Chiến tranh Cimbri

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Cimbri
Cimbrians and Teutons invasions.svg
Đường di cư của người Cimbri và người Teuton.
.
Thời gian 113101 TCN
Địa điểm Trung Tâm, Đông nam và Tây nam châu Âu, NoricumGaul
Nguyên nhân bùng nổ Người Cimbri và Teuton tấn công các bộ lạc đồng minh của người La Mã, người Taurisci.
Kết quả Chiến thắng quyết định của người La Mã
Tham chiến
Cộng hòa La Mã Người Cimbri,
Người Teuton
Chỉ huy
Gaius Marius,
Lutatius Catulus,
Servilius Caepio,
Mallius Maximus,
Papirius Carbo
Boiorix,
Teutobod
Lugius
Lực lượng
Varied, ranging from around 40.000 to over 80.000 Varied but estimated at around 300.000 maximum
Tổn thất
Ước tính khoảng 150-180.000 300.000,
Both tribes annihilated
.

Chiến tranh Cimbri(103-101 TCN) là cuộc chiến tranh xảy ra giữa Cộng hòa La Mã và các bộ tộc Giecman như người Cimbringười Teuton, họ đã di cư từ bán đảo Justland tới những vùng đất do người La Mã kiểm soát. Chiến tranh Cimbri là cuộc chiến đầu tiên kể từ chiến tranh Punic lần hai, Ý và chính La Mã bị đe dọa.

Thời điểm xảy ra cuộc chiến tranh đã có những ảnh hưởng đến chính trị nội bộ của La Mã, và tổ chức quân sự của nó. Chiến tranh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp chính trị của Gaius Marius. Mối đe dọa của người Cimbri, cùng với Chiến tranh Jugurtha, đã tạo ra bước ngoặt cho những cải cách của Marius đối với các quân đoàn La Mã.

Roma cuối cùng đã chiến thắng cuộc chiến tranh kéo dài và đẫm máu này - nó đã gây ra tổn thất to lớn cho quân đội La Mã kể từ sau chiến tranh Punic lần hai - với những chiến thắng tại Aquae SextiaeVercellae mà dẫn đến kết quả là đã gần như tàn sát hết 2 bộ lạc German. Một số tù binh sống sót được ghi lại là đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa của các võ sĩ giác đấu trong cuộc chiến tranh Nô Lệ lần ba.[1]

Sự di chuyển và xung đột[sửa | sửa mã nguồn]

Không có nguyên nhân cụ thể (có thể là do biến đổi khí hậu, xem Thời kì đồ sắt Tiền La Mã). Vào khoảng 120-115 TCN, người Cimbri đã rời bỏ quê hương của họ xung quanh biển Baltic thuộc bán đảo Jutland và phía Nam bán đảo Scandinavia. Họ di chuyển về hướng đông nam và sớm có sự tham gia của những người láng giềng với họ, có thể có người Teuton. Họ cùng nhau đánh bại các bộ lạc Scordisci, cùng với bộ lạc Boii, nhiều người trong số đó cũng đã tham gia với họ. Năm 113 TCN, họ tới được sông Donau, thuộc vùng Noricum, quê nhà của người Taurisci, đồng minh của người La Mã.

Những thất bại ban đầu của người La Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Năm sau, chấp chính quan La Mã là Gnaeus Papirius Carbo, dẫn quân tiến đến khu vực Norcium. Sau một cuộc duyệt binh hoành tráng, và chiếm được một vị trí phóng thủ vững chắc. Ông ta yêu cầu người Cimbri và đồng minh của họ phải rút khỏi khu vực này ngay lập tức. Người Cimbri lúc đầu tuân thủ nghiêm túc hiệp ước hòa bình với người La Mã. Nhưng khi họ biết được Carbo tập kích chống lại họ, họ tức điên lên bởi sự lật lọng này. Họ liền tấn công và trong trận Noreia tiêu diệt gần hết quân đội của Carbo, giết chết Carbo ngay tại trận.

Đường tới Ý giờ đây đã rộng mở trước mắt họ, nhưng vì một sô lý do, người Cimbri và các đồng minh của họ hướng về phía Tây, vượt qua dãy Anpơ và tiến vào Gaul. Năm 109 TCN, họ đã xâm chiếm hành tỉnh La Mã là Gallia Narbonensis và đánh bại quân đội La Mã dưới quyền Marcus Junius Silanus. Cùng năm đó, họ đánh bại một đội quân La Mã ở Burdigala (ngày nay là Bordeaux) và giết chết chỉ huy của nó, chấp chính quan Gaius Cassius Longinus Ravalla. Năm 107 TCN, người La Mã lại thất bại thêm một lần nữa lần này là người Tigurines- đồng minh của người Cimbri mà họ đã gặp trên đường vượt qua dãy An pơ.

Thảm họa tại Arausio[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 105 TCN, Roma và các chấp chính quan mới của nó, Quintus Servilius CaepioGnaeus Mallius Maximus đã quyết định rằng họ đã có quá đủ những kẻ xâm lược. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này một lần và duy nhất. Cộng hòa La Mã đã tập hợp một lực lượng lớn nhất kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai và có thể là lực lượng lớn nhất đã từng được phái ra chiến trường, với hơn 80.000 quân cùng với hàng chục ngàn người hỗ trợ và chia làm hai đạo quân, một dưới quyền Caepio và một được lãnh đạo bởi Maximus.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Strauss, Barry (2009). The Spartacus War. Simon and Schuster. tr. 21-22. ISBN 1-4165-3205-6. 
  • Mommsen, Theodor, History of Rome, Book IV "The Revolution", pp 66–72.
  • Dupuy, R. Ernest, and Trevor N. Dupuy, The Encyclopedia Of Military History: From 3500 B.C. To The Present. (2nd Revised Edition 1986) pp 90–91.