Cách mạng Cuba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cách mạng Cuba
CheyFidel.jpg
.
Thời gian 26 tháng 7 năm 1953 – 1 tháng 1 năm 1959
Địa điểm Cuba
Kết quả Phong trào 26 tháng 7 giành thắng lợi
Tham chiến
M-26-7.svg Phong trào 26 tháng 7 Cuba Cộng hòa Cuba
Ủng hộ:
 United States (cho đến 1958)
Chỉ huy
M-26-7.svg Fidel Castro
M-26-7.svg Che Guevara
M-26-7.svg Raúl Castro
M-26-7.svg Frank País
M-26-7.svg Camilo Cienfuegos
M-26-7.svg Juan Almeida Bosque
M-26-7.svg Abel Santamaría
M-26-7.svg Eloy Gutierrez Menoyo
M-26-7.svg Rene Ramos Latour
M-26-7.svg Rolando Cubela
M-26-7.svg Humberto Sori Marin
Cuba Fulgencio Batista
Cuba Eulogio Cantillo
Cuba Jose Quevedo
Cuba Alberto del Rio Chaviano
Cuba Joaquin Casillas
Cuba Cornelio Rojas
Cuba Fernandez Suero
Cuba Candido Hernandez
Cuba Alfredo Abon Lee
Cuba Alberto del Rio Chaviano
Tổn thất
15.000 thiệt mạng[1][2][3]
.

Cách mạng Cuba (1953–1959) là một cuộc nổi dậy vũ trang do Phong trào 26 tháng 7 của Fidel Castro và các đồng minh của họ tiến hành nhằm chống lại chính phủ của Tổng thống Cuba Fulgencio Batista. Cách mạng bắt đầu vào tháng 7 năm 1953,[4] và cuối cùng lật đổ Batista vào ngày 1 tháng 1 năm 1959, lập nên chính phủ xã hội chủ nghĩa cách mạng. Tổ chức phong trào sau đó cải tổ theo đường lối cộng sản, và trở thành Đảng Cộng sản vào tháng 10 năm 1965.[5]

Cách mạng Cuba[6] có tác động lớn trong phạm vi quốc nội và quốc tế; đặc biệt, nó tái định hình quan hệ của Cuba với Hoa Kỳ, Hoa Kỳ duy trì cấm vận chống Cuba.[7] Hậu quả trực tiếp của cách mạng là chính phủ của Fidel Castro bắt đầu một chương trình quốc hữu hóa và củng cố chính trị làm biến đổi kinh tế và xã hội dân sự của Cuba.[8][9] Cách mạng cũng khởi đầu một thời kỳ mà Cauba can thiệp vào các xung đột quân sự tại ngoại quốc, trong đó có Nội chiến Angola và Cách mạng Nicaragua.[8]

Bối cảnh và nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Fulgencio Batista là tổng thống tuyển cử của Cuba từ 1940 đến 1944, ông đoạt quyền trong một cuộc chính biến quân sự và đình chỉ tuyển cử năm 1952, và bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống thứ nhì của mình vào tháng 3 năm 1952.[10] Mặc dù Batista là một người tương đối cấp tiến trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của mình,[11] song trong thập niên 1950 ông tỏ ra độc tài hơn nhiều và bàng quang trước những lo lắng của dân chúng.[12] Trong khi Cuba vẫn còn khó khăn do tỷ lệ thất nghiệp vao và hạn chế về cơ sở hạ tầng nước,[13] Batista khiến dân chúng phản đối lji thiết lập các mối quan hệ có lợi với tội phạm có tổ chức và cho phép các công ty Hoa Kỳ chi phối kinh tế Cuba.[13][14][15]

Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của mình, Batista được Đảng Cộng sản Cuba ủng hộ,[11] song trong nhiệm kỳ tổng thống thứ nhì ông trở nên chống cộng mãnh liệt, thu được sự ủng hộ chính trị và viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ.[13][16] Batista phát triển một cơ sở an ninh có quyền lực lớn để trấn áp các đối thủ chính trị, Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy mô tả chính phủ Cuba là một "quốc gia cảnh sát toàn trị" vào năm 1960.[13] Trong những tháng sau cuộc đảo chính tháng 3 năm 1952, một luật sư và nhà hoạt động chính trị trẻ tuổi là Fidel Castro kiến nghị lật đổ Batista với cáo buộc tham nhũng và chuyên chế. Tuy nhiên, những tranh luận theo hiến pháp của Fidel Castro bị tòa án Cuba bác bỏ.[17] Sau khi quyết định rằng không thể lật đổ chính phủ Cuba thông qua những phương thức pháp lý, Fidel Castro quyết định phát động một cách mạng vũ trang. Nhằm mục đích này, Fidel Castro cùng em trai là Raúl thành lập một tổ chức bán quân sự gọi là "Phong trào", tàng trữ vũ khí và tuyển mộ khoảng 1.200 người theo từ tầng lớp lao động bất mãn tại La Habana cho đến cuối năm 1952.[18]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Fidel Castro và Raúl Castro tập hợp 123 chiến binh Phong trào và lập kế hoạch về một cuộc tấn công vào các căn cứ quân sự.[19] Ngày 26 tháng 7 năm 1953, phiến quân thất bại khi tấn công Doanh trại Moncada tại Santiago và các doanh trại tại Bayamo.[4] Có tranh luận về số liệu chính xác về số phiến quân thiệt mạng trong giao tranh; tuy nhiên, trong tự truyện của mình, Fidel Castro tuyên bố rằng có 9 người thiệt mạng trong giao tranh, và thêm 56 người bị giết sau khi bị chính phủ Batista bắt giữ.[20] Trong số những người thiệt mạng có Abel Santamaría, phó tư lệnh của Fidel Castro, nhân vật này bị hành hình cũng trong ngày 26 tháng 7.[21]

Nhiều người, trong đó có Fidel và Raúl Castro, bị bắt ngay sau đó. Trong một phiên tòa mang tính chính trị cao độ, Fidel Castro nói gần bốn tiếng nhằm bào chữa cho mình, kết thúc bằng câu "Kết án tôi không phải là vấn đề. Lịch sử sẽ giải oan cho tôi." Fidel Castro bị kết án 15 năm trong trại giam Presidio Modelo, nằm trên đảo Thông, trong khi Raúl Castro bị kết án 13 năm.[22] Tuy nhiên, đến năm 1955, trước các áp lực chính trị, chính phủ Batista phóng thích toàn bộ tù nhân chính trị tại Cuba, trong đó có những người tấn công doanh trại Moncada. Giáo viên dòng Tên thời thiếu niên của Fidel Castro thành công trong việc thuyết phục Batista phóng thích cả Fidel và Raúl.[23]

Ngay sau đó, anh em nhà Castro kết giao với những người lưu vong khác tại Mexico nhằm chuẩn bị cho việc lật đổ Batista, tiếp nhận huấn luyện từ Alberto Bayo- một lãnh đạo của phe Cộng hòa trong Nội chiến Tây Ban Nha. Trong tháng 6 năm 1955, Fidel Castro gặp nhà cách mạng người Argentina Ernesto "Che" Guevara, Guevara tham gia đại nghiệp của Fidel Castro.[24] Những nhà cách mạng tự định danh là "Phong trào 26 tháng 7", nhằm ám chỉ ngày họ tấn công doanh trại Moncada vào năm 1953.

Chiến tranh du kích[sửa | sửa mã nguồn]

"Tôi tin tưởng rằng không quốc gia nào trên thế giới, kể cả các quốc gia còn đang nằm trong vòng thuộc địa, phải chịu sự thuộc địa hóa nền kinh tế, sự hổ nhục và bóc lột tệ hại hơn Cuba, phần nào do chính sách của chúng ta trong thời chế độ Batista. Tôi ủng hộ tuyên cáo của Fidel Castro tại Sierra Maestra, khi ông kêu gọi một cách chính đáng, và đặc biệt thống thiết, giải thoát Cuba khỏi sự thối nát. Tôi còn muốn đi xa hơn nữa: trong một chừng mực nào đó, Batista là hiện thân của một số tội lỗi về phía Hoa Kỳ. Giờ đây chúng ta phải trả giá cho những tội lỗi đó. Về phía chính quyền Batista, tôi tán đồng cách mạng Cuba đầu tiên. Một cách rõ ràng."

Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, trả lời phỏng vấn Jean Daniel, 24 -10 -1963[25]

Thuyền buồm Granma đến Cuba vào ngày 2 tháng 12 năm 1956, chở theo anh em nhà Castro và 80 người khác thuộc Phong trào 26 tháng 7. Họ đổ bộ tại Playa Las Coloradas, thuộc đô thị Niquero, đến chậm hai ngày so với kế hoạch do thuyền chở nặng, không giống như khi chạy thử.[26] Điều này khiến cho hy vọng phối hợp tấn công với cánh llano của phong trào bị thất bại. Sau khi đến và rời khỏi tàu, nhóm phiến quân bắt đầu lập kế hoạch tiến vào dãy núi Sierra Maestra tại miền đông nam Cuba. Ba ngày sau khi cuộc hành quân bắt đầu, quân của Batista tấn công và sát hại hầu hết những người từng đi trên Granma  – dù con số tử vong chính xác còn có tranh nghị, song có không hơn 20 trong số 82 người ban đầu còn sống sau cuộc chạm trán ban đầu với quân đội Cuba và thoát được đến dãy Sierra Maestra.[27]

Nhóm những người sống sót gồm có Fidel Castro và Raúl Castro, Che Guevara và Camilo Cienfuegos. Họ phân tán, một mình hoặc trong các nhóm nhỏ, lang thang qua các núi, tìm kiếm lẫn nhau. Cuối cùng, họ lại liên kết lại được với sự trợ giúp của những cảm tình viên nông dân, và sau đó thành lập tập thể lãnh đạo đầu não của quân du kích. Celia Sanchez và Haydée Santamaría (chị của Abel Santamaria) nằm trong số những nhà cách mạng là nữ giới đã hỗ trợ cho Fidel Castro trong núi.[28]

Ngày 13 tháng 3 năm 1957, một nhóm cách mạng riêng biệt là Hội Đổng sự Cách mạng sinh viên (Directorio Revolucionario Estudantil) có tư tưởng chống cộng và hầu hết thành viên là sinh viên tiến hành tấn công Dinh Tổng thống tại La Habana, nỗ lực nhằm ám sát Batista và diệt trừ chính phủ. Cuộc tấn công kết thúc với thất bại hoàn toàn, lãnh đạo của tổ chức là José Antonio Echeverría thiệt mạng trong lúc đấu súng với lực lượng của Batista tại đài phát thanh của La Habana. Một nhóm những người sống sót gồm Humberto Castello, Rolando Cubela và Faure Chomon.[29]

Sau đó, Hoa Kỳ áp đặt cấm vận đối với chính phủ Cuba và triệu hồi đại sứ của mình, làm suy yếu chính phủ hơn nữa.[30] Sự ủng hộ của dân chúng Cuba đối với Batista bắt đầu mất dần, khi những người ủng hộ cũ hoặc gia nhập cách mạng hoặc là tách biệt với Batista. Tuy thế, Mafia và giới doanh nhân Hoa Kỳ duy trì sự ủng hộ của họ.[31]

Chính phủ phải thường xuyên dựa vào những phương pháp tàn bạo để duy trì quyền kiểm soát của chính phủ tại các thành thị của Cuba. Tuy nhiên, trong dãy Sierra Maestra, Fidel Castro với trợ giúp của Frank País, Ramos Latour, Huber Matos, và nhiều người khác, đã tổ chức thành công các cuộc tấn công vào những đồn nhỏ của quân Batista. Che Guevara và Raúl Castro trợ giúp Fidel Castro nhằm thống nhất quyền kiểm soát chính trị của ông trong dãy núi, thường là thông qua hành hình những nhân vật bị nghi ngờ là trung thành với Batista và những đối thủ khác của Castro.[32] Thêm vào đó, lực lượng dân quân gọi là escopeteros cũng quấy phá quân Batista tại những vùng chân núi và đồng bằng thuộc tỉnh Oriente. Lực lượng escopeteros cũng trực tiếp hỗ trợ quân sự cho quân chủ lực của Castro bằng cách bảo vệ đường tiếp tế và chia sẻ thông tin.[33] Kết quả là dãy núi này cuối cùng rơi vào tay lực lượng của Castro.

Raúl Castro (trái), cùng với Ernesto "Che" Guevara, tại thành trì của họ là núi Sierra de Cristal tại tỉnh Oriente, Cuba, năm 1958.

Ngoài việc đấu tranh vũ trang, phiến quân còn sử dụng biện pháp tuyên truyền để nâng cao uy thế của họ. Một đài phát thanh bí mật, gọi là Radio Rebelde (Đài Phát thanh phiến quân) được thiết lập tháng 2 năm 1958, cho phép Fidel Castro và lực lượng của ông phát các thông điệp của họ ra toàn quốc.[34] Các buổi phát thanh này có lẽ do một người quen cũ của Castro là Carlos Franqui tiến hành, người này cuối cùng lưu vong tại Puerto Rico.[35]

Trong suốt thời gian này, lực lượng của Fidel Castro còn rất nhỏ, có lúc không đầy 200 người, trong khi lực lượng quân đội và cảnh sát Cuba có từ 30.000 tới 40.000 người.[36] Tuy vậy, gần như mỗi khi quân Cuba giao tranh với phiến quân, họ đều phải tháo lui. Lệnh cấm vận vũ khí do Hoa Kỳ áp chế với chính phủ Cuba vào ngày 14 tháng 3 1958 góp phần làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng Batista. Không quân Cuba nhanh chóng trở nên rệu rã, họ không có khả năng sửa chữa máy bay một khi không thể nhập phụ tùng từ Hoa Kỳ nữa.[37]

Batista cuối cùng phải mở một chiến dịch tấn công lớn vào dãy núi mang tên Chiến dịch Verano, còn phe phiến quân gọi là la Ofensiva. Quân chính phủ được đưa đến gồm 12.000 binh sĩ, trong số đó phân nửa gồm tân binh chưa được huấn luyện. Trong một loạt các cuộc chạm trán, lực lượng du kích đầy quyết tâm của Fidel Castro đánh bại quân chính phủ.[37] Trong trận La Plata, kéo dài từ 11 tháng 7 tới 21 tháng 7 năm 1958, quân của Fidel Castro đánh bại cả một tiểu đoàn quân chính phủ gồm 500 người, bắt được 240 tù binh, trong khi chỉ mất 3 người.[38] Tuy nhiên, thế trận đảo ngược vào ngày 29 tháng 7 năm 1958, khi quân Batista tiêu diệt gần hết lực lượng nhỏ chỉ gồm 300 người của Castro trong trận Las Mercedes. Với việc lực lượng cách mạng bị khống chế bởi lực lượng đối phương đông áp đảo, Fidel Castro phải đề nghị ngưng bắn tạm thời và được chấp thuận, đình chiến tạm thời bắt đầu vào ngày 1 tháng 8. Trong suốt bảy ngày tiếp đó, khi các cuộc thương thuyết vẫn tiếp diễn mà không mang lại kết quả gì, quân của Castro dần tẩu thoát khỏi vòng vây. Tới ngày 8 tháng 8, toàn bộ lực lượng của Castro đã trốn được vào dãy núi, và như vậy trên thực tế chiến dịch Verano là thất bại đối với chính phủ Batista.[37]

Tấn công cuối cùng và phiến quân thắng lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 8 năm 1958, sau khi đánh bại chiến dịch Ofensiva của Batista, lực lượng của Castro bắt đầu thế tấn công. Trong tỉnh Oriente, Fidel Castro, Raúl Castro và Juan Almeida Bosque chỉ huy tấn công trên bốn mặt trận. Xuống núi với những vũ khí mới lấy được trong chiến dịch Ofensiva và nhờ nhập lậu bằng máy bay, lực lượng của Fidel Castro giành một loại thắng lợi ban đầu. Đại thắng của Fidel Castro tại Guisa, và chiếm được một số thị trấn bao gồm Maffo, Contramaestre, và Central Oriente, nắm quyền kiểm soát đồng bằng Cauto. Cùng lúc đó, ba cánh quân nổi dậy dưới quyền Che Guevara, Camilo Cienfuegos và Jaime Vega, tây tiến về Santa Clara, thủ phủ tỉnh Villa Clara. Lực lượng Batista phục kích và tiêu diệt cánh quân của Jaime Vega, nhưng hai cánh quân còn lại đến được các các tỉnh trung tâm, và hợp lực với các lực lượng kháng chiến khác vốn không nằm dưới sự chỉ huy của Fidel Castro. Khi cánh quân của Che Guevara tiến qua tỉnh Las Villas, và đặc biệt là qua dãy núi Escambray – nơi lực lượng chống cộng Hội đổng sự Cách mạng (được biết đến với tên gọi Phong trào 13 tháng 3) tiến hành chiến tranh chống lại quân Batista trong suốt nhiều tháng – va chạm tăng lên giữa hai phe. Dù vậy, lực lượng nổi dậy hợp nhất vẫn tiếp tục chiến dịch, và Cienfuegos giành được một chiến thắng quan trọng trong trận Yaguajay ngày 30 tháng 12 năm 1958, khiến ông được mệnh danh "Người hùng Yaguajay".

Bản đồ thể hiện việc phiến quân hành quân tại Cuba.

Ngày 31 tháng 12 năm 1958, trận Santa Clara diễn tra trong cảnh đại loạn, thành phố Santa Clara thất thủ trước phiến quân hợp nhất của Che Guevara, Cienfuegos, phiến quân Hội đổng sự Cách mạng (RD) dưới quyền Comandantes Rolando Cubela, Juan ("El Mejicano") Abrahantes, và William Alexander Morgan. Tin tức về những thất bại này khiến cho Batista hoảng sợ, ông tẩu thoát đến Cộng hòa Diminica chỉ vài giờ sau đó trong ngày 1 tháng 1 năm 1959. Chỉ huy phiến quân Hội đổng sự Cách mạng là Comandante William Alexander Morgan tiếp tục chiến đấu khi Batista đã rời đi, và chiếm được thành phố Cienfuegos vào ngày 2 tháng 1.[39]

Castro biết tin về chuyến bay của Batista vào buổi sáng và ngay lập tức bắt đầu đàm phán để tiếp quản Santiago de Cuba. Ngày 2 tháng 1, sĩ quan tại thành phố là Đại tá Rubido lệnh cho các binh sĩ của ông ngừng chiến đấu, và quân của Fidel Castro tiếp quản thành phố. Quân của Guevara và Cienfuegos tiến vào La Habana khoảng đồng thời. Họ không gặp kháng cự trên hành trình từ Santa Clara đến thủ đô của Cuba. Fidel Castro đến La Habana vào ngày 8 tháng 1 sau một cuộc diễn hành thắng lợi kéo dài. Ông ban đầu lựa chọn Manuel Urrutia Lleó làm chủ tịch, người này nhậm thức vào ngày 3 tháng 1.[40]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng trăm tay sai, cảnh sát và binh sĩ thời Batista bị đưa ra các phiên tòa công khai với các cáo buộc vi phạm nhân quyền, tội ác chiến tranh, sát nhân và tra tấn. Hầu hết những bị cáo bị những tòa án cách mạng kết án, và bị hành quyết bằng cách xử bắn; những người khác nhận án tù dài hạn. Một ví dụ đáng chú ý là sau khi chiếm Santiago, Raul Castro chỉ đạo hành quyết hơn 70 tù binh chiến tranh Batista.[41] Do đóng góp trong việc chiếm La Habana, Che Guevara được bổ nhiệm làm công tố viên tối cao tại pháo đài La Cabaña. Điều này nằm trong một nỗ lực lớn hơn của Fidel Castro nhằm thanh lọc lực lượng an ninh những người trung thành với Batista và các đối thủ tiềm tàng của chính phủ cách mạng mới. Mặc dù nhiều người bị hành hình hoặc giam cầm, song những người khác chỉ bị sa thải khỏi quân đội và cảnh sát mà không bị truy tố, và một số quan chức cấp cao trong chính phủ Batista bị đày ải với thân phận là tùy viên quân sự.[41]

Trong tháng 7 năm 1961, Tổ chức Cách mạng Tích hợp được thành lập bằng việc hợp nhất Phong trào 26 tháng 7 của Fidel Castro, Đảng Xã hội chủ nghĩa Nhân dân của Blas Roca, và Hội đổng sự Cách mạng ngày 13 tháng 3 của Faure Chomón.[42]

Trong thập niên đầu tiên nắm quyền, chính phủ Fidel Castro tiến hành các cải cách xã hội cấp tiến trên quy mô rộng. Pháp luật được ban hành nhằm cung cấp quyền bình đẳng cho người da đen và quyền lớn hơn cho nữ giới, trong khi có những nỗ lực nhằm cải thiện thông tin, y tế, nhà ở, và giáo dục.[43]

Năm 1959, Fidel Castro công du Hoa Kỳ và giải thích về cách mạng, ông nói, "Tôi biết rằng thế giới nghĩ gì về chúng tôi, rằng chúng tôi là Cộng sản, và tất nhiên chúng tôi đã giải thích rất rõ ràng rằng chúng tôi không phải là cộng sản; rất rõ ràng."[44] Chính phủ Hoa Kỳ mặc dù ban đầu sẵn sàng công nhận chính phủ mới của Fidel Castro,[45] song sau đó trở nên lo ngại rằng các cuộc nổi dậy cộng sản lan khắp Mỹ Latinh giống như đang diễn ra tại Đông Nam Á.[46] Sau khi chính phủ cách mạng quốc hữu hóa toàn bộ tài sản của Hoa Kỳ tại Cuba trong tháng 8 năm 1960, chính phủ của Eisenhower đóng băng toàn bộ tài sản của Cuba trên lãnh thổ Hoa Kỳ, đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao,[9] và siết chặt cấm vận chống Cuba.[7][47]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jacob Bercovitch and Richard Jackson (1997). International Conflict: A Chronological Encyclopedia of Conflicts and Their Management, 1945-1995. Congressional Quarterly.
  2. ^ Singer, Joel David and Small, Melvin (1974). The Wages of War, 1816-1965. Inter-University Consortium for Political Research.
  3. ^ Eckhardt, William, in Sivard, Ruth Leger (1987). World Military and Social Expenditures, 1987-88 (12th edition). World Priorities.
  4. ^ a ă Faria, Miguel A. "Fidel Castro and the 26th of July Movement". NewsMax.com. 27 July 2004. Truy cập 10 tháng 7 năm 2013.
  5. ^ "Cuba Marks 50 Years Since 'Triumphant Revolution'". Jason Beaubien. NPR. 1 tháng 1 năm 2009. Truy cập 9 tháng 7 năm 2013.
  6. ^ Lazo, Mario (1970). American Policy Failures in Cuba – Dagger in the Heart. Twin Circle Publishing Co.: New York. pp. 198–200, 204. Library of Congress Card Catalog Number: 68-31632.
  7. ^ a ă “Cuba receives first US shipment in 50 years”. Al Jazeera. 14 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 
  8. ^ a ă “Makers of the Twentieth Century: Castro”. History Today. 1981. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  9. ^ a ă Gary B. Nash, Julie Roy Jeffrey, John R. Howe, Peter J. Frederick, Allen F. Davis, Allan M. Winkler, Charlene Mires and Carla Gardina Pestana. The American People, Concise Edition: Creating a Nation and a Society, Combined Volume (6th edition, 2007). New York: Longman.
  10. ^ “From the archive, 11 March 1952: Batista's revolution”. The Guardian. 11 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013. 
  11. ^ a ă Julia E. Sweig (2004). Inside the Cuban Revolution. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press. ISBN 978-0-674-01612-5. 
  12. ^ Arthur Meier Schlesinger (1973). The Dynamics of World Power: A Documentary History of the United States Foreign Policy 1945-1973. McGraw-Hill. ISBN 0070797293. p. 512.
  13. ^ a ă â b "Remarks of Senator John F. Kennedy at Democratic Dinner, Cincinnati, Ohio, October 6, 1960". John F. Kennedy Presidential Library. Truy cập 29 tháng 6 năm 2013.
  14. ^ "Fulgencio Batista". HistoryOfCuba.com. Retrieved 29 June 2013.
  15. ^ Díaz-Briquets, Sergio & Pérez-López, Jorge F. (2006). Corruption in Cuba: Castro and beyond. University of Texas Press. tr. 77. ISBN 978-0-292-71482-3. 
  16. ^ James Stuart Olson (2000). Historical Dictionary of the 1950s. Greenwood Publishing Group. ISBN 0-313-30619-2. pp. 67–68.
  17. ^ “Biography of Fidel Castro”. About.com. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013. 
  18. ^ Bourne, Peter G. (1986). Fidel: A Biography of Fidel Castro. New York City: Dodd, Mead & Company. tr. 68–69. ISBN 978-0396085188. 
  19. ^ “Historical sites: Moncada Army Barracks”. CubaTravelInfo. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  20. ^ Ramonet, Ignacio, ibid, p. 133
  21. ^ Ramonet, Ignacio, ibid, p. 672
  22. ^ “CHRONICLE OF AN UNFORGETTABLE AGONY: CUBA'S POLITICAL PRISONS”. Contacto Magazine. Tháng 9 năm 1996. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  23. ^ Ramonet, Ignacio, ibid, p. 174
  24. ^ Ramonet, Ignacio, ibid, p. 174
  25. ^ Spartacus Educational entry for Jean Daniel
  26. ^ Ramonet, Ignacio, ibid, p. 182
  27. ^ Thomas, Hugh (1998). Cuba or The Pursuit of Freedom (Updated Edition). New York: Da Capo Press. ISBN 0-306-80827-7. 
  28. ^ “Opiniones: Haydee Santamaría, una mujer revolucionaria” (bằng tiếng Tây Ban Nha). La Ventana. 2 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013. 
  29. ^ Faria, Cuba in Revolution, 2002, Notes pp.40–41
  30. ^ Louis A. Pérez. Cuba and the United States. 
  31. ^ English, T.J. (2008). Havana nocturne: how the mob owned Cuba – and then lost It to the revolution.
  32. ^ “The Killing Machine: Che Guevara, from Communist Firebrand to Capitalist Brand”. Independent.org. 11 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2012. “Guevara murdered or oversaw the executions in summary trials of scores of people—proven enemies, suspected enemies, and those who happened to be in the wrong place at the wrong time.” 
  33. ^ Dewitt, Don A. (2011). U.S. Marines at Guantanamo Bay, Cuba. iUniverse via Google Books. tr. 31. 
  34. ^ “About Us”. Radio Rebelde. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2013. 
  35. ^ “Carlos Franqui”. Daily Telegraph. 24 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013. 
  36. ^ “Batista Says Manpower Edge Lacking”. Park City Daily News. Google News Archive. 1 tháng 1 năm 1959. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013. 
  37. ^ a ă â “Air war over Cuba 1956-1959”. ACIG.org. 30 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013. 
  38. ^ “1958: Battle of La Plata (El Jigüe)”. Cuba 1952–1959. 15 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  39. ^ Faria, Cuba in Revolution, 2002, pp.69
  40. ^ Thomas, Hugh, Cuba: The pursuit of freedom, pp. 691–3
  41. ^ a ă Juan Clark Cuba (1992). Mito y Realidad: Testimonio de un Pueblo. Saeta Ediciones (Miami). pp. 53–70.
  42. ^ Faria, Miguel (14 tháng 6 năm 2002). “Interview With Dr. Miguel Faria (Part I) by Myles Kantor”. Hacienda Publishing. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. 
  43. ^ Mastering Modern World History by Norman Lowe, second edition.
  44. ^ "Year in Review – 1959". UPI archive. Retrieved 24 December 2011.
  45. ^ Gleijeses, Piero (2002). Conflicting Missions: Havana, Washington and Africa, 1959–1976. University of North Carolina Press. p. 14.
  46. ^ “Ahead Of Bay Of Pigs, Fears Of Communism”. NPR. 17 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  47. ^ Faria (2002), op.cit. p. 105.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Castro and the Cuban Revolution,  by Thomas M. Leonard, Greenwood Press, 1999, ISBN 0-313-29979-X
  • Cuban Revolution Reader: A Documentary History of Key Moments in Fidel Castro's Revolution,  by Julio García Luis, Ocean Press, 2008, ISBN 1-920888-89-6
  • Dynamics of the Cuban Revolution: A Marxist Appreciation,  by Joseph Hansen, Pathfinder Press, 1994, ISBN 0-87348-559-9
  • Havana Nocturne: How the Mob Owned Cuba and Then Lost It to the Revolution,  by T. J. English, William Morrow, 2008, ISBN 0-06-114771-0
  • Inside the Cuban Revolution: Fidel Castro and the Urban Underground,  by Julia E. Sweig, Harvard University Press, 2004, ISBN 0-674-01612-2
  • Cuba in Revolution - Escape from a Lost Paradise,  by Miguel A. Faria, Hacienda Publishing, 2002, ISBN 0-9641077-3-2 http://www.haciendapublishing.com
  • Latin America in the Era of the Cuban Revolution,  by Thomas C. Wright, Praeger Paperback, 2000, ISBN 0-275-96706-9
  • The Cuban Revolution: Origins, Course, and Legacy,  by Marifeli Perez-Stable, Oxford University Press, 1998, ISBN 0-19-512749-8
  • The Cuban Revolution: Past, Present and Future Perspectives,  by Geraldine Lievesley, Palgrave Macmillan, 2004, ISBN 0-333-96853-0
  • The Cuban Revolution: Years of Promise,  by Teo A. Babun, University Press of Florida, 2005, ISBN 0-8130-2860-4
  • The Moncada Attack: Birth of the Cuban Revolution,  by Antonio Rafael De LA Cova, University of South Carolina Press, 2007, ISBN 1-57003-672-1
  • The Origins of the Cuban Revolution Reconsidered,  by Samuel Farber, The University of North Carolina Press, 2006, ISBN 0-8078-5673-8
  • The United States and the Origins of the Cuban Revolution,  by Jules R. Benjamin, Princeton University Press, 1992, ISBN 0-691-02536-3

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]