Maximianus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Maximian
Hoàng đế thứ 52 của Đế quốc La Mã
Toulouse - Musée Saint-Raymond - Maximien Hercule1.jpg
Bust of Emperor Maximian
Tại vị 21 tháng 7[1] or July 25[2] 285 – 286 (là Caesar dưới quyền Diocletian)
2 tháng 4, năm 286[3] –  1 tháng 5, năm 305 (là Augustus của phía Tây, cùng với Diocletianus là Augustus của phía Đông)[4]
Late 306 –  11 tháng 11, năm 308 (tự mình tuyên bố là Augustus)[5]
năm 310 (tự mình tuyên bố là Augustus)[6]
Tiền nhiệm Numerianus
Kế nhiệm Constantius ChlorusGalerius
Thông tin chung
Phối ngẫu Eutropia
Tên đầy đủ Marcus Aurelius Valerius Maximianus Herculius Augustus[7]

Maximianus (tiếng Latin: Marcus Aurelius Valerius Maximianus Herculius Augustus;;[8] khoảng năm 250 - khoảng Tháng Bảy năm 310[9].) Ông là Hoàng đế La Mã trong giai đoạn từ năm 286-305. Ông còn là Caesar [1][2] từ năm 285 tới 286, sau đó trở thành Augustus từ năm 286 [3] đến 305 [4]. Ông đã chia sẻ tước hiệu sau này với vị đồng hoàng đế và cũng là thượng cấp của ông, Diocletianus, người vốn có đầu óc chính trị bổ khuyết cho tài năng quân sự của Maximianus. Maximianus đã thiết lập triều đình của mình tại Trier nhưng ông lại đã dành hầu hết thời gian trong triều đại của mình vào những chiến dịch quân sự. Vào cuối mùa hè năm 285, ông đã đàn áp quân khởi nghĩa ở Gaul được biết đến với tên gọi Bagaudae. Từ năm 285 đến năm 288, ông đã chiến đấu chống lại các bộ tộc người Đức dọc theo biên giới sông Rhine. Cùng với Diocletianus, ông đã tiến hành một chiến dịch tiêu thổ tiến sâu vào lãnh thổ của người Alamanni trong năm 288, tạm thời làm giảm bớt mối đe dọa từ những cuộc xâm lược của người German trên lưu vực sông Rhine.

Ông đã bổ nhiệm Carausius vào trọng trách bảo vệ eo biển Manche, nhưng ông ta lại nổi loạn vào năm 286, và gây ra sự ly khai ở Anh và tây bắc xứ Gaul. Maximianus đã thất bại trong việc lật đổ Carausius, và hạm đội xâm lược của ông đã bị phá hủy bởi một cơn bão trong năm 289 hoặc năm 290. Sau đó, cận thần của Maximianus, Constantius, đã tiến hành chiến dịch chống lại người kế nhiệm của Carausius, Allectus, trong khi Maximianus nắm giữ khu vực biên giới sông Rhine. Lãnh tụ của phiến quân đã bị lật đổ vào năm 296, và Maximianus di chuyển về phía nam để giao chiến với hải tặc gần Hispania và những cuộc tấn công của người Berber vào Mauretania. Khi những chiến dịch này kết thúc vào năm 298, ông đã rời đến Italy, nơi ông sống trong sự xa hoa cho đến năm 305. Theo mệnh lệnh của Diocletianus, Maximianus thoái vị vào ngày 1 tháng 5, năm 305, giao lại tước hiệu Augustus cho Constantius, và thoái ẩn tới miền nam Italy.

Cuối năm 306, Maximianus đã lấy lại danh hiệu Augustus một lần nữa và hỗ trợ cho cuộc nổi loạn của Maxentius, con trai ông, nổ ra ở Ý. Vào tháng Tư năm 307, ông đã cố gắng để hạ bệ người con trai mình, nhưng không thành công và đã buộc phải chạy trốn sang tới triều đình của người kế vị Constantius, Constantinus (người vừa là cháu ghẻ của Maximianus và cũng còn là con rể của ông), ở Trier. Tại Hội đồng Carnuntum trong tháng mười một năm 308, Diocletianus và người kế vị ông ta, Galerius, đã ép buộc Maximianus phải từ bỏ đòi hỏi ngai vàng của mình một lần nữa. Đầu năm 310, Maximianus đã cố gắng để chiếm đoạt tước hiệu của Constantine trong khi vị hoàng đế đang tham gia chiến dịch trên sông Rhine. Chỉ có một vài người ủng hộ ông, và ông đã bị bắt giữ bởi Constantinus ở Marseille. Maximianus buộc phải tự tử vào mùa hè năm 310 theo mệnh lệnh của Constantinus. Trong cuộc chiến tranh giữa Constantinus với Maxentius, hình tượng của Maximianus đã bị thanh trừ khỏi tất cả các địa điểm công cộng. Tuy nhiên, sau khi Constantinus lật đổ và giết chết Maxentius, hình tượng của Maximianus đã được khôi phục, và ông đã được phong thần.

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Antoninianus của Maximianus

Maximianus được sinh ra gần Sirmium (hiện nay là Sremska Mitrovica, Serbia) ở tỉnh Pannonia, vào khoảng năm 250 trong một gia đình chủ hiệu [10][11] Bên cạnh đó, tài liệu cổ còn có chứa những ám chỉ mơ hồ hướng đến Illyricum như là quê hương của ông,[12] những đặc trưng người Pannonia của ông,[13] và sự dạy dỗ khắc nghiệt của ông dọc theo biên giới Danube vốn bị chiến tranh tàn phá [14] Maximianus đã gia nhập quân đội, và phục vụ với Diocletianus dưới triều đại hoàng đế Aurelianus (r. 270-275) và Probus (r. 276 -282). Ông có thể đã tham gia chiến dịch Lưỡng Hà của Carus trong năm 283 và tham dự cuộc bầu chọn Diocletianus lên làm hoàng đế vào ngày 20 Tháng Mười Một, năm 284 tại Nicomedia.[15] Việc nhanh chóng tấn phong cho Maximianus làm Ceasar của Diocletianus được nhà văn Stephen Williams và nhà sử học Timothy Barnes nhìn nhận rằng hai con người này vốn là đồng minh lâu năm, và địa vị của từng người đã được thống nhất từ trước và rằng Maximianus đã có thể đã ủng hộ Diocletianus trong chiến dịch của ông ta nhằm chống lại Carinus (r283-285) nhưng không có bằng chứng trực tiếp cho điều này[16]

Với lòng nhiệt huyết của mình, và bản tính trung thành tháo vát và không ưa nổi loạn, Maximianus là một ứng viên lôi cuốn cho tước vị hoàng gia. Nhà sử học thế kỉ thứ tư, Aurelius Victor đã mô tả Maximianus là "một đồng nghiệp đáng tin cậy trong tình bạn, không phải nói là hơi quê mùa, và tài năng quân sự tuyệt vời" [17] Bất chấp những phẩm chất này của ông, Maximianus vốn lại là người vô học và thích hành động hơn là suy nghĩ. Bài văn tán tụng năm 289, sau khi so sánh những hành động của ông với chiến thắng Scipio Africanus trước Hannibal trong cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai, đã cho thấy rằng Maximianus chưa bao giờ nghe nói về họ [18] Tham vọng của ông vốn thuần túy về mặt quân sự, còn về mặt chính trị ông để lại cho Diocletianus [19].

Maximianus đã có hai người con với người vợ Syria của mình, Eutropia: MaxentiusFausta. Không có bằng chứng trực tiếp nào trong các tài liệu cổ ghi lại ngày sinh của họ. Theo các ước tính hiện nay thì năm sinh của Maxentius nằm trong khoảng từ năm 277 tới năm 287, và năm sinh Fausta vào khoảng năm 298 [20] Theodora, vợ của Constantius Chlorus, được thường được coi là con riêng của vợ Maximian theo các tài liệu cổ, dẫn đến tuyên bố của Otto Seeck và Ernest Stein rằng bà được sinh ra từ một cuộc hôn nhân trước đó giữa Eutropia và Afranius Hannibalianus.[21] Barnes không thừa nhận quan điểm này, và nói rằng tất cả các nguồn ghi "con riêng" vốn lấy thông tin của họ từ một phần trong tác phẩm lịch sử không đáng tin cậy là Kaisergeschichte, trong khi khác, các nguồn đáng tin cậy hơn, cho rằng bà là con gái ruột của Maximianus.[22] Barnes kết luận rằng Theodora đã được sinh ra không muộn hơn khoảng năm 275, bởi một người vợ vô danh trước đó của Maximianus, có thể là một trong những con gái của Hannibalianus[23].

Được tấn phong là Ceasar[sửa | sửa mã nguồn]

Diocletian, Maximian's senior colleague and Augustus in the east

Tại thành phố Mediolanum (Milan, Italy) vào tháng Bảy năm 285 [24] Diocletianus tuyên bố Maximianus là người đồng trị vì với ông ta, hay là Ceasar.[25] Những lý do cho quyết định này rất phức tạp. Với việc xuất hiện những cuộc chiến tranh ở tất cả các tỉnh trong đế quốc, từ xứ Gaul cho tới Syria, từ Ai Cập cho đến hạ lưu sông Danube, Diocletianus cần một người thay mặt ông để quản lý khối lượng công việc nặng nề của mình.[26] Sử gia Stephen Williams cho rằng Diocletianus tự coi mình là một vị tướng lãnh tầm thường và cần một người đàn ông như Maximianus để thực hiện hầu hết các cuộc chiến cho ông ta[27].

Tiếp theo, Diocletianus lại vốn có điểm yếu đó là ông đã không có người con trai nào, mà chỉ có một người con gái, Valeria, người không bao giờ có thể kế vị ông. Do đó, Ông ta bị buộc phải tìm kiếm một người đồng trị vì từ bên ngoài gia đình mình và người đồng trị vì này phải là một người mà ông ta đáng tin cậy.[28]

Và cuối cùng, Diocletianus biết rằng việc cai trị đơn độc là một mối nguy hiểm và rằng trước đó đã tồn tại tiền lệ chia sẻ quyền lực đồng trị vì. Bất kể sức mạnh quân sự của họ, cả hai vị hoàng đế cai trị đơn độc là AurelianusProbus đã dễ dàng bị loại bỏ khỏi ngai vàng[29] Ngược lại, chỉ một vài năm trước đó, hoàng đế Carus và con trai của ông đã cùng trị vì, mặc dù không phải kéo dài. Ngay cả vị hoàng đế đầu tiên, Augustus, (r. 27 TCN-năm 19 SCN), cũng đã chia sẻ quyền lực với các đồng nghiệp của mình và đã có nhiều hình thức đồng hoàng đế đã tồn tại một cách chính thức từ thời Marcus Aurelius (r. 161-180)..[30]

Hệ thống cai trị kép này rõ ràng làm việc hiệu quả. Vào khoảng năm 287, mối quan hệ giữa hai vị hoàng đế đã được tái định nghĩa về mặt tôn giáo, với việc Diocletianus lấy tên hiệu Iovius và của Maximian là Herculius [31] Các tên hiệu này có hàm ý với biểu tượng:. Diocletian-Jove có vai trò chi phối lập kế hoạch và chỉ huy; Maximian-Hercules với vai trò anh hùng sẽ hoàn thành nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, bất kể với biểu tượng này, hai vị hoàng đế không phải là các "vị thần" trong tôn giáo thờ cúng hoàng đế (mặc dù họ có thể đã được ca ngợi như vậy trong những bài tán tụng hoàng đế). Thay vào đó, họ đã được coi công cụ của các vị thần, thay mặt các vị thần trên trái đất [32]. Một khi các nghi lễ đã kết thúc, Maximianus sẽ nắm lấy quyền kiểm soát triều đình phía Tây và đã được cử đến Gaul để chống lại quân khởi nghĩa Bagaudae trong khi Diocletianus quay trở lại Đông[33].

Những chiến dịch đầu tiên ở Gaul và Germania[sửa | sửa mã nguồn]

Phong trào Bagaudae ở Gaul thường xuất hiện một cách thoáng qua trong các tài liệu cổ, với cuộc nổi dậy đầu tiên của họ là vào năm 285.[34] Nhà sử học thế kỷ thứ tư Eutropius mô tả họ là những người dân nông thôn dưới sự lãnh đạo của AmandusAelianus, trong khi Aurelius Victor gọi họ là những tên cướp[35] Mặc dù nghèo nàn về cả trang bị kém, sự lãnh đạo và huấn luyện- và do đó là một địch thủ yếu so với các quân đoàn La Mã - Diocletianus chắc chắn đã cho rằng phong trào Bagaudae là một mối đe dọa đáng để một vị hoàng đế chống lại họ.[36]

Maximian đã du hành đến Gaul, và giao tranh với quân khởi nghĩa Bagaudae vào cuối mùa hè năm 285 [37] Những chi tiết của chiến dịch này lại thưa thớt và nó cũng không cung cấp chi tiết về chiến thuật: Các nguồn sử liệu nó chỉ chăm chú vào những đức tính tốt và những chiến thắng của Maximianus. Bài tán tụng Maximianus vào năm 289 ghi lại rằng quân khởi nghĩa đã bị đánh bại bằng sự kết hợp giữa tính tàn nhẫn và lòng khoan dung.[38] Vì chiến dịch này đã chống lại các công dân của đế quốc, do đó nó được coi là đáng ghê tởm và không được ghi lại trong các tước hiệu và các cuộc diễu binh chiến thắng chính thức. Đến cuối năm đó, cuộc khởi nghĩa đã suy yếu một cách đáng kể, và Maximianus chuyển phần lớn quân đội của ông tới biên giới sông Rhine, điều này báo hiệu một thời kỳ ổn định.[39]

Vào mùa thu năm 285, hai đạo quân của người rợ - một của người Burgundyngười Alamanni, và đạo quân thứ hai là của người Chaibonesngười Heruli - lội qua sông Rhine và tiến vào xứ Gaul[40] Đạo quân đầu tiên đã bị để mặc cho chết bệnh và chết đói, trong khi Maximianus chặn đánh và đánh bại đạo quân thứ hai.[41] Sau đó, ông thiết lập một tổng hành dinh sông Rhine để chuẩn bị cho các chiến dịch trong tương lai,[42] hoặc tại Moguntiacum (Mainz, Đức), Augusta Treverorum (Trier, Đức), hoặc tại Colonia Agrippina (Cologne, Đức).[43]

Carausius[sửa | sửa mã nguồn]

A Roman antefix roof tile showing the badge and standard of Legio XX Valeria Victrix, one of the legions that joined Carausius' rebellion

Mặc dù phần lớn xứ Gaul đã được bình định, khu vực biên giới với eo biển Manche vẫn còn bị hải tặc Frank và Saxon cướp bóc. Để đối phó với vấn đề hải tặc, Maximianus đã bổ nhiệm Mausaeus Carausius, một người Menapii tới từ Hạ Germania (phía nam và phía tây Hà Lan) vào chức vụ chỉ huy khu vực eo biển và để dọn dẹp hết đám hải tặc.[44] Carausius đã làm công việc này rất tốt,[45] và vào cuối năm 285 ông ta đã chiếm giữ được một số lượng lớn các con tàu hải tặc.[46]

Tuy nhiên, Maximianus sớm nghe được rằng Carausius đã chờ đợi cho đến khi đám hải tặc hoàn thành việc cướp bóc rồi mới tấn công và chiếm giữ chiến lợi phẩm cho riêng mình thay vì trả lại cho người dân nói chung hoặc nộp vào kho bạc hoàng gia.[47] Maximianus sau đó ra lệnh bắt và hành quyết Carausius, điều này khiến cho ông ta phải chạy trốn đến Britannia. Carausius đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ ở Britannia, và ít nhất hai quân đoàn ở Britannia (II AugustaXX Valeria Victrix) đã đứng về phía ông ta, và có thể một số hoặc tất cả một quân đoàn gần Boulogne (có thể là XXX Ulpia Victrix) cũng đã làm như vậy.[48] Carausius sau đó nhanh chóng loại bỏ một số ít những người còn trung thành trong quân đội của mình và tuyên bố bản thân ông ta là Augustus.[49]

Maximian có thể đã không thể làm được điều gì để dập tắt cuộc nổi dậy. Ông không có hạm đội vì ông đã giao nó cho Carausius và ông cũng đang phải bận rộn với việc dẹp yên người Herulingười Frank. Trong khi đó, Carausius đã củng cố vị trí của mình bằng cách tăng cường thêm hạm đội của ông ta, tuyển thêm lính đánh thuê Frank, và trả lương cao cho quân lính của ông ta [49] Đến mùa thu năm 286, Britannia cùng phần lớn phía tây bắc Gaul và toàn bộ khu vực bờ biển eo biển Manche đã nằm dưới sự kiểm soát của ông ta.[50] Carausius tuyên bố bản thân ông ta đứng đầu một nhà nước Britannia độc lập, một Britanniarum Imperium và phát hành tiền xu với độ tinh khiết cao hơn rõ rệt so với của Maximianus và Diocletianus để nhằm tìm kiếm sự ủng hộ từ các thương gia của Britannia và Gaul.[51]

Trở thành Augustus[sửa | sửa mã nguồn]

Được thúc đẩy bởi cuộc khủng hoảng với Carausius, vào ngày 1 tháng 4 năm 286,[3] Maximianus đã tự xưng làm Augustus.[52] Điều này đã cho ông có được địa vị tương tự như của Carausius-Để cho các cuộc chiến giữa hai người là giữa hai Augusti, chứ không phải là giữa một Augustus và một Caesar - và trong sự tuyên truyền của đế quốc, Maximianus được tuyên bố là người anh em của Diocletianus, bình đẳng với ông ta về cả quyền lực và uy tín[53]

Chiến dịch chống lại các bộ lạc sông Rhine[sửa | sửa mã nguồn]

Các chiến dịch vào năm 267 và 268[sửa | sửa mã nguồn]

Maximianus đã nhận ra rằng ông không thể ngay lập tức dập tắt cuộc nổi loạn của Carausius và thay vào đó ông đã tiến hành chiến dịch chống lại các bộ lạc sông Rhine.[54] Những bộ tộc này có lẽ là mối đe dọa lớn hơn đối với hòa bình của xứ Gallia và bao nhiều người trong số đó đã ủng hộ Carausius.[55] Mặc dù Maximianus có nhiều kẻ thù dọc theo dòng sông nhưng bọn họ lại thường xuyên tranh chấp với nhau hơn là giao chiến với đế quốc.[56]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Barnes, New Empire, 4.
  2. ^ a ă Potter, 280–81.
  3. ^ a ă â Barnes, Constantine and Eusebius, 6–7; Potter, 282; Southern, 141–42. The chronology of Maximian's appointment to Augustus is somewhat uncertain (Corcoran, "Before Constantine", 40; Southern, 142). It is sometimes suggested that Maximian was appointed Augustus from July 285, and never appointed Caesar. This suggestion has not received much support (Potter, 281; Southern, 142; following De Casearibus 39.17).
  4. ^ a ă Barnes, New Empire, 4.
  5. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 32–34; Barnes, New Empire, 13; Elliott, 42–43; Lenski, 65; Odahl, 90–91; Pohlsander, Emperor Constantine, 17; Potter, 349–50; Treadgold, 29.
  6. ^ Barnes, New Empire, 13.
  7. ^ For full titulature, see: Barnes, New Empire, 17–29.
  8. ^ In Classical Latin, Maximian's name would be inscribed as MARCVS AVRELIVS VALERIVS MAXIMIANVS HERCVLIVS AVGVSTVS.
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BNNE32
  10. ^ Epitome de Caesaribus 40.10, quoted in Barnes, New Empire, 32; Barnes, New Empire, 32; Rees, Layers of Loyalty, 30; Williams, 43–44.
  11. ^ Pohlsander, Hans A. (1996). The Emperor Constantine. Psychology Press. tr. 7. ISBN 978-0-415-13178-0. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010. 
  12. ^ Victor, Liber de Caesaribus 39.26, quoted in Barnes, New Empire, 32.
  13. ^ Panegrici Latini 10(2).2.2ff, quoted in Barnes, New Empire, 32.
  14. ^ Panegrici Latini 10(2).2.4, quoted in Rees, Layers of Loyalty, 44–45.
  15. ^ Barnes, New Empire, 32–33; Rees, Layers of Loyalty, 30.
  16. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Williams, 43–44.
  17. ^ Victor, Liber de Caesaribus 39, quoted in Williams, 44.
  18. ^ Panegyrici Latini 10(2), quoted in Williams, 44.
  19. ^ Williams, 44.
  20. ^ Barnes, New Empire, 34. Barnes dates Maxentius' birth to circa 283, when Maximian was in Syria, and Fausta's birth to 289 or 290 (Barnes, New Empire, 34).
  21. ^ Aurelius Victor, de Caesaribus 39.25; Eutropius, Breviaria 9.22; Jerome, Chronicle 225g; Epitome de Caesaribus 39.2, 40.12, quoted in Barnes, New Empire, 33; Barnes, New Empire, 33.
  22. ^ Origo Constantini 2; Philostorgius, Historia Ecclesiastica 2.16a, quoted in Barnes, New Empire, 33. See also Panegyrici Latini 10(2)11.4.
  23. ^ Barnes, New Empire, 33–34.
  24. ^ The event has been dated to both July 21 (Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Barnes, New Empire, 4; Bowman, 69) and July 25 (Potter, 280–81).
  25. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Barnes, New Empire, 4; Bowman, 69; Corcoran, "Before Constantine", 40; Potter, 280–81.
  26. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Rees, Layers of Loyalty, 30; Southern, 136.
  27. ^ Williams, 45.
  28. ^ Potter, 280; Southern, 136; Williams, 43.
  29. ^ Potter, 280.
  30. ^ Corcoran, "Before Constantine", 40.
  31. ^ Corcoran, "Before Constantine", 40; Liebeschuetz, Continuity and Change, 235–52, 240–43; Odahl, 43–44; Rees, Layers of Loyalty, 32–33.
  32. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 11.
  33. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Southern, 137; Williams, 45–46.
  34. ^ Rees, Layers of Loyalty, 29.
  35. ^ Eutropius, Brev. 9.20; Aurelius Victor, de Caesaribus, 39.17, quoted in Rees, Layers of Loyalty, 29–30.
  36. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Barnes, New Empire, 10; Rees, Layers of Loyalty, 30; Southern, 137; Williams, 45–46.
  37. ^ Barnes, New Empire, 57; Bowman, 70–71.
  38. ^ Southern, 137.
  39. ^ Southern, 139–138; Williams, 46.
  40. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Barnes, New Empire, 57; Bowman, 71; Rees, Layers of Loyalty, 31.
  41. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6.
  42. ^ Williams, 46.
  43. ^ Potter, 282–83. Potter and Barnes (New Empire, 56) favor Trier; Williams (Diocletian, 46) favors Mainz.
  44. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6; Barnes, New Empire, 57.
  45. ^ Bowman, 71; Southern, 138; Williams, 46–47.
  46. ^ Southern, 138; Williams, 46–47.
  47. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 6–7; Bowman, 71; Potter, 283–84; Southern, 137–41; Williams, 47.
  48. ^ Potter, 284; Southern, 139–40; Williams, 47. Most of the information for the legions under Carausius' control comes from his coinage. Strangely, Legio VI Victrix from Eboracum (York, United Kingdom), which, for geographical regions, should have been included in the legions Carausius had control over, generally is not (Southern, 332). The Panegyrici Latini 8(4)12.1 admits one continental legion joined him, probably the XXX Ulpia Victrix (Potter, 650).
  49. ^ a ă Williams, 47.
  50. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 7; Bowman, 71; Southern, 140.
  51. ^ Williams, 47–48.
  52. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 7; Bleckmann; Corcoran, "Before Constantine", 40; Potter, 282; Southern, 141–42; Williams, 48.
  53. ^ Williams, 48.
  54. ^ Barnes, Constantine and Eusebius, 7; Bowman, 71; Corcoran, "Before Constantine", 40.
  55. ^ Southern, 141; Williams, 50.
  56. ^ Williams, 50.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Barnes, Timothy D. Constantine and Eusebius. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1981. ISBN 978-0-674-16531-1
  • Barnes, Timothy D. The New Empire of Diocletian and Constantine. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1982. ISBN 0-7837-2221-4
  • Bowman, Alan K. "Diocletian and the First Tetrarchy." In The Cambridge Ancient History, Volume XII: The Crisis of Empire, edited by Alan Bowman, Averil Cameron, and Peter Garnsey, 67–89. Cambridge University Press, 2005. ISBN 0-521-30199-8
  • Cary, M. and Scullard, H.H. A History of Rome. MacMillan Press, 1974. ISBN 0-333-27830-5
  • Corcoran, Simon. The Empire of the Tetrarchs: Imperial Pronouncements and Government, AD 284–324. Oxford: Clarendon Press, 1996. ISBN 0-19-815304-X
  • Corcoran, Simon. "Before Constantine." In The Cambridge Companion to the Age of Constantine, edited by Noel Lenski, 35–58. New York: Cambridge University Press, 2006. Hardcover ISBN 0-521-81838-9 Paperback ISBN 0-521-52157-2
  • DiMaio, Jr., Michael. "Constantius I Chlorus (305–306 A.D.)." De Imperatoribus Romanis (1996a).
  • DiMaio, Jr., Michael. "Galerius (305–311 A.D.)." De Imperatoribus Romanis (1996b).
  • DiMaio, Jr., Michael. "Maximianus Herculius (286–305 A.D)." De Imperatoribus Romanis (1997a).
  • DiMaio, Jr., Michael. "Maxentius (306–312 A.D.)." De Imperatoribus Romanis (1997b).
  • Elliott, T. G. The Christianity of Constantine the Great. Scranton, PA: University of Scranton Press, 1996. ISBN 0-940866-59-5
  • Lenski, Noel. "The Reign of Constantine." In The Cambridge Companion to the Age of Constantine, edited by Noel Lenski, 59–90. New York: Cambridge University Press, 2006. Hardcover ISBN 0-521-81838-9 Paperback ISBN 0-521-52157-2
  • Liebeschuetz, J. H. W. G. Continuity and Change in Roman Religion. Oxford: Oxford University Press, 1979. ISBN 0-19-814822-4.
  • Mackay, Christopher S. "Lactantius and the Succession to Diocletian." Classical Philology 94:2 (1999): 198–209.
  • Mathisen, Ralph W. "Diocletian (284–305 A.D.)." De Imperatoribus Romanis (1997).
  • Nixon, C.E.V., and Barbara Saylor Rodgers. In Praise of Later Roman Emperors: The Panegyrici Latini. Berkeley: University of California Press, 1994. ISBN 0-520-08326-1
  • Odahl, Charles Matson. Constantine and the Christian Empire. New York: Routledge, 2004. Hardcover ISBN 0-415-17485-6 Paperback ISBN 0-415-38655-1
  • Pohlsander, Hans. The Emperor Constantine. London & New York: Routledge, 2004a. Hardcover ISBN 0-415-31937-4 Paperback ISBN 0-415-31938-2
  • Pohlsander, Hans. "Constantine I (306 – 337 A.D.)." De Imperatoribus Romanis (2004b). Accessed December 16, 2007.
  • Potter, David S. The Roman Empire at Bay: AD 180–395. New York: Routledge, 2005. Hardcover ISBN 0-415-10057-7 Paperback ISBN 0-415-10058-5
  • Rees, Roger. Layers of Loyalty in Latin Panegyric: AD 289–307. New York: Oxford University Press, 2002. ISBN 0-19-924918-0
  • Rees, Roger. Diocletian and the Tetrarchy. Edinburgh: Edinburgh University Press, 2004. ISBN 0-7486-1661-6
  • Southern, Pat. The Roman Empire from Severus to Constantine. New York: Routledge, 2001. ISBN 0-415-23944-3
  • Williams, Stephen. Diocletian and the Roman Recovery. New York: Routledge, 1997. ISBN 0-415-91827-8

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Maximianus
Sinh: 250 Mất: tháng 7 310
Tước hiệu
Tiền vị:
Diocletianus
Hoàng đế La Mã
286–305
Cùng với: Diocletianus
Kế vị
Constantius and Galerius
Chức vụ
Tiền vị:
Marcus Junius Maximus,
Vettius Aquilinus
Chấp chính quan của đế quốc La Mã
287–288
cùng Diocletian,
Pomponius Ianuarianus
Kế vị
Marcus Magrius Bassus,
Lucius Ragonius Quintianus
Tiền vị:
Marcus Magrius Bassus,
Lucius Ragonius Quintianus
Chấp chính quan của đế quốc La Mã
290
cùng Diocletian
Kế vị
Gaius Junius Tiberianus,
Cassius Dio
Tiền vị:
Afranius Hannibalianus,
Julius Asclepiodotus
Chấp chính quan của đế quốc La Mã
293
cùng Diocletian
Kế vị
Constantius Chlorus,
Galerius
Tiền vị:
Diocletian,
Constantius Chlorus
Chấp chính quan của đế quốc La Mã
297
cùng Galerius
Kế vị
Anicius Faustus Paulinus,
Virius Gallus
Tiền vị:
Anicius Faustus Paulinus,
Virius Gallus
Chấp chính quan của đế quốc La Mã
299
cùng Diocletian
Kế vị
Constantius Chlorus,
Galerius
Tiền vị:
Constantius Chlorus,
Galerius
Chấp chính quan của đế quốc La Mã
303–304
cùng Diocletian
Kế vị
Constantius Chlorus,
Galerius
Tiền vị:
Constantius Chlorus,
Galerius
Chấp chính quan của đế quốc La Mã
307
cùng Constantinus I,
Flavius Valerius Severus,
Maximinus Daia,
Galerius
Kế vị
Diocletianus,
Galerius,
Maxentius,
Valerius Romulus