Chiến tranh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Binh sĩ Hoa Kỳ đang giao chiến với quân đội AnhNorth Point, Maryland, ngày 12 tháng 9 1814 trong cuộc chiến tranh 1812

Chiến tranh là một hiện tượng chính trị-xã hội có tính chất lịch sử, sự tiếp tục của chính trị bằng bạo lực giữa các tập đoàn xã hội trong một nước hoặc giữa các nước hay liên minh các nước. Đặc trưng của chiến tranh là đấu tranh vũ trang có tổ chức, theo những quy tắc nhất định và thường kết hợp với các hình thức đấu tranh khác (chính trị, kinh tế, ngoại giao...).

Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân của chiến tranh thường do mâu thuẫn giữa các giai cấp, dân tộc, tôn giáo phát triển đến mức gay gắt nhất hoặc do mâu thuẫn trong nội bộ một dân tộc, tôn giáo.

Nói tóm lại, chiến tranh là sự xung đột do từ mâu thuẫn ý thức giữa các tư tưởng khác nhau. Nguyên nhân của những mâu thuẫn nầy xuất phát từ tham vọng riêng của từng thực thể con người. Khi những tham vọng này đối chọi nhau đến mức độ bão hòa thì chiến tranh xảy ra. Nghĩa là chỉ khi nào tồn tại hai bên phản nghịch nhau thì chiến tranh mới bùng nổ. Những hình thức chiến tranh đi từ kiểu thô thiển như chiến tranh vũ trang đến thể loại chiến tranh vi tế như sử dụng văn hóa để công kích. Tính chất đặc trưng của các ý thức hệ là tìm cách đồng hóa các hệ ý còn lại sao cho được thể duy nhất. Vậy thì chiến tranh có thể xem như quá trình đồng hóa các hệ ý tưởng của các bên đối lập nhau. Chiến tranh leo thang là do sự đồng hóa nầy chưa dừng dứt.

Hậu quả của chiến tranh không chỉ có sự hoang tàn mà còn có cả sự tiến bộ. Chiến tranh là thành phần không thể thiếu trong quá trình tiến hóa của tất cả các sinh vật, đoàn thể, tổ chức hầu đạt được mục tiêu sống còn và phát triển.

Theo các học thuyết lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những người theo thuyết lịch sử chú ý đến khía cạnh bất khả kháng của chiến tranh, họ cho rằng nó ngẫu nhiên nó như là một tai nạn giao thông. Có thể có các điều kiện, tình huống giống như là sắp xảy ra chiến tranh nhưng người ta không thể tiên đoán được thời gian và địa điểm xảy ra chiến tranh. Các nhà xã hội học phê phán cách tiếp cận này, họ cho rằng sự bắt đầu của các cuộc chiến tranh là do một số nhà lãnh đạo đưa ra, đó không phải là tai nạn thuần túy. Vẫn còn có những bất đồng nhưng thực sự rất khó khăn trong việc xây dựng một hệ thống tiên đoán về chiến tranh.

Theo các học thuyết tâm lý chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thuyết này chiến tranh xuất phát từ tâm lý của con người, cho rằng đó là "bản năng xâm lược" của con người, là "hành vi" của con người. Các đại diện của thuyết này như E.F.M. Durban và John Bowlby cho rằng loài người đặc biệt là đàn ông sinh ra đã có thói quen xung đột. Thông thường những loại xung đột này bị kìm nén bởi xã hội, nó cần một cơ hội để giải thoát các xung đột bằng chiến tranh.

Theo các học thuyết về nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Học thuyết nhân khẩu có 2 nhóm: những người theo thuyết Malthus và những người theo thuyết bùng nổ dân số trẻ.

Theo thuyết Malthus thì sự mất cân bằng giữa việc tăng dân số và tăng thức ăn là nguồn gốc của xung đột. Nghĩa là trong khi dân số tăng theo cấp số nhân thì nguồn tài nguyên, của cãi lại tăng theo cấp số cộng tạo ra sự mất cân đối dẫn đến chiến tranh. Lý thuyết bùng nổ dân số trẻ lại quan niệm do sự mất cân đối giữa những lực lượng trẻ được đào tạo, đến tuổi trưởng thành, cần có việc làm và số lượng những vị trí có thể cho họ trong xã hội là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự nổi loạn trong xã hội (bao gồm cả chiến tranh). Theo các học thuyết này "con người cần thức ăn, cần vị trí nên họ bắn nhau".

Học giả người Anh Thomas Robert Malthus (1766 - 1834) cho rằng dân số luôn tăng tận khi chúng bị hạn chế bởi chiến tranh, bệnh tật và đói kém. Đây là lý thuyết được tính toán với xã hội trước dây khi mà nền sản xuất chưa phát triển và tỷ lệ tăng dân số không điều khiển được.

Theo học thuyết của Chủ nghĩa Marx[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh là một hiện tượng chính trị xã hội mang tính lịch sử, là hoạt động đấu tranh giữa các giai cấp, các nhà nước, các lực lượng chính trị có địa vị, lợi ích đối lập nhau trong một nước hoặc giữa các nước nhằm đạt được mục đích chính trị nhất định.

Đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Là hiện tượng chính trị xã hội mang tính lịch sử.
  • Là hoạt động đấu tranh vũ trang (bạo lực vũ trang) có tổ chức.
  • Nhằm đạt được một mục đích chính trị nhất định.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp không thể điều hoà. Trong đó, chế độ chiếm hữu tư nhân là nguồn gốc kinh tế - nguồn gốc sâu xa; đối kháng giai cấp là nguồn gốc xã hội - nguồn gốc trực tiếp của chiến tranh.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên nhân chung: Là sự tác động giữa phương thức sản xuất bóc lột và những hiện tượng chính trị xã hội do phương thức sản xuất đó sinh ra dưới hình thức bạo lực vũ trang của giai cấp này đối với giai cấp khác.
  • Nguyên nhân đặc thù: Là sự tác động của những chính sách hiếu chiến, phản động của giai cấp thống trị, những kẻ cầm đầu nhà nước.
  • Nguyên nhân đơn nhất: Là sự tác động có tính đột biến, tức thì từ những nhân tố cá biệt như cá tính bất thường của cá nhân cầm đầu tổ chức hoặc diễn biến không chuẩn xác của các thông tin, của phương tiện tiến hành chiến tranh,...trong những tình huống nhất định.

Trong các nguyên nhân trên, nguyên nhân chung là cơ bản, xuyên suốt của mọi cuộc chiến tranh trong lịch sử loài người.

Bản chất của chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Bản chất của chiến tranh thể hiện trên hai mặt cơ bản luôn có sự thống nhất với nhau: Mặt chính trị và mặt bạo lực vũ trang. Chính trị là mục đích, bạo lực vũ trang là phương thức, biện pháp để thực hiện mục đích chính trị. Mặt chính trị và mặt phương thức bạo lực vũ trang không tách rời nhau.

Mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa chiến tranh và chính trị có mối quan hệ khắng khít, biện chứng với nhau. Trong đó chính trị quyết định chiến tranh và chiến tranh tác động to lớn trở lại đối với chính trị. Thực chất, đây là mối quan hệ giữa hai hiện tượng xã hội, mỗi hiện tượng bao gồm lực lượng vật chất và tinh thần, giữa tư tưởng và tổ chức. Đây là mối quan hệ đa chiều.

Các loại chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Về chính trị-xã hội:

Theo cách thức tiến hành:

Theo quy mô chiến tranh:

Theo phương tiện vũ khí, kỹ thuật:

Theo môi trường:

Lịch sử chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Các sự kiện quân sự cấu thành lịch sử một cuộc chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến cuộc là hình thức tác chiến chiến lược bao gồm một số chiến dịch, chiến dịch chiến lược và các hình thức tác chiến khác diễn ra trong một không gian rộng (một hoặc một số chiến trường trên bộ và có thể cả trên biển), trong một thời gian tương đối dài (mấy tháng, mấy mùa) nhằm đạt những mục đích quân sự - chính trị của chiến tranh. CC thường được gọi tên theo chiến trường (vd. Chiến cuộc Bắc Phi), theo thời gian – năm hay mùa diễn ra chiến cuộc (chẳng hạn Chiến cuộc Đông Xuân (1953-54)). Chiến cuộc là đối tượng nghiên cứu của chiến lược quân sự.

Chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch là toàn bộ nói chung các trận chiến đấu diễn ra trên một chiến trường và trong một thời gian, tiến hành theo kế hoạch và ý định thống nhất, nhằm thực hiện mục đích chiến lược nhất định. Ví dụ: chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến dịch cũng là toàn bộ nói chung những việc làm tập trung và khẩn trương, tiến hành trong một thời gian nhất định, nhằm thực hiện một mục đích nhất định. Ví dụ:

  • Phát động chiến dịch phòng bệnh mùa hè
  • Mở chiến dịch truy quét tội phạm trên toàn quốc

Trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đánh là một cuộc đánh của cả 2 phe địch và phe ta trong những khoảng thời gian lâu dài, nhiều người chết chóc.

Vũ khí và phương tiện trong lịch sử chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời xưa

Các vũ khí sử dụng trong chiến tranh thơi xưa có:

Thời hiện đại

Vũ khí cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí là nhứng phương tiện được con người sử dụng phục vụ cho nhiệm vu chiến tranh, dùng để gây sát thương hay để tự vệ. Vũ khí cá nhân thường được binh sĩ mang bên người, thay đổi và cải tiến qua cá thời kỳ.Từ thời tiền sử đến nay, vu khí chiến tranh cá nhân đã được thay đổi và cải tiến rất nhiều. đến náy vũ khí cá nhân đã đạt đến tiến bộ và có hiệu quả cao nhất.

Vũ khí hỏa lực[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại vũ khí có hỏa lực mạnh, như pháo, thuốc nổ...

Phương tiện cơ giới[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại phương tiện như xe thiết giáp, xe tăng...

Phương tiện bay[sửa | sửa mã nguồn]

Xưa khinh khí cầu được dùng để do thám trận địa. Nay máy bay đã thay thế khí cầu, dùng để oanh tạc, do thám và là phương tiện quan trọng trong mỗi cuộc chiến tranh hiện đại.

Phương tiện hàng hải và đường thuỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại phương tiện trên biển như thiết giáp hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm và đặc biệt là tàu ngầm. Việc sử dụng các phương tiện trên biển đã có từ rất lâu trong lịch sử chiến tranh.

Chiến tranh trong tổng thể quan hệ xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh và chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đỉnh cao là chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ ở cuối thế kỷ XX.

Ảnh hưởng của ngoại giao đối với chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh có thể gây nên sự thù địch hoặc hòa giải giữa các nước.

Chiến tranh và kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều quốc gia như Mỹ dựa vào chiến tranh để làm giàu bằng việc buôn vũ khí. Nhưng hầu hết các cuộc chiến tranh đều gây tổn thất nặng nề về nền kinh tế các nước tham chiến.

Chiến tranh và văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh và tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh tôn giáo là một phần của lịch sử loài người. Thời điểm từ thế kỷ 10-15 xảy ra rất nhiều các cuộc chiến tranh tôn giáo. Nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc chiến tranh này là sự xung khắc, mâu thuẫn giữa các phe phái tôn giáo khác nhau.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]