Avitus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Avitus
Hoàng đế của Đế chế Tây La Mã
Tremissis Avitus-RIC 2402.jpg
Hình Avitus trên một đồng tiền tremissis.
Tại vị 9 tháng 7, 455 – 17 tháng 10, 456
Đăng quang Toulouse, 9 tháng 7, 455
Tiền nhiệm Petronius Maximus
Kế nhiệm Maiorianus
Thông tin chung
Thân phụ Flavius Julius Agricola
Sinh 385
Clermont
Mất 457 (72 tuổi)
An táng Brioude

Eparchius Avitus [1] (385 [2]457) là Hoàng đế Tây La Mã trị vì từ ngày 9 tháng 7 năm 455 cho đến ngày 17 tháng 10 năm 456. Xuất thân từ giới quý tộc gốc Gaul-La Mã, là một Nguyên lão Nghị viênsĩ quan cấp cao trong cả chính quyền dân sự và quân sự, về sau bị viên Tổng tư lệnh quân đội Ricimer và tướng Maiorianus phế truất, bị đày đến Piacenza và được phong làm Giám mục ở nơi này.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Avitus sinh ra tại Clermont, trong một gia đình quý tộc có nguồn gốc thượng nghị viên thuộc tầng lớp quý tộc Gaul-La Mã, cha ông là Flavius Julius Agricola, quan chấp chính vào năm 421. Ông có hai người con, một trai và một gái, Agricola (440507, là vir inlustris), Ecdicius Avitus (về sau là patriciusmagister militum dưới thời Hoàng đế Julius Nepos) và, clarissima femina (người từng kết hôn với pháp quan thái thú Gaul Tonantius Ferreolus). Ông còn có mối quan hệ họ hàng với Magnus FelixPriscus Valerianus. Con gái Agricola, cũng mang tên Papianilla (490530), cưới một người có họ hàng với bà là Parthenius (485548), ở Patron vào năm 542 và có thể là cháu nội của Felix Ennodius.[3]

Sự nghiệp ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi bước vào binh nghiệp, thời trẻ, ông từng học luật, về sau được gửi đến trợ giúp patricius Flavius Constantius (làm Hoàng đế trong một thời gian ngắn vào năm 421) trong việc giảm bớt thuế má tại lãnh thổ của Constantius. Sứ mệnh thành công, một người bà con của ông là Theodorus đang là con tin tại triều đình của vua VisigothTheodoric I. Trong khoảng năm 425-426, ông tới viếng thăm triều đình của vị vua man rợ này để bàn định việc phóng thích Theodorus, cũng tại đây Avitus đã gặp và truyền cảm hứng thơ ca Latin và văn hóa La Mã cho Theodoric II, con trai của Theodoric I.

Trong thời gian phục dịch quân đội Tây La Mã, ông phục vụ dưới trướng của viên Tổng tư lệnh quân đội (magister militum) Aetius trong các chiến dịch quân sự chống lại người Juthungi, người Noric (430431) và người Burgundi (436). Năm 437, được thăng lên cấp bậc vir inlustris, sau đó ông trở về Alvernia đảm nhiệm chức vụ sĩ quan cấp cao, đồn trú tại Gaul, cùng năm đó, ông đánh tan một cuộc đột kích của người Hung gần Clermont, buộc vua Theodoric phải tạm ngừng cuộc vây hãm Narbonne. Năm 439, ông được bổ nhiệm làm Pháp quan thái thú Gaul, cùng năm đó, ông tái khôi phục việc ký kết một hiệp ước hữu nghị với người Visigoth nhằm đảm bảo an ninh trật tự tại xứ Gaul.

Mùa hè năm 440, ông từ chức về nghỉ hưu tại quê nhà của ông ở Avitacum, gần Clermont. Năm 451, người Hung, dưới sự thống lĩnh của Attila, xâm lược Đế chế Tây La Mã, Avitus sử dụng ảnh hưởng của ông để cố thuyết phục người Visigoth liên minh với La Mã. Sau cùng, Avitus và Theodoric dẫn quân đánh bại Attila tại Trận Châlons, kéo dài chút thời gian tồn tại cho Đế chế Tây La Mã.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối mùa xuân năm 455, Avitus được Hoàng đế Petronius Maximus bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh quân đội (magister militum), đồng thời phái ông làm sứ giả sang thuyết phục Hoàng đế Đông La Mã Thedoric II chính thức công nhận danh hiệu Hoàng đế cho Maximus và sự trợ giúp cho vị hoàng đế mới này.[4]

Trong khi Avitus đang ở triều đình của Thedoric để tiến hành việc thương thuyết thì nhận được tin hoàng đế Petronius Maximus bị giết vào ngày 22 tháng 5 năm 455, còn người Vandal thì chiếm được kinh thành Roma và tràn vào cướp phá thành phố này trong vòng hai tuần lễ. Ngay lập tức Thedoric phong Avitus làm Hoàng đế tại Toulouse vào ngày 9 tháng 7 năm 455.[5] Vị Hoàng đế mới này đã nhận được sự ủng hộ của các thủ lĩnh xứ Gaul ở Viernum,[6] gần Arelate và sự công nhận chính thức từ Viện nguyên lão La Mã vào ngày 5 tháng 8 năm 455.[7]

Avitus ở lại Gaul thêm ba tháng nữa để củng cố quyền lực của ông tại xứ này, cùng với quân đội người Goth dưới sự chỉ huy của viên tướng kiêm Tổng tư lệnh quân đội Remistus, hoàng đế tiến quân vào Noricum, khôi phục lại trật tự trị an ở tỉnh này, sau đó vượt qua Ravenna, tiến vào Roma vào ngày 21 tháng 9 năm 455. Ngày 1 tháng 1 năm 456, Avitus tự phong làm quan chấp chính tối cao La Mã, nhưng không được triều đình phương Đông công nhận.[8]

Thời kỳ trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt thời kỳ trị vì của Avitus, Đế chế Tây La Mã thường xuyên phải hứng chịu các cuộc tấn công rải rác dọc bờ biển nước Ý của người Vandal, dưới sự thống lĩnh của vua Gaiseric và các cuộc đột kích liên miên của người Visigoth, cũng như thiếu sự trợ giúp và ủng hộ về mặt quân sự, chính trị của Đế chế Đông La Mã vào thời điểm ấy, tuy cũng đôi lúc ngăn chặn được sự tấn công của người Rợ như trong một vài trận chiến ở Agrigento và một trận hải chiến khác ở Corse trong lãnh thổ nước Ý đã đánh bại quân đội Vandal dưới sự chỉ huy của viên Tổng tư lệnh quân đội Tây La Mã Ricimer.[9]

Là người đại diện cho tầng lớp quý tộc gốc Gaul-La Mã, ông phản đối việc thu hẹp phạm vi thống trị của Đế chế Tây La Mã về lại nước Ý, theo quan điểm cả về mặt hành chính và chính trị. Cũng vì lý do này, sau khi lên ngôi hoàng đế, ông đề cử một loạt các quan chức thuộc Nguyên lão gốc Gaul vào làm việc trong chính phủ của Đế chế Tây La Mã, chính sách này bị cả Nguyên lão Nghị viên thuộc tầng lớp quý tộc và dân chúng Roma chống đối dữ dội kể từ khi họ vừa trải qua nạn cướp phá thành Roma của người Vandal vào năm 455. Ngoài ra Avitus luôn giữ mối quan hệ rất tốt với người Visigoth, đặc biệt là nhà vua Thedoric II, người vừa là bạn vừa là người ủng hộ công nhận danh hiệu hoàng đế của Avitus, mối quan hệ này không kéo dài được lâu, ít lâu sau đó, người Visigoth kéo quân tràn vào xâm lược tỉnh Hispania của La Mã (Tây Ban Nha ngày nay) và từ chối giúp đỡ Avitus trấn áp một cuộc nổi loạn của những phe phái chống đối ông.[10]

Tuy nhiên người Visigoth đã bành trướng vào tỉnh Hispania (Tây Ban Nha ngày nay) mặc dù trên danh nghĩa là được sự cho phép của người La Mã, trên thực tế thì người Rợ đã tự mình kiểm soát các tỉnh trong phạm vi bành trướng của họ, Avitus từng gửi Fronto làm sứ giả tới chỗ người Suebi và vua Theodoric II của người Visigoth để yêu cầu họ tái công nhận sự thống trị của người La Mã nhưng đều bị từ chối, chỉ ít lâu sau, người Suebi toan công chiếm tỉnh Hispania Tarraconensis của La Mã nhưng bị người Visigoth chặn lại và đánh bại trong Trận Sông Urbicus vào ngày 5 tháng 10 năm 456, sau đó họ công khai chiếm đóng tỉnh này và sát nhập vào trong lãnh thổ của mình.

Tình hình trong Đế chế Tây La Mã, dưới sự cai trị của Avitus gặp khá nhiều khó khăn, sự oán giận của dân chúng La Mã đối với vị hoàng đế này ngày càng tăng vì các yếu tố như sau: thuế má nặng nề, thực phẩm khan hiếm, kho tàng trống rỗng, sự ưu đãi quá mức những người gốc Gaul-La Mã trong chính quyền, nạn lạm phát tăng cao khiến đời sống của nhiều cư dân Roma, sau vụ cướp phá Roma của người Vandal bị đảo lộn nghiêm trọng, cộng với việc giải tán đội vệ binh hoàng gia và phải chi trả một số lượng lớn tiền lương cho đội quân người Rợ của Avitus đã khiến cho hoàng đế thậm chí phải dỡ bỏ một số tượng đồng và nấu chảy nó ra để bán cho các thương nhân ngoại quốc nhằm đổi lấy tiền nhằm trang trải chi phí cho đội ngũ quan lại, viên chức, sĩ quan người Rợ của ông.[11] Tất cả những sự kiện đó đã khiến cho uy tín của hoàng đế giảm sút và sự bất mãn, chống đối của dân chúng và tướng lĩnh dâng cao khắp nơi trong Đế chế Tây La Mã.

Phế truất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 9 năm 456, Tổng tư lệnh quân đội Ricimercomes domesticorum Maiorianus tuyên bố công khai nổi dậy chống lại Avitus, họ giết chết viên Tổng tư lệnh Remistus tại Ravenna [12] và dẫn quân nổi loạn xông vào thành Roma lùng bắt hoàng đế, nhưng Avitus đã nhanh chóng trốn thoát khỏi Roma và rút về hướng bắc nước Ý. Sau đó hoàng đế lập tức triệu hồi và phong viên tướng trung thành với ông là Messianus làm Tổng tư lệnh quân đội Tây La Mã tại Gaul (sử gia Hydatius thì lại nói là ở Arelate) [13], thu thập tàn quân còn lại, thống lĩnh quân đội tiến đánh Ricimer tại Piacenza. Sau một trận đánh ác liệt đẫm máu, Ricimer đánh bại và giết chết Messianus, còn hoàng đế Avitus thì bỏ chạy và bị bắt sống vào ngày 17 hoặc 18 tháng 10 năm 456.

Cuối cùng Ricimer và Maiorianus quyết định tha mạng cho vị Hoàng đế bại trận này, nhằm đề phòng những âm mưu nổi loạn có thể xảy ra, họ phế truất và lưu đày Avitus tới Piacenza và phong chức Giám mục Piacenza cho ông.[14][15]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Avitus mất đột ngột vào năm 457 mà không rõ nguyên nhân, tuy vậy tại một số tỉnh của Đế chế Tây La Mã vẫn còn xem ông là hoàng đế hợp pháp, sử gia đương thời Hydatius từng sống tại Tây Ban Nha cho rằng ông mất chính xác là vào năm 457,[16] hơn nữa, một sử gia khác là Sidonius Apollinaris kể lại một cuộc đảo chính thất bại tại Gaul do viên tướng La Mã Marcellus tổ chức,[17] có khả năng nhằm mục đích đưa Avitus trở lại ngôi vị hoàng đế.[18]

Avitus thừa biết Viện nguyên lão đã kết án tội chết cho ông, nên ông bèn chạy trốn sang Gaul, mang theo cả đống tặng phẩm trong pháp đình Thánh Julian ở Alvernia, quê nhà của ông. Theo sử gia Gregory xứ Tours cho biết thì Avitus qua đời trong suốt chuyến đi này [19], một số nguồn tài liệu khác thì chỉ nói Avitus bị Maiorianus và Ricimer giết chết.[20] Cho đến giờ cái chết của Avitus vẫn còn là một bí ẩn đối với các sử gia hiện đại lẫn cổ xưa.

Thi thể của ông được chôn cất tại Brioude, kế bên mộ Thánh Julian.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ In older literature the names Marcus Maecilius Avitus was reported, but now only Eparchius is accepted. ICVR-08, 20823: Locus Geronti presb(yteri) / depositus XIIII Kal(endas) Iul(ias) / cons(ulatu) Eparchi Aviti.
  2. ^ Avitus was appointed to his first political task around 420. Sidonius Apollinaris described him as a iuuenis, something năm the thirties standing.
  3. ^ Papianilla
  4. ^ Petronius Massimus ascended to the throne on March 17, 455, after Emperor Valentinian III had been killed by a conspiracy năm which Petronius was involved.
  5. ^ Fasti vindobonenses priores tell about July 10.
  6. ^ According to Sidonius Apollinaris, vii.571–579, Avitus was crowned with a torc, the typical Gallic neck ring with whom also Julian had been crowned.
  7. ^ Fasti vindobonenses priores, n. 575; Cassiodorus, 1264.
  8. ^ Auctuarium Prosperi, 7.
  9. ^ Hydatius, 176–177.
  10. ^ Priscus, History, fragment 24.
  11. ^ John of Antioch, fragment 202.
  12. ^ Fasti vindobonenses priores, 579; Auctuarium Prosperi, 1.
  13. ^ Hydatius, 177.
  14. ^ Fasti vindobonenses priores, 580 (ghi ngày 17 tháng 10 là ngày diễn ra trận đánh); Auctuarium Prosperi, s.a. 456 (nói là ngày 18 tháng 10); Victor of Tuenna, s.a. 455 (kể việc Avitus được phong chức Giám mục bởi Giám mục của Milan, Eusebius).
  15. ^ Lesley Adkins, Roy A. Adkins (2004). Handbook of Life năm Ancient Rome. Infobase Publishing. tr. 37. 
  16. ^ Hydatius, Chronicle, 183..
  17. ^ Sidonius Apollinaris, Letters, i.11.6.
  18. ^ Mathisen.
  19. ^ Gregory of Tours, Historia Francorum, ii.11.
  20. ^ Chronica Gallica of 511, 627–628.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn tài liệu chính[sửa | sửa mã nguồn]

Những nguồn tài liệu chính về cuộc đời của Avitus cho tới khi ông lên ngôi phần lớn đều là những bản văn tán tụng do quan chấp chính Sidonius Apollinaris (431486) viết:

Về lịch sử triều đại của Avitus thì do sử gia người Tây Ban Nha Hydatius (400469) và nhà viết sử biên niên thời kỳ Byzantine John xứ Antioch (nửa đầu thế kỷ thứ 7) biên soạn:

Nguồn tài liệu phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tước hiệu
Tiền vị:
Petronius Maximus
Hoàng đế Tây La Mã
455–456
Kế vị
Maiorianus
Chức vụ
Tiền vị:
Flavius Placidus Valentinianus Augustus
Procopius Anthemius
Quan chấp chính tối cao của Đế chế La Mã
456
cùng IohannesVaranes
Kế vị
Flavius Constantinus,
Flavius Rufus