Tội ác chiến tranh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tội ác chiến tranh là hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật áp dụng trong xung đột vũ trang (còn gọi là Luật Nhân đạo quốc tế). Đây là một trong những tội ác được quy định trong Điều ước do đại diện chính phủ các nước Liên Xô, Hoa Kì, Anh, Pháp thỏa thuận tại Luân Đôn vào ngày 8 tháng 8 năm 1945. Ví dụ về các hành vi đó bao gồm "giết người, ngược đãi hoặc chuyển người dân dân sự của một lãnh thổ bị chiếm đóng vào các trại lao động nô lệ", "các vụ giết người hoặc ngược đãi các tù nhân chiến tranh", giết các con tin, "phá hủy bừa bãi các thành phố, thị xã, làng, và tàn phá không có lý do cần thiết quân sự, hoặc dân sự "[1].

Khái niệm tương tự, chẳng hạn như sự phản trắc, đã tồn tại trong nhiều thế kỷ như là thông lệ giữa các quốc gia văn minh, nhưng những thông lệ này đã luật lệ hóa lần đầu tiên trong luật pháp quốc tế trong các Công ước La Hague vào năm 18991907. Khái niệm hiện đại của một tội phạm chiến tranh đã được tiếp tục phát triển dưới sự bảo trợ của Tòa án Nuremberg dựa vào định nghĩa trong Hiến chương Luân Đôn đã được xuất bản vào ngày 8 tháng 8 năm 1945. (Xem Nguyên tắc Nuremberg.) Cùng với các tội ác chiến tranh, Hiến chương tội phạm cũng được định nghĩa chống lại hòa bình và tội ác chống nhân loại, mà thường được cam kết trong cuộc chiến tranh và phối hợp với tội ác chiến tranh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gary D. Solish (2010) The Law of Armed Conflict: International Humanitarian Law in War, Cambridge University Press ISBN 9780521870887 pp. 301-303

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]