Basileios II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Basileios II
Βασίλειος Β' ο Βουλγαροκτόνος
Hoàng đế của Đông La Mã
Basilios II.jpg
Tranh vẽ vua Basileios II, từ một bản viết tay vào thế kỷ thứ 11.
Hoàng đế Nhà Macedonia
Tại vị Danh nghĩa: 960 - 976
(Đồng Hoàng đế với phụ hoàng tới năm 963, Nikephoros II tới năm 969, Iōannēs I Tzimiskēs cho đến năm 976).
Chính danh: 10 tháng 1 năm 976
15 tháng 12 năm 1025
(&0000000000000049.00000049 năm, &0000000000000339.000000339 ngày)
(tính chung là 65 năm trời)
Tiền nhiệm Iōannēs I Tzimiskēs Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Constantinus VIII Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Triều đại Nhà Macedonia
Thân phụ Romanos II Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Theophano
Các vua Basileios II và Constantinus VIII, giữ Thập tự giá. Nomisma histamenon.

Basileios II (tiếng Hy Lạp: Βασίλειος Β΄, còn gọi là Basil II; 95815 tháng 12 năm 1025), được biết đến trong thời đại ông như Basileios đấng Quân vương quyền quýBasileios Trẻ để phân biệt ông với tiên hoàng Basileios I người xứ Macedonia, là một vị Hoàng đế nhà Macedonia của Đế quốc Đông La Mã, trị nước từ ngày 10 tháng 1 năm 976 cho tới ngày 15 tháng 12 năm 1025. Ông là vị Hoàng đế có thời gian trị vì lâu nhất trong lịch sử Đế quốc Đông La Mã, là người có công đưa Đế quốc đến "thời kỳ hoàng kim" của nó.[1] Những chiến thắng của ông trước quân Bulgaria đã khiến người Hy Lạp coi ông như một vị Hoàng đế huyền thoại, là tiền thân của cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Bulgaria trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.[2]

Những năm tháng làm vua đầu tiên của ông chứng kiến một cuộc nội chiến dai dẳng chống những quyền thần gốc gác quý tộc ở vùng Tiểu Á. Chiến thắng quân sự của nhà vua trong cuộc nội chiến này đã tạo tiền đề cho giai đoạn thứ hai huy hoàng hơn hẳn của triều đại ông.[3] Sau khi đám quyền thần phải thần phục ông, Basileos II tiến hành phát triển và mở mang cương thổ của Đế quốc Đông La Mã về phía Đông, và quan trọng hơn hết, là chiến thắng cuối cùng và việc sáp nhập hoàn toàn Đế quốc Bulgaria - kẻ thù kinh hoàng nhất của Đế quốc Đông La Mã - vào lãnh thổ Đông La Mã sau một cuộc chiến tranh ác liệt. Một sự kiện tiêu biểu trong cuộc chiến tranh đó là việc ông đui mù các tù binh Bulgaria sau chiến thắng của quân Đông La Mã, làm cho Sa hoàng Bulgaria buồn chết.[4] Vì lẽ đó, người đời sau gọi ông là "Kẻ giết người Bulgaria" (tiếng Hy Lạp: Βουλγαροκτόνος, Boulgaroktonos), và ngoại hiệu này trở nên thông dụng với ông. Sau khi ông qua đời, Đế quốc có cương thổ trải dài từ miền Nam Ý cho tới vùng Kavkaz và tù sông Danube cho đến biên giới Palestine, đạt đến cực điểm về độ lớn kể từ các cuộc càn quét của người Hồi giáo vào 4 thế kỷ trước.

Mặc dù gần như liên tục xông pha trận mạc, Basileios II cũng là vị vua có tài trị nước, giảm bớt uy quyền của các gia đình đại địa chủ (những người này vốn chi phối nền hành chính và quân sự của Đế quốc), đồng thời làm đầy ắp kho ngân khố của Đế quốc. Một sự kiện có tầm quan trọng vang xa là việc quyết định của Basileios II trong việc gả Hoàng muội của ông là Công chúa Anna cho Đại Vương công Vladimir I xứ Kiev[5] để đổi lấy ủng hộ quân sự, điều này dẫn đến việc Ki-tô giáo hóa nước Nga Kiev và truyền bá nền văn hóa Đông La Mã vào nước Nga.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Paul Stephenson, The legend of Basil the Bulgar-slayer, Bìa sau
  2. ^ Paul Stephenson, The legend of Basil the Bulgar-slayer, các trang 136-137.
  3. ^ Catherine Holmes, Basil II and the governance of Empire (976-1025), trang 5
  4. ^ Catherine Holmes, Basil II and the governance of Empire (976-1025), trang 499
  5. ^ Russian Primary Chronicle Vol.I p.76

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn sơ cấp
  • Michael Psellus, Chronographia, also published under the title Fourteen Byzantine Rulers, ed. E.R.A. Sewter. London 1953. [English translation, Full online text
  • Nestor, The Russian Primary Chronicle: Laurentian Text,, Samuel Hazzard Cross, Olgerd P. Sherbowitz-Wetzor, Published by Mediaeval Academy of America, 1953
Nguồn thứ cấp
  • Penelope Delta, The Age of the Bulgar-slayer (In Greek), 1911, ESTIA Publishing Co
  • George Finlay, (1856), History of the Byzantine Empire from DCCXVI to MLVII, 2nd Edition, Published by W. Blackwood.
  • Holmes, Catherine (2005). Basil II and the Governance of Empire (976–1025). New York: Oxford University Press. ISBN 0199279683. 
  • Norwich, John Julius. History of Byzantium. Bản mẫu:Specify
  • The Oxford Dictionary of Byzantium. Oxford University Press. 1991. 
  • Stephenson, Paul (2003). The Legend of Basil the Bulgar-Slayer. New York: Cambridge University Press. ISBN 0521815304. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Basil II tại Wikimedia Commons

Basileios II
Sinh: 958 Mất: 15 tháng 12 1025
Hiệu
Tiền nhiệm:
Romanos II
Hoàng đế của Đế quốc Đông La Mã
963
Kế nhiệm:
Nikephoros II
Tiền nhiệm:
Iōannēs I
Hoàng đế của Đế quốc Đông La Mã
976–1025
Kế nhiệm:
Constantinus VIII