Nhân quyền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nhân quyền (hay quyền con người; tiếng Anh: human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người.[1][2] Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quan điểm của các nhà triết học thời đại khai sáng của thế kỷ 1718 thì các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ. Các quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc "chuyển nhượng" các quyền này.

Các quyền không thể tước bỏ bao gồm quyền được sống, quyền tự do (các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội) quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền mà các công dân có được trong một nền dân chủ. Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì.

Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó. Ví dụ như điều sửa đổi bổ sung đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ không đưa ra quyền tự do tín ngưỡng hay tự to báo chí cho dân chúng. Điều sửa đổi bổ sung đó nghiêm cấm Quốc hội thông qua các luật vi phạm tới tự do ngôn lụân, tự do tín ngưỡng và quyền hội họp ôn hòa. Nhà sử học Leonard Levy đã phát biểu: "Các cá nhân có thể tự do khi chính phủ của họ không tự do".

Lịch sử nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Thế giới cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ luật cải cách, của Urukagina thành phố Lagash, được biết đến sớm nhất (khoảng năm 2350 TCN) đã nói đến những khái niệm về quyền ở mức độ nào đó, văn bản chính thức bộ luật đó của ông ta vẫn chưa được tìm thấy.

Bộ luật cổ nhất hiện còn ngày nay là Luật Ur-Nammu thời Tân Sumer (khoảng 2050 TCN). Một số bộ luật khác cũng được ban hành ở Mesopotamia, gồm cả Bộ luật Hammurabi (khoảng 1780 TCN) một trong những ví dụ điển hình nhất của loại tài liệu này. Nó có các luật, và hình phạt nếu những luật này bị vi phạm ở nhiều khía cạnh khác nhau, kể cả nữ quyền, quyền trẻ em, và quyền của nô lệ. Lời tựa của những bộ luật này viện dẫn sự đồng ý thiêng liêng của Thần của người Mesopotamian.

Các tài liệu tôn giáo cũng đề cập đến vấn đề nhân quyền. Kinh Vệ đà, Kinh Thánh, Kinh Koran và sách văn tuyển Luận ngữ của Khổng Tử cũng trong số những tài liệu ra đời sớm đã nêu ra những vấn đề về nghĩa vụ, quyền, và bổn phận của con người.

Trụ Cyrus[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trụ Cyrus

Trụ Cyrus (Cyrus Cylinder) được cho là hiến chương đầu tiên của nhân quyền thế giới,[3][4][5] " ra đời trước hiến chương Magna Carta hơn một ngàn năm".[4] Một bản mẫu của trụ được Iran tặng cho Liên Hiệp Quốc vào năm 1971.[6] Trụ này có từ thời vua Cyrus II, tức Cyrus Đại đế (559 TCN - 530 TCN) - vị Hoàng đế sáng lập ra Đế quốc Ba Tư hùng mạnh. Tuy là một nhà chinh phạt hiển hách, ông cũng được ca ngợi về vấn đề nhân quyền. Sau khi đánh bại quân Babylon và chinh phạt luôn cả Đế quốc Tân Babylon, ông ghi nhận về chiến công lừng lẫy này qua Trụ Cyrus. Theo Trụ này, Hoàng đế Cyrus Đại Đế luôn tôn trọng các vị Thần trong tín ngưỡng của Babylon, phục hồi những ngôi đền ở kinh đô Babylon và giải phóng những thần dân ngoại lai thoát khỏi ách nô lệ. Những việc làm này của nhà vua đã trở thành biểu tưởng của sự khoan dung và kính trọng các tôn giáo khác. Trong Đế quốc Ba Tư, Hoàng đế Cyrus Đại Đế đặt ra luật pháp trị vì muôn dân, và trăm họ cảm thấy kính mến ông hơn là e sợ ông. Những ý tưởng của nhà vua Ba Tư về chính phủ có ảnh hưởng đến nhân quyền.[7]

Hiến chương Magna Carta[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến chương Magna Carta của người Anh lần đầu tiên được công bố năm 1215. Hiến chương này có ảnh hưởng đến sự phát triển của thông luật (common law) và nhiều tài liệu liên quan đến hiến pháp như bản Hiến pháp Hoa Kỳ, đặc biệt là Đạo luật Nhân quyền (Bill of Rights), và nó được xem là một trong những tài liệu pháp lý quan trọng nhất trong lịch sử dân chủ. Hiến chương này cũng sớm có ảnh hưởng lớn đến quá trình lịch sử dẫn đến hiến pháp hiện nay.

Hiến chương Magna Carta còn là một trong những tài liệu pháp lý đầu tiên tiết chế quyền lực của nhà nước để bảo vệ các quyền của công dân nước đó. Hiện nay, giá trị còn tồn tại lớn nhất của nó là luật bảo thân (habeas corpus - thân xác thuộc về người). Quyền này phát sinh từ các điều 36, 38, 39 và 40 của Hiến chương Magna Carta năm 1215. Nó cũng bao gồm due process of law (luật tôn trọng tất cả các quyền hợp pháp của công dân).

Các tuyên ngôn hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Quốc gia Pháp thông qua Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền ngày 26 tháng 8, 1789
Hiệp định Geneva Đầu tiên 1864
Sự Tiến triển của Hiệp định Geneva từ 1864 đến 1949

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

"Đây không phải là hiệp ước treaty...[Trong tương lai, nó] có thể trở thành một Hiến chương Magna Carta Quốc tế."

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de ChaillotParis, Pháp. Bản Tuyên ngôn đã được dịch ra ít nhất 375 ngôn ngữ.[8] Tuyên bố phát sinh trực tiếp từ những kinh nghiệm của Thế chiến thứ hai và là tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên trên thế giới, trong đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng. Nó bao gồm 30 điều đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực, hiến pháp và luật pháp quốc gia. Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị định thư không bắt buộc III. Năm 1966, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua hai Công ước trên, qua đó hoàn thành cơ bản Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế.

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc. Tinh thần của bản Tuyên ngôn là dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc tôn trọng các quyền con người cơ bản được đưa ra trong Tuyên ngôn.

Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết "Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này".

Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (tiếng Anh: ASEAN Human Rights Declaration, viết tắt là AHRD) là văn bản tuyên bố chung về nhân quyền của các nước ASEAN trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia vào ngày 18 tháng 11 năm 2012 với sự chấp thuận và ký kết của lãnh đạo 10 nước thành viên ASEAN[9][10][11]. Đây là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực.[12]

Tuyên bố Nhân quyền ASEAN gồm 40 điều khoản, khẳng định mọi công dân ASEAN có 4 nhóm quyền căn bản về dân sựchính trị, về kinh tế, xã hộivăn hóa, quyền phát triển, và quyền hưởng hòa bình. Các quyền này được xây dựng trên những nguyên tắc căn bản là bình đẳng, tôn trọng đặc thù khu vực và sự đa dạng của mỗi quốc gia[13]. Tuy vậy, cũng có một số chỉ trích của các tổ chức nhắm đến tuyên bố này, cho rằng nó vẫn còn mang một số khiếm khuyết nhất định[14] và thậm chí, một số tổ chức nhân quyền phê phán văn bản không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế[15].

Các tổ chức bảo vệ nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Hiệp Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Liên Hiệp Quốc
Đại Hội đồng LHQ

Liên Hiệp Quốc (LHQ) là cơ quan liên chính phủ đa phương duy nhất có quyền xét xử quốc tế được chấp nhận rộng rãi về pháp chế nhân quyền chung.[16] Tất cả các cơ quan của LHQ có chức năng tư vấn cho Hội đồng Bảo an Liên Hiệp QuốcHội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, và có rất nhiều các ủy ban ở trong LHQ có trách nhiệm bảo vệ các hiệp ước nhân quyền khác nhau. Bộ phận có thâm niên nhất của LHQ về nhân quyền là Văn phòng Cao Ủy về Nhân Quyền. LHQ được quốc tế ủy thác về:

...thực hiện hợp tác quốc tế về giải quyết các vấn đề quốc tế như kinh tế, xã hội, văn hóa, hay nhân quyền, và về xúc tiến và khuyến khích việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho mọi người không phân biệt sắc tộc, giới tính, ngôn ngữ, hay tôn giáo.

—Mục 1-3 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc

Văn phòng Cao Ủy về Nhân Quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu tượng Hội đồng Nhân Quyền LHQ

Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc được thành lập tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2005 (2005 World Summit) để thay thế cho Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền (United Nations Commission on Human Rights), có nhiệm vụ điều tra sự vi phạm nhân quyền [17]. Hội đồng Nhân quyền là một tổ chức trực thuộc Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc [18] và báo cáo trực tiếp với tổ chức này. Nó được xếp dưới Hội đồng Bảo an. Bốn mươi bảy quốc gia trên một trăm chín mươi mốt ghế thành viên trong Hội đồng được bầu thông qua hình thức bỏ hiếu kín theo nguyên tắc đa số tương đối (trên 50%)Đại Hội đồng. Các thành viên phục vụ tối đa sáu năm và có thể bị đình chỉ nếu vi phạm nhân quyền. Hội đồng này được đặt ở Genève, Thụy Sĩ và họp một năm ba lần; trường hợp khẩn cấp có thể có thêm các cuộc họp bổ sung.[19]

Hội đồng này còn có các chuyên gia độc lập (báo cáo viên) để điều tra các vi phạm nhân quyền và báo cáo lại cho Hội đồng. Hội đồng Nhân quyền có thể yêu cầu Hội đồng Bảo an đưa các vụ kiện ra Tòa án Tội phạm Quốc tế (ICC) ngay cả những vấn đề ngoài quyền hạn của ICC.

Hội Hồng Thập Tự Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ của HHTTQT

Phong trào Chữ thập đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế là tổ chức theo nhân đạo chủ nghĩa lớn nhất trên thế giới, thường được gọi là Hội Chữ thập đỏ hay Hội Hồng thập tự, theo biểu trưng đầu tiên của họ. Nó gồm có Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) ở Genève, Hiệp hội Chữ thập đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IFRC), và 183 hội Chữ thập đỏ hoặc Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia riêng mà hiện nay được là thành viên chính thức của IFRC và được ICRC công nhận. Tất cả những tổ chức này không phụ thuộc nhau theo pháp lý, nhưng có liên quan với nhau do những căn bản, mục đích, biểu trưng, quy chế, và cơ quan giống nhau. Phong trào này tự giác và phi chính phủ. Mục đích đã được tuyên bố là để bảo vệ sự sống và sức khỏe con người, để bảo đảm là con người được tôn trọng, và để tránh và giảm bớt khổ sở, họ không phân biệt theo quốc tịch, dân tộc, tôn giáo hay tín ngưỡng, giai cấp, hoặc quan điểm chính trị.

Ân xá Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ân xá Quốc tế

Ân xá Quốc tế (tiếng Anh: Amnesty International, viết tắt AI) là một tổ chức phi chính phủ quốc tế, đặt ra mục đích bảo vệ tất cả quyền con người đã được trịnh trọng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và các chuẩn mực quốc tế khác.

Đặc biệt, Ân xá Quốc tế hoạt động nhằm giải thoát tất cả tù nhân lương tâm; nhằm bảo đảm các tù chính trị được xử công bằng và công khai; nhằm bãi bỏ án tử hình, tra tấn, và các hình thức đối xử khác với tù nhân mà họ cho là tàn bạo; nhằm chấm dứt các vụ ám sát chính trịmất tích cưỡng bức; và chống lại mọi sự vi phạm nhân quyền, bất kể là do chính phủ hay tổ chức khác.

Nội dung nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, con người có ba nhóm quyền cơ bản bao gồm Quyền dân sự, Quyền chính trịQuyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa[20].

Quyền dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận là con người và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi
  • Quyền sống, tự do và an toàn thân thể, không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch
  • Quyền không bị tra tấn hay chịu hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm
  • Quyền được công nhận là con người trước pháp luật
  • Quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng
  • Quyền yêu cầu tòa án can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản
  • Quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ hay lưu đày tùy tiện
  • Quyền được xét xử công khai, công bằng bởi tòa án độc lập, không bị kết án và trừng phạt vượt quá khuôn khổ pháp luật
  • Quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp
  • Quyền tự do đi lại, cư trú trong lãnh thổ quốc gia
  • Quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương
  • Quyền tự do tôn giáo; tự do thay đổi tôn giáo, tín ngưỡng; tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng
  • Quyền được bảo vệ đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự
  • Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo
  • Quyền kết hôn với sự thuận tình hoàn toàn tự do của hai bên và bình đẳng trong hôn nhân
  • Quyền sở hữu riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác, không bị tước đoạt tài sản

Quyền chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác khi bị đàn áp
  • Quyền có quốc tịch và không bị tước quốc tịch
  • Quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do quan niệm và phát biểu quan điểm
  • Quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình, không bị cưỡng ép gia nhập hội
  • Quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn
  • Quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước
  • Quyền biểu lộ ý nguyện thông qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự

Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quyền được hưởng an sinh xã hội và đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết
  • Quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp
  • Quyền được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử cho những công việc ngang nhau
  • Quyền được trả lương đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác
  • Quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn
  • Quyền nghỉ ngơi và giải trí, hạn chế số giờ làm việc hợp lý và được hưởng những ngày nghỉ định kỳ có trả lương
  • Quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình
  • Quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn
  • Quyền của sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ, các con (chính thức hay ngoại hôn) đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau
  • Quyền được hưởng giáo dục, được hưởng chế độ giáo dục miễn phí mang tính cưỡng bách ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản
  • Quyền được phổ cập giáo dục kỹ thuật, chuyên nghiệp và cao đẳng trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn
  • Quyền được hưởng một nền giáo dục phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo
  • Quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con
  • Quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy
  • Quyền được bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình
  • Quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do có thể được thực hiện đầy đủ

Vi phạm[sửa | sửa mã nguồn]

Vi phạm nhân quyền gây ra bởi các chủ thể nhà nước hoặc phi nhà nước là các hành động lạm dụng, bỏ qua hoặc chối bỏ các quyền cơ bản của con người (bao gồm quyền dân sự, chính trị, văn hóa, xã hội và kinh tế). Vi phạm nhân quyền cũng xảy ra khi các chủ thể trên vi phạm bất cứ điều khoản nào trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hợp Quốc hoặc các luật quốc tế về nhân quyền và nhân đạo khác. Điều 39 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ định Hội đồng An ninh Liên Hợp Quốc (hay một cơ quan được giao trách nhiệm) là cơ quan có quyền tài phán xét xử các vụ vi phạm nhân quyền.

Hành động vi phạm nhân quyền được Liên Hợp Quốc, các tổ chức quốc gia, các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ độc lập giám sát. Các tổ chức này thu thập bằng chứng và tài liệu về các cáo buộc vi phạm nhân quyền và gây áp lực nhằm thực thi pháp luật về nhân quyền.

Tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại là những sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Theo CNN, nhân quyền được xem là một trong mười sáng kiến làm thay đổi thế giới, cùng với nông nghiệp, phân tâm học, thuyết tương đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, World Wide Web, xà phòng, số 0lực hấp dẫn.[21]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ United Nations, UNHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr.8.
  2. ^ GIÁO TRÌNH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
  3. ^ Interview with United Nations Under-Secretary Shashi Tharoor
  4. ^ a ă Abbas Milani. Lost Wisdom. 2004. Mage Publishers. p.12. ISBN 0-934211-90-6
  5. ^ U.N. chief awarded Cyrus cylinder The Iranian.com; Retrieved January 12, 2007
  6. ^ “Statement by Secretary General, U Thant, at presentation of gift from Iran to United Nations” (Thông cáo báo chí). United Nations Press Section. 14 tháng 10 năm 1971. 
  7. ^ Dennis Abrams, Xerxes, trang 25
  8. ^ “Universal Declaration of Human Rights”. ohchr.org. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. 
  9. ^ ASEAN Human Rights Declaration, Tổ chức Nhân Quyền Quốc Tế.
  10. ^ ASEAN thông qua bản Tuyên Bố Nhân Quyền
  11. ^ Ra Tuyên bố Phnom Penh thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN - Hànộimới
  12. ^ Tuyên bố Nhân quyền ASEAN tạo khuôn khổ chung, Vietnam+, TTXVN, 18/11/2012
  13. ^ ASEAN thông qua Tuyên bố Nhân quyền | Thanh Niên Online
  14. ^ BBC Vietnamese - Diễn đàn - Tuyên bố Nhân quyền ASEAN: “mừng hay lo”?
  15. ^ BBC Vietnamese - Thế giới - Tuyên bố nhân quyền Asean ‘khiếm khuyết’
  16. ^ Ball, Gready (2007) p.92
  17. ^ “United Nations Rights Council Page”. United Nations News Page. 
  18. ^ “The United Nations System”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2008. 
  19. ^ Ball, Gready (2007) p.95
  20. ^ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948)
  21. ^ “10 ideas that changed the world”. CNN. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]