Flavius Aetius

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Flavius Aetius, hoặc đơn giản là Aëtius (khoảng 396-454), Quận công kiêm quý tộc ("dux et patricius"), là danh tướng La Mã vào thời kỳ cuối của Đế chế Tây La Mã. Do thưở nhỏ ông là con tin dưới trướng vua Alaric I người Goth và vua Rugalia người Hung, ông được học hỏi nhiều về binh cách. Đầu tiên, ông là tướng dưới quyền của ông vua cướp ngôi Joannes, sau đó ông theo về Hoàng đế Valentinianus III.[1] Ông là một chỉ huy quân sự tài năng và là một trong những người có thế lực nhất ảnh hưởng đến Đế chế trong suốt hai thập kỷ (433-454). Trong thời gian đó ông chẳng khác gì một vị vua không ngai của Đế quốc Tây La Mã. Điều đó không những nhờ tài điều binh khiển tướng kiệt xuất của ông mà còn nhờ tài ngoại giao của ông nữa.[2] Với tư cách là người cầm đầu ba quân, ông đối phó với những cuộc tấn công của các rợ vào Đế quốc khi đó. Nổi bật hơn cả là sự kiện ông tập hợp và chỉ huy một đội quân bao gồm các chiến binh La Mã và rợ đánh tan tác quân tinh nhuệ Hung của Attila trong Trận Chalons vào năm 451, kết thúc cuộc xâm lược nổi tiếng của người Hung vào Đế chế Tây La Mã.

Cùng với thống đốc BonifaciusStilicho, Aetius thường được các sử gia đời sau gọi là "người La Mã cuối cùng" với ngụ ý rằng, sau ông, La Mã không thể sản sinh được một người nào khác xứng đáng xếp cùng với các bậc anh hùng thuở xưa. Nhà sử học Anh Edward Gibbon thường nhắc đến ông là "nhân vật được tuyên dương ở khắp nơi bởi nỗi khiếp sợ của bọn người man rợ và là người ủng hộ nền Cộng hòa", nhờ vào chiến thắng trứ danh của ông tại Chalons. Có lẽ, chiến công hiển hách này của ông đã cứu vãn cả nền văn minh phương Tây khỏi mối đe dọa đáng sợ của Đế quốc Hung.[3] Thế nhưng, trước tiếng tăm lẫy lừng của ông, Hoàng đế Valentinianus III đố kỵ ông và ám sát vị đại tướng kiệt xuất. Ít lâu sau đó, các bộ tướng cũ của ông ám sát nhà vua và thù của ông đã được trả.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Flavius Aetius sinh tại Durostorum ở vùng Hạ Moesia (nay là Silistra, Bungari) vào năm 396. Cha ông là Flavius Gaudentius, một người lính La Mã gốc Scythia,[4][5] mẹ ông không rõ họ tên, xuất thân từ một gia đình quý tộc giàu có gốc Ý.[6] Vào năm 425, Aetius kết hôn với một người con gái không rõ họ tên của Carpilio,[7] hạ sinh một người con trai cũng tên là Carpilio.[8] Về sau ông còn kết hôn với Pelagia, góa phụ của Bonifacius, có thêm một người con trai nữa là Gaudentius. Ngoài ra ông còn có một cô con gái nữa không rõ họ tên, về sau là vợ của Thraustila, người đã trả thù cho cái chết của Aetius bằng cách lập mưu ám sát Hoàng đế Valentinianus III.[9]

Sự nghiệp ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Tấm bia khắc tranh bộ đôi về quan chấp chính Flavius Felice vào năm 428, một trong những đối thủ của Aetius, sau bị Aetius xử tử vào năm 430.

Thửa thiếu niên, ông là đầy tớ hầu hạ trong cung, về sau ghi danh vào phục vụ trong một đơn vị quân đội là tribuni praetoriani partis militaris.[10] Từ năm 405 cho đến năm 408, ông bị bắt làm con tin tại triều đình của Alaric I, vua người Goth. Vào năm 408, Alaric đề nghị phóng thích ông, nhưng Aetius từ chối, rồi ông được chuyển tới làm con tin tại triều đình của Rugila, vua người Hung.[11] Gibbon và một số nhà sử học khác cho rằng Aetius là kết quả của sự giáo dục giữa các dân tộc man khai mạnh mẽ và hiếu chiến như người Hung đã tôi luyện cho ông một sức mạnh hùng dũng và tinh thần thượng võ mà người La Mã đang dần mất đi vào giai đoạn đó.[12] Thật vậy, dưới trướng của cả Alaric và Rugila, ông đã được học hỏi về việc dụng binh, nhất là về nghệ thuật lãnh đạo Kỵ binh.[1]

Năm 423, Hoàng đế Tây La MãHonorius qua đời. Người có uy quyền lớn nhất là Castinus, đã chọn Joannes, một viên Sĩ quan cấp cao làm người kế vị, dù cho Joannes không thuộc về dòng dõi của Vương triều Theodosius và ông cũng không nhận được sự công nhận của Triều đình phương Đông. Hoàng đế Đông La MãTheodosius II, cùng đại tướng Aspar thống lĩnh quân đội tiến hành chinh phạt Triều đình Joannes ở phương Tây, đặt người em họ của ông là Valentinianus III (cháu Honorius) lên ngôi Hoàng đế Tây La Mã. Aetius được Hoàng đế Joannes bổ nhiệm làm cura palatii và được phái đến nhờ sự giúp đỡ của người Hung, tuy nhiên Joannes cùng các Thượng quan trong Triều đình của ông này bị quân đội của Valentinianus III bắt sống và giết chết vào tháng 6 hoặc là tháng 7 năm 425. Một thời gian ngắn sau, Flavius Aetius trở lại cùng với đội quân người Hung và phát hiện ra rằng quyền bính của Đế chế phương Tây đều nằm trong tay vua Valentinianus III và mẹ ông này là Galla Placidia. Sau khi chiến đấu với đội quân của Aspar do Galla Placidia phái đến nhằm trừ khử ông, nhận thấy đang rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, Aetius quyết định tiến hành thỏa hiệp với Thaí hậu Galla Placidia rằng ông sẽ rút quân người Hung về và phải phong cho ông làm comes et magister militum per Gallias (Tổng tư lệnh quân đội xứ Gaul).[13]

Vào năm 426 Flavius Aetius đánh tan tác quân Tây Goth và buộc họ phải từ bỏ cuộc bao vây thành Arelate. Vào năm 428, ông tỏ ra thành công trong việc chiến đấu chống lại người Frank và tái chiếm lại hầu hết các tỉnh nằm dọc sông Rhine.[14] Tiếp đó vào năm 429, Aetius được phong làm Tổng tư lệnh quân đội ("magister militum"). Cũng trong năm đó, ông đập tan nát người Juthungi tại Raetia và tiêu diệt một nhóm người Tây Goth ở gần Arelate, bắt sống được thủ lĩnh của họ là Anaolsus. Vào năm 431, ông đánh tan tác người Nori tại Noricum, quay trở lại xứ Gaul, ông nghênh đón Hydatius, Giám mục xứ Aquae Flaviae, người hay phàn nàn về cuộc tấn công của người Suebi.

Vào tháng 5 năm 430, Aetius buộc tội quan chấp chính Flavius Felix vì có âm mưu chống lại ông và xử tử cả nhà Felix để trừ hậu hoạn. Vào năm 432, Aetius một lần nữa đánh bại một cuộc tấn công của người Frank, ký kết hòa ước với họ và gửi trả Hydatius đến chỗ người Suebi tại Iberia.[15]

Tranh giành quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ năm 425, Aetius là một trog hai tướng lĩnh dưới quyền Flavius Constantius Felix, người thứ hai là Bonifacius, Thống đốc Châu Phi, sự tranh giành quyền lực giữa hai viên tướng bắt đầu gia tăng vào cùng năm đó. Aetius âm mưu chống lại Bá tước (comes) Châu Phi, khiến cho Bonifacius bị thất sủng với Galla Placidia vào năm 427. Năm 429, Bonifacius cuối cùng phải trở về Ý để ủng hộ Placidia, trước khi một cuộc nổi loạn bùng nổ tại Châu Phi và việc kêu gọi sự trợ giúp từ người Vandal. Những nỗ lực tối đa của Aetius cũng không thể ngăn cản được người Vandal tiến vào lập nước riêng của họ ở Bắc Phi. Vua Gaiseric của Vandal chiếm lĩnh được Carthage, thành phố thứ hai của đế quốc phía Tây vào năm 439 và xây dựng một hạm đội hải tặc hoàng hành khắp nơi ở vùng biển Địa Trung Hải.[16]

Sau cái chết của Felix vào tháng 5 năm 430, bắt đầu bùng nổ cuộc đấu tranh quyền lực giữa hai nhân vật chính còn lại, Aetius và Bonifacius. Vào năm 432, Aetius giữ chức quan chấp chính tối cao và Bonifacius được Thái hậu Galla Placidia triệu về Ý bổ nhiệm chức quý tộc (patrician), Sau cùng Aetius quyết định hành quân chiến đấu chống lại Bonifacius trong Trận Rimini, Bonifacius thắng trận nhưng vì vết thương quá nặng nên ông này qua đời chỉ vài tháng sau. Aetius chỉ huy quân đội cùng với đồng minh là người Hung, tiến tới thành La Mã, vượt qua DalmatiaPannonia, được sự trợ giúp và ủng hộ của người Hung, Aetius sớm khôi phục lại quyền lực về tay ông, đồng thời tiếp nhận danh hiệu magister utriusque militiae từ triều đình phương Tây, sau đó ông cho đày người con rể của Bonifacius, Sebastianus, người kế tục Bonifacius giữ chức magister militum praesentalis, từ Ý đến kinh thành Constantinopolis, chiếm đoạt hết tài sản và kết hôn với người vợ của Bonifacius là Pelagia.[17]

Chiến dịch chống lại người Burgundi, Bagaudae, và Tây Goth[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 433 đến 450, Aetius là nhân vật chi phối toàn bộ quyền bính của Đế chế Tây La Mã, ngày 5 tháng 9 năm 435 ông được ban cho tước hiệu quý tộc (patrician) đóng vai trò là người bảo hộ Galla Placidia và là quan Nhiếp chính của Hoàng đế Valentinianus III. Đồng thời ông tiếp tục hướng sự chú ý đến xứ Gaul. Vào năm 436, Aetius đánh bại quân đội của Gunther, vua xứ Burgundi và buộc phải chấp nhận ký kết hiệp ước hòa bình với Tây La Mã, cùng năm đó, Aetius cùng với tướng Litorius dưới quyền đem quân trấn áp một cuộc nổi loạn của Bacaudae tại Armorica. Trong hai năm tiếp theo, đại tướng Aetius tiến hành các chiến dịch quân sự chống lại người Suebi và Tây Goth. Vào năm 438, Aetius chỉ huy quân La Mã đánh bại người Tây Goth tại Trận Mons Colubrarius, đến năm 439, thì người Tây Goth dẫn quân đánh bại và giết chết viên tướng dưới quyền Aetius là Lictorius. Khi trở lại Ý, ông được Viện nguyên lão và dân chúng thành La Mã tán dương, ca ngợi, thậm chí Hoàng đế Valentinianus III còn cho dựng tượng ông để hưởng ứng, sự kiện này được ghi lại trong những bài văn tán tụng của Merobaudes.[18]

Vào năm 443, Aetius cho phép những người Burgundi còn lại được định cư ở Savoy, phía nam Hồ Geneva. Nhưng mối quan tâm cấp bách nhất của ông chính là những vấn đế tại Gaul và Iberia, chủ yếu là với Bagaudae. Ngoài ra ông còn cho phép người Alan tới định cư ở khoảng giữa ValenceOrléans chứa đựng những bất ổn xung quanh bán đảo Brittany ngày nay.

Việc người Alan định cư tại Armorica gây ra khá nhiều vấn đề rắc rối vào năm 447 hoặc 448. Cũng trong thời gian này, người Frank, dưới sự thống lĩnh của vua Clodio, đã tấn công vào khu vực gần Arras, ở Belgica Secunda, Aetius mau chóng ngăn chặn kẻ xâm lược gần Vicus Helena, nơi ông trực tiếp chỉ đạo cuộc hành quân trong khi người chỉ huy của ông là Majorian (về sau trở thành Hoàng đế) chiến đấu trong đội kỵ binh.[19] Vào năm 450, Aetius khôi phục lại mối quan hệ tốt với người Frank. Cùng năm đó, trên thực tế, vị vua của người Frank là Clodio đã qua đời, một viên quý tộc (patricius) ủng hộ con trai của Clodio lúc này đang ở thành La Mã quay trở về lên ngôi vua xứ Frank.[20]

Đánh bại Attila tại Chalons[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ tiến công của quân Hung trong cuộc xâm lược xứ Gaul, dẫn đến Trận Chalons.

Một mối đe dọa thậm chí còn tồi tệ hơn đã khiến đại tướng Aetius phải chú ý đến phía Bắc. Quân Hung, những Kỵ binh thiện chiến gây kinh hoàng khắp mọi nơi, đã xây dựng một đế quốc trải dài từ sông Volga đến vùng Baltic. Vua Attila vĩ đại nhất của họ, được mệnh danh trong lịch sử là "chiếc roi da của Thượng Đế" (tiếng Latin: flagellum dei), đã tàn phá những tỉnh thuộc châu Âu của đế quốc La Mã ở phía Đông vào năm 440 và sau đó bắt đầu tiến dần về phía Tây, để tránh thảm họa chiến tranh gây bất lợi cho đế chế Tây La Mã, Aetius đã ký kết một thỏa thuận cho phép một bộ phận của người Hung được định cư tại Pannonia, dọc theo Sông Sava, ông còn gửi đến cho Attila, vua người Hung, một viên thư ký tên là Constantius trợ giúp và xoa dịu tính khí hiếu chiến của vị vua này. Vào năm 449, Attila tức giận vì bị mất trộm một món đồ mạ vàng, và Aetius lập tức gửi sứ giả sang trấn an, Attila đáp lại bằng một món quà nho nhỏ là một người lùn tên Zerco, người sau này được Aetius trao trả lại cho người chủ đầu tiên, Aspar.[21]

Tuy nhiên mối quan hệ tốt đẹp giữa người La Mã và người Hung không kéo dài được bao lâu, ngay khi Attila muốn công chiếm xứ Gaul, ông ta thừa biết Aetius lúc đó đang là tổng chỉ huy quân đội La Mã xứ Gaul là một chướng ngại vật quan trọng cho sự nghiệp của ông ta, vì thế ông cố gắng loại bỏ nó ngay lập tức.[22] Vào năm 451, một đạo quân người Hung đông đảo dưới sự thống lĩnh của Attila, bắt đầu đồng loạt tràn vào tấn công xứ Gaul, họ chiếm được vài thành phố và tiến dần hướng về Orléans (nay thuộc Pháp).[23]

Khi người Alan sống trong khu vực này bắt đầu đào ngũ sang phe Attila, Aetius, với sự giúp đỡ từ một Nguyên lão Nghị viên có thế lực nhất lúc đó là Avitus, đã cử người sang thuyết phục vua xứ Tây Goth là Theodoric I gia nhập vào liên minh của người La Mã để chống lại mối đe dọa từ bên ngoài, tiếp đến, ông ngăn chặn thành công Sangibanus, đồng minh của Attila từ việc kết hợp giữa hai đạo quân lại với nhau. Liên quân La Mã - Tây Goth tiến tới giải vây cho thành phố Orléans, buộc quân Hung phải từ bỏ cuộc bao vây và rút khỏi nơi đây.[24]

Vào ngày 20 tháng 9 năm 451 (một số nguồn tài liệu khác thì ghi là ngày 20 tháng 6 năm 451),[25] quân đội của Aetius và Theodoric đã chạm trán với đội quân người Hung của Attila và đồng minh trong Trận Châlons[26]. Để chống nhau với Attila, ông có đến 5 vạn lính đánh thuê người German. Đêm trước trận đại chiến này, đại tướng Flavius Aetius đã tấn công và tiêu diệt được đội hậu binh của Attila.[3] Ông không ngừng nhiệt huyết: ông đóng quân ở một dãy đồi dài, hình chữ U gần đại bản doanh của Attila. Cũng như mọi đại tướng La Mã khác từ cổ chí kim, hẳn là ông đã học hỏi được từ chiến thắng của Hannibal trong trận Cannae vào năm 216 trước Công Nguyên. Ông bố trí quân tinh nhuệ nhất của ông - gồm quân Tây Goth của vua Theodoric chỉ huy và quân La Mã do chính ông thống suất ở hai bên. Quân Frank và quân Alan được ông bố trí cho ở giữa. Trong trận đánh kịch liệt, Theodoric bị mất mạng nhưng quân của Aetius đã chiến thắng vẻ vang, chọc thủng tuyến của người Gepid (đồng minh của người Hung[3]) và làm chủ trận địa lúc màn đêm buông xuống. Liên quân La Mã - Tây Goth tiêu diệt được rất nhiều kẻ thù.[27][28] Khi đại thắng rồi, đại tướng Flavius Aetius cho quân hạ trại nghỉ đêm trên bãi chiến trường. Ban đầu, ông quyết định kết liễu vua Attila.[3] Tuy có khả năng nhưng ông không tiêu diệt hoàn toàn Attila vì sợ rằng một khi kẻ thù chung là người Hung bị triệt hạ, người Tây Goth sẽ tìm cách xâm chiếm xứ Gaul. Đại thắng hiển hách tại Châlons của Aetius được nhiều người coi là một trong những chiến thắng quyết định nhất trong lịch sử nhân loại, qua đó ông đã cứu vãn nền văn minh La Mã và đức tin Ki-tô giáo thoát khỏi sự tấn công của một man tộc châu Á.[29] Sau đó, ông gợi ý cho người con trai của Theodoric là Thorismund nhanh chóng tiến về Toulouse (kinh đô của Vương quốc Tây Goth) để đảm bảo ngôi vị của mình, cũng vì lý do đó mà có tài liệu nói rằng Aetius đã chiếm giữ hết chiến lợi phẩm cho đạo quân của ông.[30] Đến khi tàn quân Hung - Đông Goth rút lui khỏi bãi chiến trường, ông cho quân đuổi theo, và cuộc truy kích kết thúc khi quân địch vượt qua biên giới. Liên minh giữa các chiến binh La Mã của Aetius và các chiến binh rợ kết thúc khi người rợ đều trở về quê hương.[27]

Với chiến thắng vang dội của liên quân Tây La Mã - German do Aetius chỉ huy, người Hung không còn là một mối đe dọa nghiêm trọng của nền văn minh phương Tây[3]. Attila quay trở lại vương quốc của ông ta sau khi bại trận tại Chalons-sur-Marne vào năm 452 để tổ chức lễ kết hôn vội vã với Hoàng tỷ của Valentinianus III là nàng Honoria, Aetius nhận thấy không cần thiết phải đề phòng ngăn chặn đường quân Hung đột nhập từ đèo Anpơ vào Ý, tiếp đến Attila dẫn quân xâm chiếm và tàn phá khắp nước Ý, cướp phá nhiều thành phố và đốt trụi Aquileia hoàn toàn trong suốt cuộc hành quân mà không gặp một sự chống trả nào. Valentinianus III bỏ chạy từ kinh thành Ravenna tới thành cũ La Mã, trong khi Aetius vẫn không sợ quân địch, thế nhưng vị kiệt tướng không thể xông pha trận tiền được do ba quân chịu tổn thất quá nặng nề, ông lại quá đơn thương độc mã để có thể lập nên những thắng lợi quân sự hiển hách. Tuy nhiên, theo nhà sử học Edward Gibbon, Aetius không bao giờ thể hiện tài năng kiệt xuất của mình rõ hơn giờ phút này: khi ông bị mọi đồng minh bỏ rơi mà vẫn giữ vững được chiến trường, vẫn tiến hành quấy rối và nán lại được cuộc tiến công của Attila chỉ với một lực lượng ngầm.[31][32] Cuối cùng Attila dừng chân tại Po, nơi ông ta gặp một phái đoàn sứ thần bao gồm quan Thái thú La Mã Trigetius, cựu chấp chính quan Gennadius AvienusGiáo hoàng Lêô I tới để thuyết phục ông ta từ bỏ các hành động quân sự, Attila đồng ý rút quân băng qua núi Alps quay về. Hai năm sau, Attila chết và đế quốc của ông ta cũng theo đó mà sụp đổ.[31]

Ám sát[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 453, Aetius cho tiến hành lễ đính hôn giữa con trai ông là Gaudentius với con gái của hoàng đế ValentinianUS III là Placidia để tiến thêm một bước nữa trong đỉnh cao sự nghiệp chính trị của ông, tuy nhiên hoàng đế lo sợ cuộc hôn nhân này của Aetius có thể ảnh hưởng xấu đến uy quyền và ngôi vị của mình, vì thế đã mời Nguyên lão Nghị viên La Mã là Petronius Maximus và viên thị thần Heraclius tham gia vào kế hoạch sát hại Aetius. Vào ngày 21 tháng 9 năm 454, trong khi triều đình tại Ravenna chuyển tới một bản kê khai tài chính thì Aetius bị đích thân hoàng đế Valentinianus III đâm chết. Valentinianus III là một ông vua yếu kém và có lẽ ông ta ám sát Aetius theo lời xàm tấu của một vài triều thần đố kỵ với vị đại tướng lừng danh.[1] Sử gia Edward Gibbon tin vào lời bình phẩm, nhận xét của Sidonius Apollinaris về hành động sát hại Aetius của hoàng đế Valentinianus III: "Muôn tâu Hoàng thượng, Hạ thần là một thằng dốt nát, vì cái cớ khiêu khích của Người, Hạ thần chỉ biết rằng Người hành động như thể một người đang tự chặt đứt bàn tay phải cùng bàn tay trái của mình".[33]

Sau đó Maximus dự định thế chỗ của Aetius làm Tổng tư lệnh quân đội nhưng bị hoàng đế Valentinianus III từ chối, cộng với sự ganh ghét của Heraclius khiến cho Maximus quyết định ra tay hành động ngay khi có thể, ông cho sắp đặt cho hai thuộc hạ từng phục vụ dưới quyền Aetius là OptilaThraustila thực hiện vụ ám sát hoàng đế và Heraclius. Vào ngày 16 tháng 3 năm 455, Optila đâm chết hoàng đế khi nhà vua đang xuống ngựa dừng lại ở Campus Martius để luyện tập bắn cung. Trong khi đó Thraustila truy đuổi và giết chết Heraclius cùng một lúc.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Di sản quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Aetius nhìn chung được coi là một viên chỉ huy quân sự có tài năng thực sự, tài năng quân sự của ông khiến ông nhận được sự kính mến và lòng quý trọng to lớn từ Đế chế Tây La Mã, vì thế ông được mọi người xưng tụng là "người La Mã cuối cùng" còn lại của Đế chế phương Tây. Hầu hết các sử gia đều cho rằng Trận Chalons có ý nghĩa hết sức quan trọng, chính trận chiến này đã đánh tan tác huyền thoại bất khả chiến bại của Attila.[34] Với chiến thắng huy hoàng này, danh tiếng của ông trở thành bất hủ vì đã đánh tan tác cuộc xâm lược của Attila.[35] Đến nỗi sử gia Gibbon đã phát biểu hùng hồn quan điểm theo đa số:

việc ông ta (Attila) rút lui từ bên kia sông Rhine đã phải công nhận rằng chính chiến thắng cuối cùng này còn giữ lại được cái tên của Đế chế Tây La Mã..".[4]

Đồng thời, Gibbon cũng công nhận Aetius là một trong những "người La Mã cuối cùng".[35] Còn theo sử gia John Julius Norwich thì cay độc đổ tội ám sát Aetius của hoàng đế Valentinianus III do những tên lính gác của ông thực hiện đã khiến cho hoàng đế gặp phải họa sát thân khi thực hiện vụ mưu sát ngu xuẩn vào Aetius "vị đại tướng vĩ đại nhất của Đế chế. " [36] Vì thế di sản quân sự của Aetius được định hình ngay tại Châlons, dù cho ông có cai trị đế chế phương Tây một cách hữu hiệu từ năm 433-450, và những cố gắng nhằm ổn định các vùng biên giới ở châu Âu dưới sự tràn ngập dồn dập của người man rợ, mà kẻ tiên phong đầu tiên là Attila người Hung.

Một trong những thành tựu quan trọng nhất của ông đó chính là việc tập hợp một liên minh hùng hậu nhằm chống lại Attila như học giả Arther Ferrill đã ghi lại trong một tác phẩm của mình như sau:

Sau khi chia quân bảo vệ sông Rhine, Attila di chuyển tới vùng Trung Gaul và tiến hành bao vây Orléans. Mục tiêu chính của ông là chiếm giữ một vị trí vững mạnh để làm bàn đạp cho việc chinh phục người Đông Goth ở Aquitaine, nhưng Aetius mau chóng tìm kiếm một liên minh ngõ hầu chống lại người Hung. Lãnh tụ của người La Mã đã thiết lập một liên minh hùng mạnh bao gồm các dân tộc man rợ như Đông Goth, Alan và Burgundi, tập hợp họ lại với kẻ thù truyền thống của họ, người La Mã, vì mục đích phòng thủ xứ Gaul. Dù cho các phe có ra sức bảo vệ Đế chế Tây La Mã đi nữa thì tất cả bọn họ đều có cùng một mối căm thù với người Hung, nó thực sự là một thành công vượt trội của Aetius khi ông hướng họ đến mối quan hệ quân sự hữu hiệu.

Trong khi sử gia J. B. Bury xem Aetius như là viên chỉ huy quân sự vĩ đại, và là một nhân vật lịch sử phi thường, ông không cho trận chiến tự nó là một nhân tố quyết định ngoại lệ. Ông lập luận rằng Aetius tấn công người Hung khi họ đã rút lui từ Orléans, và từ chối tiếp tục các cuộc tấn công người Hung vào ngày hôm sau, chính xác là để bảo toàn sự cân bằng quyền lực giữa đôi bên. Một ý kiến khác của Bury là ông cho rằng chính Trận Nedao chứ không phải Trận Chalons mới quyết định đến sự tồn vong của Đế quốc Hung tại châu Âu.

Nhìn chung các ý kiến, nhận xét và bình phẩm về ảnh hưởng của Trận Chalons hiện vẫn còn tiếp tục gây ra tranh cãi giữa các sử gia.

Tranh luận[sửa | sửa mã nguồn]

Khá nhiều ý kiến bàn cãi xoay quanh vấn đề về di sản của Aetius cũng như những gì đã xảy ra tương tư cho Stilicho. Cả hai đều là những vị đại tướng La Mã tài ba nhất và đều bị sát hại bởi sự đố kỵ của hoàng đế, cái chết của họ đã dẫn tới sự suy yếu tột cùng của Đế chế. Điểm khác biệt chính giữa cả hai mà tất cả các sử gia danh tiếng đều cho rằng Aetius là người La Mã khá trung thành với hoàng đế và là trụ cột của Đế chế, trong khi sử gia Bury lại phát hiện ra rằng Stilicho là một kẻ phản bội không cố ý. Vào thời điểm cái chết của Aetius, tất cả các tỉnh của La Mã tại Tây Âu đều tràn ngập sự hiện diện của người man rợ. Do nhận sức mạnh quân sự đáng gờm của họ mà Đế chế khó có thể chế ngự được, nên Aetius đã không trục xuất họ ra khỏi biên giới của Đế chế mà ngược lại, ông còn cho phép họ được định cư bên trong lãnh thổ của người La Mã để đổi lấy hòa bình và hưởng những ưu đãi về quân sự của họ. Edward Gibbon rút ra kết luận về một chi tiết quan trọng cho rằng người La Mã đã dần đánh mất sức mạnh quân sự và tinh thần thượng võ, hậu quả là chỉ có những lực lượng dưới quyền những tướng lĩnh tài năng như Stilicho và Aetius mới có thể kiểm soát được phần lớn người rợ.[37]

Ngoài ra Gibbon còn nhìn nhận Aetius như một nguồn ánh sáng lạc quan cho đế quốc La Mã đang bước vào thời kỳ suy tàn giống như các ý kiến, nhận xét của các sử gia, học giả như Norwich, Creasy, Ferrill, và Watson. Vào năm 1980, Robert F. Pennel viết trong cuốn Ancient Rome from the Earliest Times Down to 476 A.D (La Mã cổ đại từ khởi thủy cho đến năm 476):

Đế chế tự bản thân nó giờ chỉ còn là một vết tích. Các xứ như Gaul, Tây Ban Nha, và Anh quốc thì hầu như đã mất, Illyria và Pannonia thì nằm trong tay của người Goth, và Bắc Phi sớm bị người rợ thâu tóm. Valentinian khá may mắn khi sở hữu được danh tướng Aetius, sinh trưởng ở Scythia, người đã giữ cho cái tên La Mã kéo dài sự tồn tài của nó và được người đời phong tặng danh hiệu Người La Mã Cuối Cùng. Về sau ông bị ám sát bởi vị hoàng đế vô ơn Valentinian.."[38]

Tuy nhiên đã có nhiều ý kiến bất đồng trong việc đánh giá vai trò lịch sử của Aetius từ các sử gia từ xưa đến nay, theo các sử gia như Gibbon, Norwich và Bury thì coi ông là người bảo vệ La Mã trong suốt ba thập kỷ từ sự tấn công tràn lan của người rợ, còn Sir Edward Creasy thì ca ngợi ông là người anh hùng trong trận Châlons, một số khác thì lại phê phán rằng ông đã để mất các tỉnh Bắc Phi của Đế chế vào tay người Vandal, đến như sử gia nổi tiếng như Bury, thường hay phê bình về ông cũng đã phải thốt lên một câu hỏi tỏ vẻ hối tiếc khi nói về cái chết của Aetius: Giờ đây ai sẽ là người giải cứu vùng Ý thoát khỏi người Vandal ?. Chẳng có nhân vật nào có đủ khả năng để thế chỗ Aetius và đảm trách việc bảo vệ và phòng thủ phương Tây. Chỉ có một điều chắc chắn là vai trò của đại tướng Flavius Aetius trong lịch sử sẽ được người đời mãi mãi ghi nhớ về thành tựu to lớn của vị đại tướng La Mã phía Tây cuối cùng và là người đã đánh bại cây roi da của Thượng Đế Attila người Hung.[39]

Aetius trong nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Aetius là nhân vật chính trong vở nhạc kịch Ezio của Handel, và Attila của Verdi.

Aetius là một vai diễn do nam diễn viên Powers Boothe đóng trong bộ phim truyền hình nhiều tập Attila của Mỹ trong đó ông được miêu tả là đối thủ của nhân vật chính của phim là Attila. Ngoài ra Aetius còn được mô tả sinh động như một người anh hùng La Mã cuối cùng đã đoàn kết người La Mã và người Goth trong trận chiến nổi tiếng ở Chalons nhằm ngăn cản bước tiến của quân Hung trong tác phẩm bộ ba Attila của William Napier được xuất bản vào năm 2005.

Trận chiến kinh điển giữa Aetius và Attila được đề cập đến trong suốt cuộc tranh luận giữa Vua ArthurSeur Clothar được Jack Whyte chú giải chi tiết trong cuốn The Eagle (Đại Bàng) của ông.

Aetius, Galla Placidia và Stilicho đều xuất hiện như là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết lịch sử Flavius Aetius: The Last Conqueror (Flavius Aetius: Người Chinh Phục Cuối Cùng) của Jose Gomez-Rivera được xuất bản vào năm 2004.

Aetius, Attila và Theodoric đều xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết thứ tư của Michael Curtis Ford với tựa đề The Sword of Attila (Thanh Kiếm của Attila) do Thomas Dunne Books xuất bản vào năm 2005.

Aetius, Attila, Honoria, Leo và một số nhân vật khác được nói đến trong cuốn tiểu thuyết lịch sử sâu sắc của Louis de Wohl với tựa đề Throne of the World (Ngai vàng của Thế giới), xuất bản vào năm 1946, lần tái bản sau này được thay thế bằng cái tên mới là Attila the Hun.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b James William Ermatinger, The decline and fall of the Roman Empire, các trang 75-76.
  2. ^ Stanley Sandler, Ground warfare: an international encyclopedia, Tập 1, trang 8
  3. ^ a ă â b c Spencer Tucker, Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict, các trang 85-87.
  4. ^ a ă Edward Gibbon, Decline and Fall of the Roman Empire, The Modern Library, New York, volume II, p.1089.
  5. ^ Aëtius. Catholic Encyclopedia; Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology, vol. 1, page 51; Tirnanog (1997).
  6. ^ Jordanes, Getica, 176; Merobaudes, Carmina, iv, 42-43, and Panegyrici, ii, 110-115, 119-120; Gregory of Tours, ii.8; Zosimus, v.36.1; Chronica gallica 452, 100. Cited in Jones, p. 21.
  7. ^ Carpilio had been a comes domesticorum, commander of the imperial guard (Gregory of Tours, ii.8).
  8. ^ Carpilio went to Attila for an embassy (Cassiodorus, Variae, i.4.11) and remained at their court as an hostage for some time (Priscus, fr. 8).
  9. ^ Gregory of Tours, ii.8; Priscus, fr. 8; Cassiodorus, Variae, i.4.11; John of Antioch, fr. 201.3 and 204; Marcellinus comes, s.a. 432; Sidonius Apollinaris, Carmina, v.205; Hydatius, 167; Merobaudes, Carmina, iv (poem composed for the first birthday of Gaudentius); Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis, s.a. 455 (only source to cite Thraustila as son-in-law of Aëtius). Cited in Jones, p. 21.
  10. ^ Gregory of Tours, ii.8; Jones, p. 21.
  11. ^ Gregory of Tours, ii.8; Merobaudes, Carmina, iv, 42-46, and Panegyrici, ii.1-4 and 127-143; Zosimus, v.36.1
  12. ^ Edward Gibbon, The Decline and Fall of the Roman Empire, Volume I, Chap. XXXV (Chicago: Encyclopædia Britannica, Inc., 1952), p. 559.
  13. ^ Cassiodorus, Chronica, s.a. 425; Gregory of Tours, ii.8; Philostorgius, xii.4; Prosperus of Tirus, s.a. 425; Chronica gallica 452, 100; Jordanes, Romana, 328; Jones, p. 22.
  14. ^ Philostorgius, xii.4; Prosperus of Tirus, s.a. 425 and 428; Chronica gallica 452, 102 (s.a. 427); Cassiodorus, Chronica, s.a. 428. Cited in Jones, p. 22.
  15. ^ Prosperus of Tirus, s.a. 429 e 430; John of Antioch, fr. 201; Hydatius, 92, 93 and 94 (s.a. 430), 95 and 96 (s.a. 431), 98 (s.a. 432); Chronica gallica 452, 106 (s.a. 430); Jordanes, Getica, 176; Sidonius Apollinaris, Carmina, vii.233. Cited in Jones, pp. 22-23.
  16. ^ Procopius of Caesarea, Bellum Vandalicum, i.3.14-22, 28-29; John of Antioch, fr. 196; Theophanes, AM 5931; Hydatius, 99; Prosperus, s.a. 427. Cited in Jones, p. 23.
  17. ^ CIL, v, 7530; Prosperus, s.a. 432; Chronica Gallica a. 452, 109 and 111 (s.a. 432), 112 (s.a. 433), 115 (s.a. 434); Chronica Gallica a. 511, 587; Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis, s.a. 432; Hydatius, 99; Marcellinus comes, s.a. 432; John of Antioch, fr. 201.3. Cited in Jones, pp. 23-24.
  18. ^ Annales Ravennates, s.a. 435; John of Antioch, fr. 201.3; Prosper of Aquitaine, s.a. 435, s.a. 438, s.a. 439; Cassiodorus, Chronica, s.a. 435; Chronica Gallica a. 452, 117 (s.a. 435), 118 (s.a. 436), 119 (s.a. 437), 123 (s.a. 439); Hydatius, 108 (s.a. 436), 110 (s.a. 437), 112 (s.a. 438), 117 (s.a. 439); Sidonius Apollinaris, vii.234-235 and 297-309; Merobaudes, Panegyrici, i fr. iib 11ff, i fr. iia 22-23, and ii.5-7; Jordanes, Getica, 176;; Barnes, Timothy, "Patricii under Valentinian III", Phoenix, 29, 1975, pp. 166-168; Jones, pp. 24-26.
  19. ^ Chronica Gallica a. 452, 133 (s.a. 438); Sidonius Apollinaris, v.210-218. Cited in Jones, p. 27. Jan Willem Drijvers, Helena Augusta, BRILL, ISBN 9004094350, p. 12.
  20. ^ Priscus, fr. 16; Gregory of Tours, ii.7. It is possible that this happened after the Battle of the Catalaunian Plains in 451 (Jones, p. 27).
  21. ^ Priscus, fr. 7 and 8; Suda, Z 29. Cited in Jones, p. 27.
  22. ^ John of Antioch, fr. 199.2; Jordanes, Getica, 191. Cited in Jones, p.27.
  23. ^ It should be noted that Hunnish armies were never composed entirely of ethnic Huns but contained relative majorities of subject peoples.
  24. ^ Sidonius Apollinaris, vii.328-331, 339-341; John Malalas, 358; Jordanes, Getica, 195; Gregory of Tours, ii.7. Cited in Jones, p.27.
  25. ^ Bury, J.B., 1923, Chapter 9, § 4.
  26. ^ Prosperus, s.a. 451; Chronica Gallica a. 452, 139 (s.a. 451), 141 (s.a. 452); Cassiodorus, Chronica, 451; Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis, s.a. 451; Hydatius, 150 (a. 451); Chronicon Paschale, s.a. 450; Jordanes, Getica, 197ff; Gregory of Tours, ii.7; Procopius, i.4.24; John Malalas, 359; Theophanes, AM 5943. Cited in Jones, p. 27.
  27. ^ a ă William Weir, Fatal Victories: From the Crusades to Bunker Hill to the Vietnam War: History's Most Tragic Military Triumphs and the High Cost of Victory, các trang 22-26.
  28. ^ Stanley Sandler, Ground warfare: an international encyclopedia, Tập 1, trang 169
  29. ^ Richard Ernest Dupuy, Trevor Nevitt Dupuy, The encyclopedia of military history: from 3500 BC to the present, trang 175
  30. ^ Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis, s.a. 451; Gregory of Tours, ii.7; Jordanes, Getica, 215ff. Cited in Jones, pp. 27-28.
  31. ^ a ă Prosperus, s.a. 452.
  32. ^ Edward Gibbon, The history of the decline and fall of the Roman empire, Tập 4 trang 244
  33. ^ Decline and Fall of the Roman Empire, ch. 35
  34. ^ Edward Shepherd Creasy http://www.standin.se/fifteen06a.htm Fifteen Decisive Battles of the World "The victory which the Roman general, Aëtius, with his Gothic allies, had then gained over the Huns, was the last victory of imperial Rome. But among the long Fasti of her triumphs, few can be found that, for their importance and ultimate benefit to mankind, are comparable with this expiring effort of her arms."
  35. ^ a ă Edward Gibbon, The History of the Decline and Fall of the Roman Empire, Tập 3, trang 398
  36. ^ Norwich, John. Byzantium: The Early Centuries
  37. ^ Gibbon, E. The Decline and Fall of the Roman Empire, Chapter 38
  38. ^ Ancient Rome from the earliest times to 476 A.D, By Robert F. Pennel (1890)
  39. ^ [1]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cameron, Averil The Later Roman Empire (Harvard University Press 2007) ISBN 0674511948.
  • Cameron, Averil The Cambridge Ancient History: the Late Empire (Cambridge University Press 1998) ISBN 0521302005.
  • Clover, Frank M Flavius Merobaudes (American Philosophical Society 1971).
  • Creasy, Sir Edward, Fifteen Decisive Battles of the World,
  • Drinkwater, John, Fifth-Century Gaul: A Crisis of Identity? (Cambridge University Press 1992) ISBN 0521414857.
  • Elton, Hugh Warfare in Roman Europe, AD 350-425 (Oxford University Press 1998) ISBN 0198152418.
  • Ferrill, Arther, The Fall of the Roman Empire: The Military Explanation. Thames and Hudson, London, 1986.
  • Jones, A.H.M., The Later Roman Empire 284-602. Oxford Press, Cambridge, 1964.
  • Norwich, John J. Byzantium: The Early Centuries. The Fall of the West. Knopf, New York, 1997
  • O'Flynn, John Michael Generalissimos of the Western Roman Empire (The University of Alberta Press 1983) ISBN 0888640315.
  • Oost, Stewart I., Galla Placidia Augusta. Chicago, 1968.
Chức vụ
Tiền nhiệm:
Flavius Constantius
Magister militum xứ Gaul
425–433
Kế nhiệm:
Unknown
Tiền vị:
Flavius Anicius Auchenius Bassus,
Flavius Antiochus
Consul of the Roman Empire
432
cùng Flavius Valerius
Kế vị
Imp. Caesar Flavius Theodosius Augustus XIV,
Petronius Maximus
Tiền vị:
Flavius Anthemius Isidorus Theophilus,
Flavius Senator
Quan chấp chính tối cao của Đế chế La Mã
437
cùng Flavius Sigisvultus
Kế vị
Imp. Caesar Flavius Theodosius Augustus XVI,
Anicius Acilius Glabrio Faustus
Tiền vị:
Imp. Caesar Flavius Placidus Valentinianus Augustus VI,
Flavius Nomus
Quan chấp chính tối cao của Đế chế La Mã
446
cùng Quintus Aurelius Symmachus
Kế vị
Flavius Calepius,
Flavius Ardaburius Iunior