Cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sự phân chia đế quốc vào năm 271 SCN.

Cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba (còn gọi là "vô chính phủ quân sự" hoặc "khủng hoảng hoàng đế") (235-284 SCN) là giai đoạn mà đế quốc La Mã được cho là gần như sụp đổ dưới áp lực kết hợp của các cuộc xâm lược, nội chiến, bệnh dịch, và suy thoái kinh tế. Cuộc khủng hoảng bắt đầu với vụ ám sát hoàng đế Alexander Severus dưới bàn tay của quân đội, và khởi đầu một giai đoạn kéo dài suốt năm mươi năm, trong đó có từ 20 tới 25 người tự xưng là Hoàng đế, chủ yếu là các tướng lĩnh La Mã nổi tiếng, trên toàn bộ hoặc một phần của đế quốc.

Trong giai đoạn từ 258-260, đế quốc bị chia thành ba quốc gia thù địch: đế quốc Gallia, bao gồm các tỉnh La Mã là Gaul, BritanniaHispania (một thời gian ngắn), Đế chế Palmyrene, bao gồm các tỉnh miền đông như Syria PalaestinaAegyptus và phần trung tâm của đế quốc La Mã nằm giữa chúng. Sau đó, Aurelianus (270-275) đã thống nhất lại đế quốc, và cuộc khủng hoảng chỉ kết thúc với việc Diocletianus lên nắm quyền và tiến hành các cải cách vào năm 284.

Cuộc khủng hoảng đã dẫn đến những thay đổi một cách sâu sắc trong tổ chức của đế quốc, xã hội, đời sống kinh tế và, cuối cùng là tôn giáo, nó ngày càng được xem bởi hầu hết các nhà sử học như là giai đoạn chuyển tiếp giữa các thời kỳ lịch sử, thời cổ đạithời hậu cổ đại.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình của đế quốc La Mã đã trở nên nguy kịch vào năm 235, sau khi hoàng đế Alexander Severus bị quân đội của mình ám sát. Nhiều quân đoàn La Mã đã bị đánh bại trong một chiến dịch chống lại các bộ tộc người Đức vốn hay cướp phá qua biên giới, trong khi hoàng đế lại tập trung chủ yếu vào các mối nguy hiểm đến từ đế chế Sassanid của người Ba Tư. Trong khi đang đích thân chỉ huy quân đội của mình, Alexander Severus đã viện tới biện pháp ngoại giao và nộp cống trong một nỗ lực để làm yên lòng các thủ lĩnh người Đức một cách nhanh chóng. Theo Herodian, cái giá mà ông ta phải trả đó là sự tôn trọng của quân đội, những người cảm thấy rằng họ cần phải được trừng phạt các bộ tộc người Đức vì đã xâm nhập vào lãnh thổ của Roma.[2]

Trong những năm tiếp theo sau khi vị hoàng đế này qua đời, các tướng lĩnh của quân đội La Mã đã chiến đấu với nhau để tranh đoạt kiểm soát của đế quốc và bị bỏ quên nhiệm vụ của chính họ là phải ngăn chặn các cuộc xâm lược đến từ bên ngoài. Nhiều tỉnh đã trở thành nạn nhân của các cuộc tấn công thường xuyên đến từ các bộ lạc ngoại quốc, chẳng hạn như người Carpi, Goth, Vandal, và Alamanni, dọc theo sông Rhinesông Danube ở phía tây của đế quốc, cũng như các cuộc tấn công từ nhà Sassanid ở phía đông của đế quốc. Ngoài ra, trong năm 251, đại dịch Cyprian (có thể là bệnh đậu mùa đã bùng phát, và nó đã gây ra tỷ lệ tử vong lớn mà có thể đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng phòng vệ của đế quốc.

Và vào năm 258, đế quốc La Mã đã bị tan vỡ thành ba quốc gia đối địch với nhay. Các tỉnh La Mã như Gaul, Britannia và Hispania đã tách ra và hình thành nên đế chế Gallia và hai năm sau đó vào năm 260, các tỉnh miền đông Syria, Palestine và Aegyptus trở thành Đế chế Palmyrene độc lập, để lại phần còn lại với đất Ý là trung tâm của đế quốc La Mã chính thống ở giữa.

Một cuộc xâm lược lớn của người Goth đã bị đánh bại trong trận Naissus trong năm 269. Chiến thắng này có ý nghĩa như bước ngoặt của cuộc khủng hoảng, khi một loạt các vị hoàng đế nhà binh cứng rắn và đầy nhiệt huyết lên nắm quyền. Những chiến thắng của hoàng đế Claudius II Gothicus trong hai năm tiếp theo đã đẩy lui quân Alamanni và khôi phục lại Hispania từ tay của đế chế Gallia. Khi Claudius qua đời trong năm 270 vì bệnh dịch, Aurelianus, viên tướng chỉ huy kỵ binh tại Naissus, đã lên kế vị ông làm hoàng đế và tiếp tục khôi phục lại đế quốc.

Aurelianus (270-275) đã trị vì xuyên suốt giai đoạn tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng, ông đã đánh bại người Vandal, người Visigoth, đế chế Palmyrene, người Ba Tư, và sau đó phần còn lại của đế chế Gallia. Vào cuối năm 274, đế quốc La Mã đã được thống nhất lại thành một thực thể duy nhất, và những đội quân biên phòng đã quay trở lại tại vị trí cũ của mình.

Ảnh hưởng kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tan vỡ của hệ thống thương mại trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Gia tăng chủ nghĩa địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Brown, P., The World of Late Antiquity, London 1971, p. 22.
  2. ^ " Herodian says "in their opinion Alexander showed no honourable intention to pursue the war and preferred a life of ease, when he should have marched out to punish the Germans for their previous insolence" (Herodian vi.7.10).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hekster, O., Rome and its Empire, AD 193-284 (Edinburgh 2008) ISBN 978 0 7486 2303 7
  • Klaus-Peter Johne (ed.), Die Zeit der Soldatenkaiser (Akademie Verlag, Berlin, 2008).
  • Alaric Watson, Aurelian and the Third Century (Taylor & Francis, 2004) ISBN 0-415-30187-4
  • John F. White, Restorer of the World: The Roman Emperor Aurelian (Spellmount, 2004) ISBN 1-86227-250-6
  • H. St. L. B. Moss, The Birth of the Middle Ages (Clarendon Press, 1935, reprint Oxford University Press, January, 2000) ISBN 0-19-500260-1
  • Ferdinand Lot, End of the Ancient World and the Beginnings of the Middle Ages (Harper Torchbooks Printing, New York, 1961. First English printing by Alfred A. Knopf, Inc., 1931).

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]