho rằng những người theo chủ nghĩa Khomeni chỉ đáng đứng chầu rìa[34].

Bối cảnh cuộc cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa chống thuyết giáo quyền của vương triều Pahlavi[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng Lập hiến Iran năm 1906, hiến pháp đầu tiên của Iran bắt đầu có hiệu lực, do Quốc hội thông qua. Hiến pháp đã quy định một vị trí đặc biệt cho đạo Hồi dòng Shi'a thứ mười hai. Hiến pháp tuyên bố rằng đạo Hồiquốc giáo của Iran, trong đó ghi rõ rằng giới tăng lữ Shi'a là người quyết định xem các luật do Quốc hội thông qua có "hòa hợp với các nguyên tắc của đạo Hồi" hay không, và sẽ có một ủy ban các tăng lữ để thông qua tất cả các luật, đồng thời yêu cầu Shah phải tích cực ủng hộ đạo Hồi dòng Shi'a thứ mười hai, và trung thành triệt để các nguyên tắc của nó[35].

Tuy nhiên, sau sự hưng vượng của vương triều Pahlavi, Reza Pahlavi, giống như Atatürk cùng thời với ông, đã cố gắng thế tục hóa và tây phương hóa Iran. Ông tước bớt quyền lực của giới tăng lữ Shi'a, chấm dứt các điều luật Hồi giáo và thử giải phóng cho phụ nữ. Reza Pahlavi đã cố gắng thế tục hóa Iran bằng cách bỏ qua hiến pháp mang tính tôn giáo. Đến giữa thập niên 1930, cách trị vì của Reza Shah đã tạo ra sự bất mãn lớn đối với các tăng lữ dòng Shi'a trên khắp Iran, do đó tạo ra khoảng cách giữa các tổ chức tôn giáo và chính quyền[36]. Ông cấm trang phục truyền thống của Iran dành cho đàn ông lẫn phụ nữ, và ủng hộ lối ăn mặc phương tây[37]. Những phụ nữ chống lại việc tháo mạng che mặt sẽ bị buộc tháo bỏ và xé mạng. Ông đối xử một cách mạnh mẽ với những người chống đối: quân đội được gửi đi tàn sát những kẻ chống đối tại đền thờ và những người du mục từ chối định cư. Các tờ báo tự do và tôn giáo đều bị đóng cửa và có thể bị tống giam[37].

Thập niên 1940: Đức Shah đạt tới quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Shah Mohammad Reza Pahlavi đạt được quyền lực vào năm 1941 sau khi hạ bệ phụ hoàng, Reza Shah, nhờ một cuộc xâm lược của quân đội Anh và Liên Xô vào năm 1941. Reza Shah, một quân nhân, nổi tiếng vì quyết tâm hiện đại hóa Iran và sự thù địch của ông với giới tăng lữ (ulema). Shah Mohammad Reza Pahlavi nắm giữ quyền lực cho đến cuộc cách mạng 1979 dù đã trải qua sự gián đoạn ngắn vào năm 1953, khi ông phải đối mặt với một nỗ lực cách mạng. Vào năm đó ông đã bỏ trốn khỏi đất nước sau khi xuất hiện sự tranh giành quyền lực giữa ông và Thủ tướng Mohammad Mossadegh, người đã quốc hữu hóa các mỏ dầu của đất nước và đang tìm cách quản lý quân đội. Mossadegh được bầu vào chiếc ghế thủ tướng thông qua một cuộc bầu cử dân chủ. Nhờ cuộc đảo chính do CIAMI6 giật dây, có mật danh Chiến dịch Ajax, Mossadegh bị lật đổ và bắt giam, còn Đức Shah thì quay trở lại ngai vàng. Tư tưởng của người Iran vẫn cho rằng sự phá hoại tiến trình dân chủ này là điểm đáng trách chính đối với Anh và Mỹ.

Giống như phụ hoàng Reza Shah, Shah Mohammad Reza Pahlavi cố gắng hiện đại hóa và tây phương hóa một quốc gia bị trì trệ nghiêm trọng bởi chính nền chính trị của ông. Như lời R. Kapuchinsky khẳng định, những nỗ lực này bị ngăn trở bởi sự thiếu giáo dục của lực lượng lao động ở Iran và khoảng cách quá lớn với cơ sở hạ tầng công nghiệp và kỹ thuật. Ông vẫn duy trì mối quan hệ thân cận với Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây khác, và thường được các chính quyền tổng thống Hoa Kỳ ghi nhận vì các chính sách và sự đối nghịch đối với Chủ nghĩa cộng sản của ông. Những người đối lập với chính quyền của ông đến từ phe cánh tả, những người theo chủ nghĩa quốc gia và các nhóm tôn giáo, những người chỉ trích chính phủ vì đã vi phạm hiến pháp Iran, tham nhũng chính trị, và sự đàn áp chính trị tàn bạo của SAVAK (cảnh sát mật). Đối với những nhóm chống đối, quan trọng bật nhất là hình ảnh tôn giáo của Ulema, hay giới tăng lữ, những người đã chứng tỏ được mình là một lực lượng chính trị có tiếng nói ở Iran trong Phong trào chống thuốc lá vào thế kỷ 19 chống lại sự nhượng bộ đối với lợi ích từ nước ngoài. Giới tăng lữ có tầm ảnh hưởng quan trọng đến đa số người Iran có thiên hướng tôn giáo, truyền thống và xa lánh bất kỳ tiến trình Tây phương hóa nào.

Thập niên 1960: Sự nổi lên của Ayatollah Khomeini[sửa | sửa mã nguồn]

Khomeini, người lãnh đạo tương lai của cuộc cách mạng Hồi giáo, đã được Hội Giáo viên trường đạo của Qom tôn lên làm marja vào năm 1953, sau cái chết của Đại Giáo chủ (Ayatollah) Seyyed Husayn Borujerdi. Ông cũng trở nên nổi tiếng về mặt chính trị vào năm đó khi đứng đầu những người chống lại Shah và chương trình cải cách của ông được biết đến với tên Cách mạng trắng. Khomeini đã tấn công vào chương trình của Shah — tước đi các tài sản do một số giáo sĩ Shi'a sở hữu, bỏ phiếu phổ thông (quyền bỏ phiếu cho phụ nữ), các thay đổi trong luật bầu cử cho phép bầu các tôn giáo thiểu số vào chính quyền, và các thay đổi trong luật dân sự cho phụ nữ quyền bình đẳng trong vấn đề hôn nhân — tuyên bố rằng Shah đã "bắt đầu phá hoại Đạo hồi tại Iran"[38].

Sau khi Komeini lăng mạ công khai Shah là "người đáng thương thảm hại" và bị bắt giữ vào ngày 5 tháng 6, 1963, đã có những vụ bạo loạn xảy ra liên tiếp trong ba ngày ở khắp Iran và cảnh sát đã mạnh tay đàn áp chúng. Chính quyền Pahlavi nói rằng có 86 người bị giết trong các cuộc bạo lọan; còn những người ủng hộ Khomeini cho rằng có ít nhất 15.000 người bị giết[39]; trong khi một số khác nói rằng các báo cáo sau cuộc cách mạng trong hồ sơ của cảnh sát nói rằng có hơn 380 người bị giết[40]. Khomeini bị quản thúc tại gia trong 8 tháng rồi được phóng thích. Ông tiếp tục khích động chống lại Shah về những vấn đề bao gồm sự hợp tác gần gũi của Shah với Israel và đặc biệt là những "thỏa ước" mở rộng những ưu đãi ngoại giao đối với các quan chức quân đội Hoa Kỳ của Shah. Vào tháng 11 năm 1964 Khomeini lại bị bắt giam và bị trục xuất, và phải lưu vong trong 14 năm cho đến cuộc cách mạng.

Một giai đoạn "yên bình nghẹt thở" diễn ra sau đó[41]. Các lực lượng bất đồng bị lực lượng an ninh SAVAK đàn áp nhưng sự phục hồi của Đạo hồi vừa nhen nhóm bắt đầu phá hoại lý tưởng Tây phương hóa đang diễn ra, lý tưởng nền tảng cho đế chế già cổ của Shah. Ý tưởng của Jalal Al-e-Ahmad về Gharbzadegi (bệnh dịch của văn hóa phương Tây), sự diễn dịch Đạo Hồi theo xu hướng cánh tả của Ali Shariati, và sự nhắc đi nhắc lại niềm tin Shi'a dần trở nên phổ biến của Morteza Motahhari, tất cả những thứ đó lan truyền và thu hút người nghe, người đọc và những người ủng hộ[42]. Quan trọng hơn cả, Khomeini đã phát triển và tuyên truyền lý tưởng của ông rằng Đạo Hồi cần phải có một chính quyền Hồi giáo của wilayat al-faqih, có nghĩa là các quy định sẽ do những nhà làm luật Hồi giáo đứng đầu ban hành. Trong loạt bài giảng vào đầu năm 1970, sau này được xuất bản thành sách (Hokumat-e Islami, Velayat-e faqih, hay Chính quyền Hồi giáo, Hộ pháp vụ của luật gia theo tiếng Việt), Khomeini đã tranh luận rằng Đạo Hồi chỉ phải tuân theo luật sharia, và luật này đến lượt nó đòi hỏi một hay nhiều nhà làm luật Hồi giáo đứng đầu không chỉ phải điều hành Đạo Hồi mà còn phải điều hành chính quyền.

Bản mẫu:Bài chínharticle

Trong khi Khomeini không bàn về khái niệm này trong các cuộc phỏng vấn và thảo luận với những người ngoại đạo, cuốn sách này được phát hành rộng rãi trong khu vực tín ngưỡng, đặc biệt giữa những học trò (talabeh), học trò cũ (giáo sĩ) của Khomeini và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ. Nhóm này cũng bắt đầu phát triển những gì sau này trở thành mạng lưới chống đối mạnh mẽ và hiệu quả[43] bên trong Iran, ghi lại những bài thuyết giáo trong thánh đường, mang lén những cuộn băng ghi âm lời giảng của Khomeini vào nước, và những phương cách khác. Bổ sung cho phe chống đối mang tính tín ngưỡng này là những sinh viên theo chủ nghĩa tân thời và những nhóm du kích[44] ngưỡng mộ sự lãnh đạo của Khomeini mặc dù họ bất đồng và bị đàn áp bởi phong trào của ông sau cách mạng.

Thập niên 1970: Các điều kiện tiền khởi nghĩa và sự kiện xảy ra tại Iran[sửa | sửa mã nguồn]

Một số sự kiện trong thập niên 1970 tạo tiền đề cho cuộc cách mạng năm 1979:

Vào tháng 10 năm 1971, lễ kỷ niệm 2500 năm thành lập Đế quốc Ba Tư được tổ chức tại Persepolis. Chỉ có các quan chức người nước ngoài được mời tham dự buổi tiệc kéo dài ba ngày mà sự xa hoa của nó thể hiện ở việc nhập về hơn một tấn trứng cá muối caviar, và được khoảng hai trăm đầu bếp bay từ Paris sang để chế biến. Chi phí chính thức được công bố là 40 triệu USD nhưng ước chừng còn nhiều hơn trong khoảng 100-120 triệu USD[45]. Trong khi đó, tỉnh Baluchistan và Sistan, và thậm chí cả Fars, nơi tổ chức buổi lễ, đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi hạn hán. "Trong khi những người ngoại quốc đang chè chén với thứ thức thuốc bị cấm trong Đạo Hồi thì người Iran không chỉ không được tham sự lễ hội, mà một số còn bị chết đói"[46].

Đến cuối năm 1974 sự bùng nổ giá dầu bắt đầu tạo ra, không phải là "Đại văn minh hóa" như lời hứa của Shah, mà là sự gia tăng "đáng báo động" tình trạng lạm phát và lãng phí và một "khoảng cách ngày càng xa" giữa người giàu và người nghèo, thành thị và nông thôn[47]. Những người Iran theo chủ nghĩa quốc gia rất tức giận với hàng chục ngàn lao động nước ngoài có tay nghề được nhập khẩu vào Iran, nhiều người trong số họ giúp vận hành những thiết bị quân sự công nghệ cao đắt tiền của Mỹ, những thứ không được người dân ưa thích trong khi Shah lại bỏ ra hàng trăm triệu đô la vào việc đó.

Vào năm kế tiếp, đảng Rastakhiz được thành lập. Nó không chỉ là chính đảng duy nhất đối với người Iran, mà còn là chính đảng mà "toàn bộ người trưởng thành" buộc phải gia nhập và đóng góp vào đó[48]. Những nỗ lực của đảng này trong việc giành một vị trí dân túy với các chiến dịch "chống đầu cơ trục lợi" bắt phạt và tống giam thương gia, không chỉ tạo ra nguy hại về mặt kinh tế mà còn có tác dụng ngược về mặt chính trị. Tình trạng lạm phát được thay bằng thị trường chợ đen và khước từ các hoạt động kinh doanh. Các thương gia tức giận và xa lánh[49].

Vào năm 1976, chính quyền của Shah khiến cho những tín đồ Đạo Hồi người Iran ngoan đạo tức giận bằng việc thay đổi năm đầu tiên trong bộ lịch của người Iran từ ngày hijri của Đạo Hồi sang ngày lên ngôi của Cyrus Đại đế. "Qua một đêm Iran nhảy liền một mạch từ năm đạo Hồi 1355 sang năm hoàng gia 2535"[50]. Cùng năm đó Đức Shah tuyên bố thắt lưng buộc bụng để giảm lạm phát và lãng phí. Tình trạng thất nghiệp sau đó ảnh hưởng nặng nề đến hàng ngàn người nghèo và dân nhập cư thiếu tay nghề tại các thành phố. Bảo thủ về văn hóa và tôn giáo và sẵn suy nghĩ xem chủ nghĩa thế tục và Tây phương hóa của Shah là "xa lạ và tội lỗi"[51], rất nhiều người như những người này tiếp tục hình thành nên hạt nhân của các cuộc biểu tình và "kẻ tử vì đạo" của cuộc cách mạng[52].

Vào năm 1977 tổng thống mới của Mỹ, Jimmy Carter, tuyên thệ nhậm chức. Với hy vọng làm cho sức mạnh và chính sách ngoại giao của Mỹ sau chiến tranh Việt Nam trở nên rộng lượng hơn, ông đã tạo ra một Văn phòng Nhân quyền đặc biệt, văn phòng này đã gửi cho Shah một "nhắc nhở lịch sự" về sự quan trọng của các quyền và tự do chính trị. Shah trả lời bằng cách ân xá cho 357 tù nhân chính trị vào tháng 2, và cho phép Hội chữ thập đỏ thăm các nhà tù, bắt đầu những gì được gọi là 'xu hướng tự do hóa của Shah'. Vào cuối mùa xuân, hạ và thu, những người đối lập hình thành những tổ chức và đưa ra những lá thư công khai chỉ trích chế độ[53]. Vào cuối năm đó một nhóm bất đồng (Hiệp hội những người cầm bút) đã tụ họp mà không có sự can thiệp và bắt giam của cảnh sát như lệ thường, khởi đầu một kỷ nguyên hoạt động chính trị mới của những người chống đối Shah[54].

Năm đó cũng chứng kiến cái chết của nhà lãnh đạo Hồi giáo theo xu hướng cách tân rất nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng Ali Shariati, bị cho là có bàn tay của SAVAK nhúng vào, đã loại bỏ một địch thủ cách mạng tiềm tàng của Khomeini. Cuối cùng, vào tháng 10 con trai của Khomeini, Mostafa qua đời. Mặc dù nguyên nhân có vẻ là do bị nhồi máu cơ tim, các nhóm chống Shah đã đổ lỗi cho SAVAK đã đầu độc và tôn vinh ông làm 'kẻ tử vì đạo'. Lễ tưởng niệm Mostafa sau đó tại Tehran đã đặt Khomeini quay lại tâm điểm và bắt đầu tiến trình tạo dựng Khomeini trở thành thủ lĩnh đối lập với Shah[55][56].

Các nhóm và tổ chức đối lập[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhóm đối lập trong thời của Shah thường nằm trong ba nhóm: những người theo chủ nghĩa lập hiến, những người theo chủ nghĩa Mác, và những tín đồ Đạo Hồi.

Những người theo chủ nghĩa lập hiến, bao gồm Mặt trận Quốc gia Iran, muốn hồi sinh chế độ quân chủ lập hiến với tuyển cử tự do. Không có tuyển cử hoặc những phương tiện cho các hoạt động chính trị hòa bình, thì họ mất đi quyền xác đáng và có ít người theo.

Những nhóm Mác-xít là bất hợp pháp và bị đàn áp mạnh mẽ bởi bộ máy nội vụ SAVAK. Họ gồm có Đảng Tudeh Iran; Tổ chức Du kích Fedai Nhân dân Iran (OIPFG) và nhóm Du kích Fedai Nhân dân Iran ly khai (IPFG), hai tổ chức vũ trang; và một số nhóm nhỏ[57]. Mục tiêu của họ là đánh bại vương triều Pahlavi bằng cách ám sát và chiến tranh du kích. Mặc dù họ đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng, họ chưa bao giờ tạo được sự ủng hộ lớn hơn.

Những người theo đạo Hồi chia thành các nhóm khác nhau. Phong trào tự do Iran được hình thành vởi những thành viên ngoan đạo của Mặt trận Quốc gia Iran. Nó cũng là một nhóm hợp hiến và muốn sử dụng các phương cách chính trị theo đúng luật để chống lại Shah. Phong trào này bao gồm BazarganTaleqani. Mujahedin của Nhân dân Iran là một tổ chức vũ trang gần như theo chủ nghĩa Mác chống lại sự ảnh hưởng của giới tăng lữ và sau đó chống lại cả chính quyền Hồi giáo. Những nhà báo và phát ngôn viên cá nhân như Ali Shariati và Morteza Motahhari đã có những hoạt động quan trọng ngoài các nhóm và đảng phái này.

Trong những người thân cận đi theo Ayatollah Khomeini, có một số nhóm Hồi giáo vũ trang thiểu số cũng gia nhập sau cuộc cách mạng trong Tổ chức Mojahedin Cách mạng Hồi giáo. Liên minh Cộng đồng Hồi giáo được thành lập bởi các bazaari (các thương gia truyền thống) ngoan đạo[58]. Hiệp hội Tăng lữ Chiến đấu bao gồm Motahhari, Beheshti, Bahonar, RafsanjaniMofatteh những người sau này trở thành các viên chức lớn trong chính phủ Cộng hòa Hồi giáo. Họ sử dụng cách tiếp cận văn hóa để chống lại Shah.

Do sự đàn áp trong nước, các nhóm chống đối nước ngoài, như Liên minh sinh viên Iran, nhánh nước ngoài của Phong trào Tự do IranHiệp hội Hồi giáo sinh viên, rất quan trọng đối với cuộc cách mạng.

1978: Cách mạng bùng nổ[sửa | sửa mã nguồn]

Sự đối lập xuất hiện rõ nhất từ sớm là của những nhóm tự do tồn tại trong tầng lớp trung lưu thành thị, một nhóm dân khá cổ điển và muốn Shah tôn trọng Hiến pháp Iran 1906, chứ không phải một nền cộng hòa do các tăng lữ Hồi giáo điều khiển[59]. Đáng chú ý trong nhóm này là Mehdi Bazargan và nhóm Hồi giáo ôn hòa Phong trào Tự do Iran của ông, và cả nhóm phi tôn giáo Mặt trận Quốc gia.

Giới tăng lữ bị chia rẽ, một số đồng minh với những người phi tôn giáo tự do, một số khác đi theo Chủ nghĩa Mác và Chủ nghĩa cộng sản. Khomeini, người sống lưu vong tại Iraq, đã hoạt động để thống nhất các nhóm đối lập tôn giáo và phi tôn giáo, tự do và cấp tiến dưới sự lãnh đạo của ông[60] bằng cách tránh các vấn đề chi tiết - ít nhất là công khai - có thể tạo ra chia rẽ[61].

Các nhóm chống Shah khác nhau hoạt động bên ngoài Iran, chủ yếu tại Luân Đôn, Paris, Iraq, và Thổ Nhĩ Kỳ. Những bài phát biểu của những người lãnh đạo các nhóm này được thu vào băng cát-xét để chuyển lậu vào Iran.

Cuộc biểu tình lớn đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tuần hành lớn đầu tiên chống lại Shah được dẫn đầu bởi các nhóm Hồi giáo diễn ra vào tháng 1 năm 1978. Các sinh viên và các lãnh đạo tôn giáo đag tức giận ở thành phố Qom đã tuần hành để phản đối những câu chuyện bôi nhọ Khomeini được in trên báo chí nhà nước. Quân đội đã được gửi đến giải tán các cuộc tuần hành và sát hại một số sinh viên (theo chính phủ con số này là 2 và theo các nhóm đối lập là 70)[62].

Theo phong tục của người Shi'ite, các hoạt động tưởng niệm được tổ chức bốn mươi ngày sau khi mất. Trong các đền thờ dọc đất nước, đã có những lời kêu gọi vinh danh những sinh viên đã chết. Vì thế, vào ngày 18 tháng 2 một số nhóm đã tuần hành ở các thành phố để tưởng niệm những người đã ngã xuống và phản đối chế độ của Shah. Lần này, bạo lực nổ ra ở Tabriz, và hơn một trăm người biểu tình đã thiệt mạng. Chu kì lại lập lại, vào ngày 29 tháng 3, một lượt tuần hành khác lại diễn ra trên toàn quốc. Những khách sạn sang trọng, rạp chiếu phim, nhà băng, cơ quan chính phủ và các biểu tượng khác của chế độ Shah bị phá hủy; một lần nữa các lực lượng an ninh đã can thiệp và giết rất nhiều người. Vào ngày 10 tháng 5, mọi việc lại tái diễn.

Ayatollah Shariatmadari tham gia vào nhóm chống đối[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 5, lính đặc nhiệm của chính phủ xông vào nhà của Ayatollah Kazem Shariatmadari, một nhân vật chính trị và lãnh đạo tăng lữ ôn hòa, bắt chết một trong những môn đệ ngay trước mặt ông. Shariatmadari từ bỏ lập trường im lặng và gia nhập nhóm chống đối[63].

Đức Shah cố gắng làm dịu những người chống đối bằng cách làm giảm lạm phát, kêu gọi sự rộng lượng của giới tăng lữ ôn hòa, sa thải người đứng đầu SAVAK và hứa hẹn một cuộc bầu cử tự do vào tháng 6 tới[64]. Nhưng sự cắt giảm chi tiêu để chống lạm phát đã gây nen tình trạng lãng công — đặc biệt là giới lao động trẻ, không có tay nghề sống tại các khu ổ chuột tại các thành phố. Đến mùa hè năm 1978, những lao động này, thường xuất thân từ giới nông dân truyền thống, đã tham gia vào các nhóm phản đối trên đường phố với số lượng rất lớn. Các lao động khác thì tiếp tục đình công và đến tháng 11 thì nền kinh tế bị tê liệt bởi hàng loạt vụ đóng cửa[65].

Shah tiếp cận Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Đối mặt với cuộc cách mạng, Shah đã cầu viện sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Vì lý do lịch sử và vị trí chiến lược của mình, Iran rất quan trọng đối với Hoa Kỳ. Iran là một quốc gia thân Mỹ có đường biên giới dài với đối thủ chiến tranh lạnh của Hoa, Liên Xô, và là quốc gia lớn nhất, mạnh nhất trong Vịnh Péc-xích giàu dầu lửa. Nhưng vương triều Pahlavi đồng thời cũng khiến phương Tây không hài lòng do những thành tích về nhân quyền của họ[66].

Chính quyền Carter theo đuổi "chính sách không rõ ràng" đối với Iran[67]. Đại sứ Hoa Kỳ tại Iran, William H. Sullivan, nhắc lại rằng Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Zbigniew Brzezinski “liên tục đảm bảo với Pahlavi rằng Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ ông". Tổng thống Carter lại không đi theo những sự đảm bảo đó một cách gây tranh cãi. Vào ngày 4 tháng 11, 1978, Brzezinski đã gọi cho Shah để nói rằng Hoa Kỳ sẽ "ủng hộ ông hoàn toàn". Cùng thời điểm đó, một số quan chức cấp cao tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tin rằng cuộc cách mạng là không thể ngăn cản[68]. Sau khi thăm Shah vào mùa hè năm 1978, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hoa Kỳ Blumenthal than phiền về sự suy sụp cảm xúc của Shah, nói lại rằng, "Ông như một thây ma"[69]. Brzezinski và Bộ trưởng Bộ Năng lượng Hoa Kỳ James Schlesinger (Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời tổng thống Ford) tuyên bố cứng rắn về sự đảm bảo hỗ trợ quân sự cho Shah. Brzezinski vẫn ủng hộ sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ để bình ổn Iran thậm chí khi vị trí của Shah được tin là không thể giữ được nữa. Tổng thống Carter không thể quyết định phương cách để bình ổn tình thế; ông chắc chắn chống lại một cuộc đảo chính nữa. Ban đầu, dường như sẽ có sự ủng hộ một cuộc chuyển giao quyền lực hòa bình, tuy nhiên lựa chọn này tan biến khi Khomeini và những người đi theo ông quét qua cả đất nước, giành được quyền lực vào ngày 12 tháng 2, 1979.

Các lý thuyết nghi ngờ[sửa | sửa mã nguồn]

Một số người Iran tin rằng việc thiếu sự can thiệp và đôi khi có vẻ đồng cảm với cuộc cách mạng của những quan chức cấp cao Hoa Kỳ cho thấy Hoa Kỳ "phải chịu trách nhiệm với thắng lợi của Khomeini"[67]. Một ý kiến cực đoan hơn cho rằng sự lật độ Shah là kết quả của "âm mưu nham hiểm để lật độ vương triều theo chủ nghĩa quốc gia, tiến bộ, và tư tưởng độc lập"[70].

Tấn công đốt phá Abadan[sửa | sửa mã nguồn]

Do tình trạng bạo lực tiếp diễn, hơn 400 người đã chết trong vụ tấn công Hỏa hoạn tại Rạp chiếu phim Rex vào tháng 8 tại Abadan. Mặc dù rạp chiếu phim là mục tiêu thường xuyên của những người biểu tình Hồi giáo[71][72] như vậy là sự ngờ vực của chế độ và sự hiệu quả của kỹ năng liên lạc của đối thủ của nó đến nỗi công chúng tin rằng SAVAK đã đốt rạp trong nỗ lực điều chỉnh đối phương[73]. Ngày kế tiếp 10.000 gia quyến và những người ủng hộ tụ tập trong đám tang tập thể và cùng hô vang, ‘đốt cháy Shah’, và ‘Shah là kẻ có tội’[74].

Thứ sáu đen tối[sửa | sửa mã nguồn]

Đến tháng 9, quốc gia này nhanh chóng bị mất cân bằng, những cuộc biểu tình lớn diễn ra thường xuyên. Shah đã công bố thiết quân luật, và cấm tất cả mọi sự biểu tình. Một cuộc phản đối rất lớn nổ ra tại Tehran, được biết đến với tên Ngày thứ sáu đen tối.

Giới lãnh đạo tăng lữ truyền đi tin đồn rằng "hàng ngàn người đã bị quân đội người Zion thảm sát"[75]. Quân đội thực ra là người Kurd đã bị bắn, và con số bị giết không phải là 15.000 mà là gần 700[76], nhưng trong thời gian đó việc xuất hiện sự tàn ác của chính phủ đã làm rất nhiều người Iran còn lại và các đồng minh của Shah ở nước ngoài căm giận. Một cuộc tổng bãi công vào tháng 10 dẫn đến tê liệt nền kinh tế, ngành công nghiệp quan trọng phải đóng cửa, "khóa chặt số phận của Shah"[77].

Ayatollah Khomeini ở Paris[sửa | sửa mã nguồn]

Ayatollah Khomeini tại Neauphle-leChateau, vây quanh là phóng viên.

Shah quyết định yêu cầu trục xuất Ayatollah Khomeini khỏi Iraq và vào ngày 24 tháng 9, 1978, chính quyền Iraq phong tỏa ngôi nhà của Khomeini ở Najaf. Ông được thông báo rằng việc cư trú lâu dài tại Iraq tùy thuộc vào sự từ bỏ các hoạt động chính trị của ông, một điều kiện mà ông đã từ chối. Vào ngày 3 tháng 10, ông rời Iraq đến Kuwait, nhưng bị từ chối nhập cảnh tại biên giới. Cuối cùng ngày 6 tháng 10 Ayatollah Khomeini đến được Paris. Vào ngày 10 tháng 10 ông chuyển vào sống ở ngoại ô Neauphle-le-Château trong một căn nhà do những người Iran lưu vong tại Pháp thuê cho ông. Từ lúc đó các phóng viên trên khắp thế giới đổ về Pháp, và hình ảnh và phát biểu của Ayatollah Khomeini nhanh chóng trở thành tin nóng hàng ngày của các hãng thông tấn thế giới[78].

Các cuộc biểu tình Muharram[sửa | sửa mã nguồn]

Vào 2 tháng 12, trong tháng Hồi giáo Muharram, hơn hai triệu người đã tràn xuống các con phố của Quảng trường Azadi (sau này là Quảng trường Shahyad) tại Tehran để đòi Shah ra đi và đề nghị Khomeini quay về[79].

Thương vong[sửa | sửa mã nguồn]

Ayatollah Khomeini tuyên bố rằng "60.000 đàn ông, đàn bà và trẻ em đã tử vì đạo dưới chế độ của Shah"[80] và con số này xuất hiện trong Hiến pháp Cộng hòa Hồi giáo Iran[81]. Một thành viên của quốc hội Iran đã đưa ra con số "70.000 chiến sĩ tử đạo và 100.000 bị thương khi tiêu diệt chế độ độc tài thối nát"[80]. Gần đây, một cựu nghiên cứu viên tại Martyrs Foundation (Bonyad Shahid), Emad al-Din Baghi, ước lượng rằng thương vong của làn sóng chống Shah giữa những năm 1963 và 1979 chỉ vào khoảng 3.164, với 2.781 người bị giết trong những cuộc đụng độ từ 1978 tới 1979 giữa những người biểu tình và lực lượng quân sự và an ninh của Shah[80].

Thắng lợi của cuộc cách mạng và sự sụp đổ của chế độ quân chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đi của Shah[sửa | sửa mã nguồn]

Tuần hành qui mô lớn tại Tehran.

Vào ngày 16 tháng 1, 1979 Shah và hoàng tộc rời Iran theo lời đề nghị của thủ tướng, Tiến sĩ Shapour Bakhtiar, (Một người lãnh đạo đối lập từ lâu) với cảnh tượng vui sướng nổ ra và sự phá hủy "trong vòng vài giờ của gần như tất cả những dấu hiệu của triều đại Pahlaiv."[82] Bakhtiar giải tán SAVAK, giải phóng tù nhân chính trị, ra lệnh cho quân đội cho phép các cuộc tuần hành qui mô lớn, hứa bầu cử tự do và mời những người ủng hộ Khomeini và những người các mạng khác tham ra chính phủ của "quốc gia thông nhất".[83] Sau một vài ngày trì hoãn, ông cho phép Ayatollah Khomeini trở lại Iran, đề nghị ông ta rời bỏ quốc gia theo kiểu Vatican tại Qom và kêu gọi phe đối lập giúp bảo vệ hiến pháp.

Sự trở lại của Khomeini và sự sụp đổ của thể chế quân chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Ayatollah Khomeini trở về ngày mùng 1 tháng 2.

Vào 1 tháng 2, 1979, Ayatollah Khomeini trở lại Tehran với sự chào mừng nồng nhiệt của hàng triệu người Iran. Khomeini bay về Iran trên chiếc may bay Beoing 747 thuê của hãng hàng không Air France.[84] Không chỉ đơn giản là người lãnh đạo không thể phủ nhận của cuộc cách mạng,[85] ông giờ đây đã trở thành một nhân vật "bán thần", được chào đón khi ông ta xuống máy bay với những tiếng hét ‘Khomeini, O Imam, chúng tôi kính chào ông, phước lành cho ông.’[86] Đám đông lúc đó bắt đầu ngân nga "Đạo Hồi, Đạo Hồi, Khomeini, chúng tôi sẽ đi theo người," và thậm chí "Khomeini làm vua."[87]

Trong ngày ông ta trở về, Khomeini đã thể hiện sự chống đối mạnh mẽ với chính quyền của Bakhtar trong một bài phát biểu mà trong đó ông hứa:"I shall kick their teeth in.’ Ông bổ nhiệm Mehdi Bazargan làm thủ tướng lâm thời của mình vào mùng 4 tháng 2, "với sự ủng hộ của quốc gia" và đòi hỏi `vì tôi bổ nhiệm ông ta, ông ta phải tuân lệnh’. Ông ta cảnh cáo rằng đó là "chính phủ của Chúa" và sự bất tuân là một sự "phản chúa".[88] Sau khi phong trào của Khomeini có được động lực, quân đội bắt đầu ngả về phe ông. Vào ngày 9 tháng 2, khoảng 10 giờ đêm, một cuộc chạm trán nổ ra giữa lực lượng Cảnh vệ bất tử và những người Homafaran nổi dậy ủng hộ Khomeini của Không lực Iran. Khomeini tuyên là những chiến sĩ tử vì đạo trung thành đã không đầu hàng.[89] Những người cách mạng và binh lính nổi dậy đã có sự chủ động và bắt đầu chiếm các đồn cảnh sát và doanh trại quân đội, chia vũ khí cho quần chúng. Sự sụp đổ của chính phủ lâp thời không theo Đạo hồi diễn ra vào lúc 2 giờ chiều ngày 11 tháng 2 khi mà Tòa án Quân sự Tối cao tuyên bố "trung lập trong các tranh chấp chính trị hiện tại..nhằm gia tăng bất ổn và đổ máu."[90][91] Các đài phát thanh và truyền hình, cung điện của triều đại Pahlavi và các tòa nhà của chính phủ sau đó đều bị chiếm giữ bởi lực lượng cách mạng.

Giai đoạn này, từ mùng 1 đến 11 tháng 2, được biết đến như là "Tuyên bố của Fajr," và được kỉ niệm hàng năm ở Iran.[92][93] Ngày 11 tháng 2 là "Ngày thắng lợi của Cách mạng Hồi giáo", một quốc lễ với các cuộc tuần hành được nhà nước ủng hộ diễn ra tại tất cả các thị trấn và thành phố.[94][95]

Khomeini củng cố quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ tướng được Khomeini chỉ định, Mehdi Bazargan, ủng hộ việc thành lập một chính phủ lập pháp cải cách và dân chủ.[96] Hoạt động độc lập là Hội đồng Cách mạng thiết lập bởi Khomeini và những giáo sĩ ủng hộ ông, Cảnh vệ cách mạng, các tòa án cách mạng, và các thành phần cách mạng cấp địa phương trở thành các hội đồng địa phương (komitehs).[97] Trong khi phe ôn hòa của Bazargan và Chính phủ Cách mạng Lâm thời (tạm thời) trấn an tầng lớp trung lưu đã Tây hóa của Iran, nó rõ ràng chẳng có một chút quyền lực nào với các cơ quan cách mạng của nhưng người ủng hộ Khomeini, đặc biệt là Hội đồng Cách mạng và sau đó và Đảng Cách mạng Hồi giáo. Không thể tránh khỏi, sự chồng chéo quyền lực của Hội đồng Cách mạng (cơ quan có quyền thông qua luật) và Chính phủ Cách mạng trở thành nguồn cơn cho những xung đột,[98] dù thực tế là cả hai được ủng hộ và/hoặc dựng nên bởi Khomeini.

Vào tháng 6, Phong trào Độc lập công bố bản thảo hiến pháp; văn bản này nhắc tới Iran như là một nước cộng hòa hồi giáo và bao gồm một Hội đồng An ninh để phủ quyết các hoạt động lập pháp phi hồi giáo, không có một thẩm phán cầm quyền.[99] Bản hiện pháp sau đó được gửi tới Hội đồng Chuyên gia Hiến pháp mới được thành lập, nơi mà các đồng minh của Khomeini thống trị. Dù rằng ban đầu Khomeini tuyên bố rằng bản thảo hiến pháp là "đúng",[100][101] Khomeini (và hội đồng) thải hồi bản hiện pháp, và tuyên bố rằng chính phủ mới nên dựa "100% vào Đạo Hồi."

Một bản hiến pháp mới được tạo ra bởi Hội đồng Chuyên gia Hiến pháp tạo ra vị trí lãnh đạo tối cao đầy quyền lực cho Khomeini, [1] người lúc đó đang đứng đầu lực lượng quân sự và an ninh, cũng như chỉ định một số các quan chức chính phủ và tư pháp. Một tổng thống kém quyền lực hơn theo đó sẽ được bầu cử mỗi bốn năm. Một cơ quan trên lý thuyết khác, Hội đồng An ninh, được trao quyền phủ quyết các ứng cử viên tổng thống, nghị viện, và các cơ quan khác có tham gia việc bầu Lãnh đạo Tối cao cũng như các luật lệ thông qua bởi cơ quan lập pháp.

Các cơ quan của cuộc cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Cách mạng Hồi giáo Iran được lập nên bởi Khomeini để điều hành cuộc cách mạng một thời gian ngắn trước khi ông trở về Iran. Sự tồn tại của nó đã được giữ bí mật trước đó, thời điểm thiếu an oàn của cuộc cách mạng. Nó đã được miêu tả là "một chính phủ song song" đã phê chuẩn thuật và cạnh tranh với Chính phủ Cách mạng Lâm thời[102] cơ quan cũng được thiết lập bởi Khomeini. Hội đồng hoạt động như một chính phủ mà không cần bàn cãi của Iran từ lúc Bazargan từ chức tới lúc hình thành quốc hội đầu tiên. (6 tháng 11, 1979 - 12 tháng 8, 1980).[103]

Chính phủ Cách mạng Lâm thời[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ tướng Iran Mehdi Bazargan là một người ủng hộ dân chủ và dân quyền. Ông cũng chống lại Cách mạng Văn hóa và cuộc chiếm đóng Đại sứ quán Mỹ.

Chính phủ Cách mạng Lâm thời được thành lập sau sự phế bỏ chế độ quân chủ theo lệnh của Ayatollah Khomeini vào ngày 4 tháng 2, 1979, trong khi một chính phủ lâm thời khác của Shapour Bakhtiar (Thủ tướng cuối cùng của Shah) vẫn đang nắm quyền. Ayatollah Khomeini chỉ đạo người Iran tuân theo Bazargan như là một nghĩa vụ tôn giáo.

Như một người đàn ông mà, dù có được sự chở che [Velayat] từ người soạn luật thần thánh [nhà Tiên tri], Tôi theo quyền hạn của mình tuyên bố Bazargan là người lãnh đạo, và vì tôi đã chỉ định ông ta, ông ta phải tuân lời. Quốc gia phải phục tùng ông ý. Đây không phải là một chính phủ thông thường. Đây là một chính phủ dựa trên sharia. Chống lại chính phủ này nghĩa là chống lại sharia của Đạo hội... Nội dậy chống lại chính phủ của Thượng đế tức là nổi dậy chống lại Thượng đế. Chống lại Thượng đế tức là phỉ báng.[104][105]

Chỉnh phủ của ông chỉ tồn tại trong một vài tháng và tất cả các bộ trưởng đều từ chức sau khi các viên chức của Đại sứ quán Hoa Kỳ bị bắt làm con tin vào ngày 4 tháng 11, 1979. Bazargan đã là một người ủng hộ bản dự thảo hiến pháp cách mạng ban đầu hơn là người ủng hộ chính phủ thần giáo cai trị bởi các bồi thẩm Hồi giáo, và sự từ chức của ông đã được Khomeini chấp nhận một cách dễ dàng. Khomeini nói "Ngài Bazargan... đã hơi mệt mỏi và muốn ở ngoài [chính trường] một thời gian." Khomeini sau đó đã miêu tả việc bổ nhiệm Bazargan là một "sai lầm".[106] Chính phủ Cách mạng Lâm thời thường được miêu tả là cứng đầu với Hội đồng Cách mạng, và luôn trong xung đột với các cách mạng (komiteh).[107]

Các Ủy ban Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Komiteh hay các ủy ban "nảy nở ở khắp mọi nơi" như các tổ chức tự trị vào cuối năm 1978. Tổ chức tại các nhà thờ, trường học và công sở, các tổ chức này phát động mọi người, tổ chức các cuộc đình công và diễu hành, và sau đó là phát các hàng hóa khan hiếm. Sau ngày 12 tháng 2, hơn 300.000 khẩu súng trường và súng bán tự động được lấy từ các kho vũ khí của quân đội [108] và được các ủy ban này dùng để chiếm giữ tài sản và bắt giữ những người mà họ cho là phản cách mạng. Sau cách mạng, các ủy ban này "lớn hơn nhiều về số lượng, và kém qui củ hơn", và "có quyền lực lớn hơn rất nhiều."[108] Tại riêng Tehran đã có hơn 1500 ủy ban. Không thể tránh khỏi là đã có xung đột giữa những ủy ban này và và các cơ quan quyền lực khác, đặc biệt là Chỉnh phủ Lâm thời.[109]

Để thiết lập trật tự, Khomeini bổ nhiệm Ayatollah Mahdavi Kani chịu trách nhiệm về các ủy ban.[110] Komiteh cũng hoạt động như "tai mắt" của chế độ mới, và được những người chỉ trích nhắc đến với "các cuộc bắt giữ, hành quyết và tịch thu tài sản bừa bãi".[111] Vào mùa hè năm 1979, các ủy ban được lệnh xóa bỏ ảnh hưởng của các phong trào du kích cánh tả đã len lỏi vào trong tổ chức.[111]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Islamicaaaa Revolution, Iran Chamber.
  2. ^ Islamic Revolution of Iran, MS Encarta.
  3. ^ The Islamic Revolution, Internews.
  4. ^ Iranian Revolution.
  5. ^ Iran Profile, PDF.
  6. ^ The Shah and the Ayatollah: Iranian Mythology and Islamic Revolution (Hardcover), ISBN 0-275-97858-3, by Fereydoun Hoveyda, brother of Amir Abbas Hoveyda.
  7. ^ Encyclopædia Britannica.
  8. ^ Marvin Zonis quoted in Wright, Sacred Rage 1996, p.61
  9. ^ Nasr, Vali, The Shia Revival, Norton, (2006), p.121
  10. ^ The Iranian Revolution.
  11. ^ Ruhollah Khomeini, Encyclopedia Britannica.
  12. ^ Iran Islamic Republic, Encyclopedia Britannica.
  13. ^ Amuzegar, The Dynamics of the Iranian Revolution, (1991), p.4, 9-12
  14. ^ Arjomand, Turban (1988), p. 191.
  15. ^ Amuzegar, Jahangir, The Dynamics of the Iranian Revolution, SUNY Press, p.10
  16. ^ Harney, Priest (1998), p. 2.
  17. ^ Abrahamian Iran (1982), p. 496.
  18. ^ Đây là cách dịch của Nguyễn Trần Ai trong Vùng dầu sôi lửa bỏng, Kỳ XIII- NgD168.
  19. ^ Nguyên văn clearly an occurrence that had to be explained, Benard, "The Government of God" (1984), p. 18.
  20. ^ Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad, "As Soon as Iran Achieves Advanced Technologies, It Has the Capacity to Become an Invincible Global Power," 9/28/2006 Clip No. 1288.
  21. ^ Shirley, Know Thine Enemy (1997), pp. 98, 104, 195.
  22. ^ Akhbar Ganji talking to Afshin Molavi. Molavi, Afshin, The Soul of Iran, Norton paperback, (2005), p.156.
  23. ^ Brumberg, Reinventing Khomeini (2001).
  24. ^ Shirley, Know Thine Enemy (1997), p. 207.
  25. ^ Mackay, Iranians (1998), pp. 236, 260.
  26. ^ Harney, The Priest (1998), pp. 37, 47, 67, 128, 155, 167.
  27. ^ Graham, Iran (1980), pp. 19, 96.
  28. ^ Graham, Iran (1980) p. 228.
  29. ^ Arjomand, Turban (1998), pp. 189–90.
  30. ^ Taheri, The Spirit of Allah (1985), p. 238.
  31. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 178.
  32. ^ Hoveyda Shah (2003) p. 22.
  33. ^ Abrahamian, Iran (1982), pp. 533–4.
  34. ^ Schirazi, The Constitution of Iran (1997), pp. 293–4.
  35. ^ http://www.worldstatesmen.org/Iran_const_1906.doc
  36. ^ Rajaee, Farhang, Islamic Values and World View: Farhang Khomeyni on Man, the State and International Politics, Volume XIII (PDF), University Press of America. ISBN 0-8191-3578-X
  37. ^ a ă Kapuściński, Ryszard. Shah of Shahs. Translated from Polish by William R. Brand and Katarzyna Mroczkowska-Brand. New York: Vintage International, 1992.
  38. ^ Nehzat by Ruhani vol. 1 p. 195, quoted in Moin, Khomeini (2000), p. 75.
  39. ^ Islam and Revolution, p. 17.
  40. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 112.
  41. ^ Graham, Iran 1980, p. 69.
  42. ^ Mackay, Iranians (1996) pp. 215, 264–5.
  43. ^ Taheri, The Spirit of Allah (1985), p. 196.
  44. ^ Graham, Iran (1980), p. 213.
  45. ^ Hiro, Dilip. Iran Under the Ayatollahs. London: Routledge & Kegan Paul. 1985. p. 57.
  46. ^ Wright, Last (2000), p. 220.
  47. ^ Graham, Iran (1980) p. 94.
  48. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 174.
  49. ^ Graham, Iran (1980), p. 96.
  50. ^ Abrahamian, Iran (1982), p. 444.
  51. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 163.
  52. ^ Graham, Iran (1980), p. 226.
  53. ^ Abrahamian, Iran (1982), pp. 501–3.
  54. ^ Moin, Khomeini (2000), pp. 183–4.
  55. ^ Moin, Khomeini (2000), pp. 184–5.
  56. ^ Taheri, Spirit (1985), pp. 182–3.
  57. ^ "Ideology, Culture, and Ambiguity: The Revolutionary Process in Iran", Theory and Society, Vol. 25, No. 3 (Jun., 1996), pp. 349–88.
  58. ^ Moin, Khomeini (2000), p.80
  59. ^ Abrahamian, Iran Between (1980), pp. 502–3.
  60. ^ Mackay, Iranians (1996), p. 276.
  61. ^ Abrahamian, Iran Between (1980), pp. 478–9
  62. ^ Abrahamian, Iran (1982), p. 505.
  63. ^ Mackey, Iranians (1996) p. 279.
  64. ^ Harney, The Priest (1998), p. 14.
  65. ^ Abrahamian, Iran (1982), pp. 510, 512, 513.
  66. ^ Abrahamian, Iran (1982), p. 498–9.
  67. ^ a ă Keddie, Modern Iran (2003), p. 235.
  68. ^ Keddie, Modern Iran (2003), pp. 235–6.
  69. ^ Shawcross, The Shah's Last Ride (1988), p. 21.
  70. ^ Amuzegar, Jahangir, Dynamics of Iranian Revolution: The Pahlavis' Triumph and Tragedy SUNY Press, (1991) p.4, 21, 87
  71. ^ Taheri, Spirit (1985) p. 220.
  72. ^ Trong một cuốn sách gần đây của Hossein Boroojerdi, có tên "Islamic Revolution and its roots", ông nói rằng Rạp Rex bị đốt cháy bằng vũ khí hóa học do nhóm của ông cung cấp dưới sự giám sá của "Hey'at-haye Mo'talefe (هیأتهای مؤتلفه)", một đồng minh có ảnh hưởng của các nhóm tín ngưỡng, và là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho Ayatollah Khomeini.
  73. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 187.
  74. ^ W. Branigin, ‘Abadan Mood Turns Sharply against the Shah,’ Washington Post, 26, tháng 8 năm 1978
  75. ^ Taheri, The Spirit of Allah (1985), p. 223.
  76. ^ Ayatollah Shariatmadari, quoted in Taheri, Spirit (1985), p. 309.
  77. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 189.
  78. ^ History of Iran: Ayatollah Khomeini
  79. ^ Abrahamian, Iran: Between Two Revolutions (1982), pp. 521–2.
  80. ^ a ă â A Question of Numbers Web: IranianVoice.org 08 tháng 8 năm 2003 Rouzegar-Now Cyrus Kadivar
  81. ^ Hiến pháp Cộng hòa Hồi giáo Iran. CÁI GIÁ QUỐC GIA ĐÃ TRẢ
  82. ^ Taheri, Spirit (1985), p. 240.
  83. ^ "Demonstrations allowed", ABC Evening News for Monday, 15 tháng 1 năm 1979.
  84. ^ The Khomeini Era Begins - TIME
  85. ^ Taheri, Spirit (1985), p. 146.
  86. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 200.
  87. ^ What Are the Iranians Dreaming About? by Michel Foucault, Chicago: University Press.
  88. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 204.
  89. ^ Moin, Khomeini (2000), pp. 205–6.
  90. ^ Moin, Khomeini (2000), p. 206.
  91. ^ Abrahamian, Iran (1982), p. 529.
  92. ^ Adnki.
  93. ^ Iran 20th, 1999-01-31, CNN World.
  94. ^ RFERL.
  95. ^ Iran Anniversary, 2004-02-11, CBC World.
  96. ^ Moin, Khomeini, 2000, p. 203
  97. ^ Keddie, Modern Iran (2003), pp. 241–2.
  98. ^ Keddie, Modern Iran (2003) p.245
  99. ^ Moin, Khomeini, 2000, p. 217.
  100. ^ Schirazi, The Constitution of Iran, 1997, p. 22–3.
  101. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Gems
  102. ^ Keddie, Modern Iran, (2003) p.245
  103. ^ Iran, World Statesmen.
  104. ^ Khomeini, Sahifeh-ye Nur, vol.5, p.31, translated by Baqer Moin in Khomeini (2000), p.204
  105. ^ چرا و چگونه بازرگان به نخست وزیری رسید؟ The commandment of Ayatollah Khomeini for Bazargan and his sermon on February 5.
  106. ^ Moin, Khomeini,(2000), p.222
  107. ^ Arjomand, Turban for the Crown, (1988) p.135)
  108. ^ a ă Bakhash, Reign of the Ayatollahs, (1984), p.56
  109. ^ Bakhash, Reign of the Ayatollahs, (1984), p.57
  110. ^ Arjomand, Turban for the Crown (1988) p.135
  111. ^ a ă Moin, Khomeini (2000) p.211

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Amuzgar, Jahangir (1991). The Dynamics of the Iranian Revolution: The Pahlavis' Triumph and Tragedy: 31. SUNY Press. 
  • Arjomand, Said Amir (1988). Turban for the Crown: The Islamic Revolution in Iran. Oxford University Press. 
  • Abrahamian, Ervand (1982). Iran between two revolutions. Princeton University Press. 
  • Bakhash, Shaul (1984). Reign of the Ayatollahs. Basic Books,. 
  • Benard, Cheryl and Khalilzad, Zalmay (1984). "The Government of God" — Iran's Islamic Republic. Columbia University Press. 
  • Graham, Robert (1980). Iran, the Illusion of Power. St. Martin's Press. 
  • Harney, Desmond (1998). The priest and the king: an eyewitness account of the Iranian revolution. I.B. Tauris. 
  • Harris, David (2004). The Crisis: the President, the Prophet, and the Shah — 1979 and the Coming of Militant Islam. Little, Brown. 
  • Hoveyda, Fereydoun (2003). The Shah and the Ayatollah: Iranian mythology and Islamic revolution. Praeger. 
  • Kapuscinski, Ryszard (1985). Shah of Shahs. Harcourt Brace, Jovanovich. 
  • Keddie, Nikki (2003). Modern Iran: Roots and Results of Revolution. Yale University Press. 
  • Kepel, Gilles (2002). The Trail of Political Islam. Harvard University Press. 
  • Mackey, Sandra (1996). The Iranians: Persia, Islam and the Soul of a Nation. Dutton. 
  • Miller, Judith (1996). God Has Ninety Nine Names. Simon & Schuster. 
  • Moin, Baqer (2000). Khomeini: Life of the Ayatollah. Thomas Dunne Books. 
  • Roy, Olivier (1994). The Failure of Political Islam. Harvard University Press.  Đã bỏ qua văn bản “ translated by Carol Volk ” (trợ giúp)
  • Ruthven, Malise (2000). Islam in the World. Oxford University Press. 
  • Schirazi, Asghar (1997). The Constitution of Iran. Tauris. 
  • Shirley, Edward (1997). Know Thine Enemy. Farra. 
  • Taheri, Amir (1985). The Spirit of Allah. Adler & Adler. 
  • Wright, Robin (2000). The Last Great Revolution: Turmoil And Transformation In Iran. Alfred A. Knopf: Distributed by Random House. 
  • Zabih, Sepehr (1982). Iran Since the Revolution. Johns Hopkins Press. 
  • Zanganeh, Lila Azam (editor) (2006). My Sister, Guard Your Veil, My Brother, Guard Your Eyes: Uncensored Iranian Voices. Beacon Press.