Trận Leuthen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến Leuthen (Lissa)
Một phần của cuộc Chiến tranh Schliesen lần thứ ba trong cuộc Chiến tranh Bảy năm
Battle of Leuthen 2.jpg
Quân đội Phổ tiến chiếm khu đất Thánh đường Leuthen
(qua nét vẽ của nhà họa sĩ người Đức Carl Röchling).
.
Thời gian 5 tháng 12 năm 1757
Địa điểm Leuthen, Schliesen, Vương quốc Phổ, ngày nay là Ba Lan
Tọa độ Tọa độ: 51°08′5″B 16°47′1″Đ / 51,13472°B 16,78361°Đ / 51.13472; 16.78361
Nguyên nhân bùng nổ Vua nước Phổ kéo quân về để giải phóng tỉnh Schlesien khỏi sự xâm chiếm của quân Áo. [1][2][3]
Kết quả Thắng lợi quyết định của Quân đội Phổ, toàn bộ đại quân Áo bị tận diệt. Nước Phổ giành được thế thượng phong và tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh.[4][5][6][7][8][9][10][11] [12] [13][14][2][15][16][17][18][19][20]
Thay đổi lãnh thổ Đại quân Phổ tiến hành thắng lợi công cuộc giải phóng toàn thể tỉnh Schlesien,[21][22][23][24][25][26][27][28][29][30] tàn quân Áo bắt đầu rút chạy về vùng Böhmen. [31]
Tham chiến
 Vương quốc Phổ Cờ của Đế quốc La Mã Thần thánh Đế quốc Áo (có một Binh đoàn Trợ chiến Đức bao gồm BayernWürttemberg)[32][33]
 Tuyển hầu quốc Sachsen
Chỉ huy
Cờ của Vương quốc Phổ Friedrich II (Đại Đế)[34] Cờ của Đế quốc La Mã Thần thánh Vương công Karl Alexander xứ Lothringen
Cờ của Đế quốc La Mã Thần thánh Bá tước Leopold Joseph von Daun
Lực lượng
20.000–40.000 quân (khoảng 1/3 tổng binh lực Áo, theo tùy nguồn[35]) [36][37][38]
[39][40][41][42][43][44]
71 hoặc 170 đại bác [38][40]
60.000–90.000 quân (theo tùy nguồn)[45][36][46][39][40][41][7][47]
65 hoặc 210 đại bác [40]
Tổn thất
Chiếm chừng 1/5 hoặc là 19,2% tổng binh lực Phổ[48][49] c
Nguồn 1: 6.000 quân [50][36]
Nguồn 2: 1.141 tử trận, 5.118 bị thương và 85 bị bắt d
Nguồn 3: 6.250 tử trận và bị thương [51]
Nguồn 4: Khoảng 5.000 quân [52]
Nguồn 5: 1.175 tử trận, 5.207 bị thương, tổng cộng : 6.382 quân [53]
Nguồn 6: Dưới 7.000 quân [54]
Nguồn 11: 6.150 tử trận và bị thương [1]
Nguồn 12: 2.500 quân [55]
Nguồn 21: 500 tử trận, 2.300 bị thương [43]
Nguồn 27: 6.200 tử trận và bị thương trên tổng số 34.000 quân [43]e
Nguồn khác: Chí ít có 5.000 tử trận và bị thương [56]
Nguồn khác: Trong số tổn thất của quân Phổ có cả 200 tướng tá [57]
Chiếm chừng 1/3[58] hoặc là 28,0% tổng binh lực Áo[49] b
Nguồn 1: 27.000 quân; 116 đại bác, 51 tinh kỳ và 4.000 xe goòng bị thu giữ [50][36]
Nguồn 2: 3.000 tử trận, 20.000 bị thương, 116 đại bác bị thu giữ [46]
Nguồn 4: Xấp xỉ 300 Sĩ quan, 21.000 binh sĩ; 134 đại bác, 59 hiệu kỳ bị thu giữ [52]
Nguồn 5: 3.000 tử trận, 6.000 - 7.000 bị thương, chí ít có 12.000 bị bắt, 46 hiệu kỳ và 131 đại bác bị thu giữ [53]
Nguồn 6: 3.000 tử trận, 7.000 bị thương, 21.000 bị bắtf, 116 đại bác bị thu giữ [54]
Nguồn 7: Chí ít có 10.000 tử trận và bị thương, 21.000 bị bắt, 51 hiệu kỳ và quân kỳ, 4.000 xe goòng và xe bò bị thu giữ [59]
Nguồn 8: 27.000 bị bắt, 100 đại bác và 50 hiệu kỳ bị thu giữ [42]
Nguồn 9: 6.750 tử trận và bị thương, chí ít có 12.000 bị bắt, 116 đại bác bị thu giữ [1]b
Nguồn 10: 21.000 quân [55]
Nguồn 13: 21.500 bị bắt, 116 đại bác, 500 hiệu kỳ và 400 xe lương bị thu giữ [43]
Nguồn 14: 27.000 tử trận, bị thương và bị bắt [60]
Nguồn 15: 24.000 bị bắt trong chiến trận, 15.000 bị bắt lúc triệt binh[43]
Nguồn 16: 10.000 tử trận và bị thương, 12.000 bị bắt, 121 đại bác bị thu giữ [51]
Nguồn 17: 10.000 tử trận và bị thương, 12.000 bị bắt, 116 đại bác bị thu giữ trên tổng số 80.000 quân [43]
Nguồn 18: 20.000 quân (phần lớn là bị bắt); hầu hết các đại bác bị thu giữ [61]
Nguồn 19: 25.000 quân (trong số đó có 20.000 tử trận), 51 hiệu kỳ và 116 đại bác [62]
Nguồn khác: 22.000 bị bắt [63]
Nguồn khác: 50.000 quân (tính cả số đào ngũ)[64]
Nguồn khác: 40.000 bị bắt, 20.000 tháo chạy tán loạn. [61]
Thêm: Theo Dover, có ba tướng lĩnh bị bắt [65]
Theo Công chúa Wilhelmina, có 100 Sĩ quan và 14 Tướng lĩnh bị bắt [66]
Theo Dennis E. Showalter, có 55 tinh kỳ và 130 đại bác bị thu giữ. [67]
Một nguồn cho hay chỉ có 17.000 sống sót trong tổng số 80.000 quân [45]
Một sách kể số lượng tù binh chiếm 1/3 quân lực Áo [63]
.
a Quân chủ lực Áo chạy thoát qua sông Schweidnitz.[1] Nhưng sau cuộc rút chạy về xứ Böhmen, họ chỉ còn có 37.000 tàn binh. [36][68].
b Theo các tác giả Herman Hattaway, Archer Jones, trong trận đánh này Quân đội Phổ mất tới 23% binh lực của mình, và tỷ lệ tổn thất của quân Áo thua trận cũng tương tự. [69]
c Theo một tác giả thì trong số đó có rất nhiều binh sĩ chỉ bị thương nhẹ. [70]
d 85 binh sĩ này bị bắt trong giai đoạn đầu của trận chiến. [71]
e Thiệt hại này dẫn đến tổng cộng tổn thất của phía Phổ là hơn 50.000 quân trong chiến dịch năm 1757. [62]
f Một sách kể rằng số này chiếm khoảng 2/3 tổn binh lực Phổ. [72]
Trận thắng lớn tại Leuthen được khen ngợi là chiến công hào hùng trong lịch sử nước Phổ,[73][74][75][76][77][78][79][80][17][81] và do sự thực thi "đánh xiên" chuẩn xác của vị vua - nhà chinh phạt danh tiếng Friedrich Đại Đế, và là điển hình tuyệt mĩ về tấn công bên sườn.[38][65][82] Trong trận này, ông đại phá quân Áo đông hơn hẳn sau khi ông hành binh thần tốc.[83][51][84] Quân Áo bị vỡ nát trong thảm họa, còn vị vua anh hùng nước Phổ lập nên tiếng vang "bất diệt". [85][86][87]


Trận Leuthen (loi'ten[88], đọc là Lô-y-thơ[24]), còn được gọi là Trận chiến Lissa hay Trận chiến Lessa hoặc là Trận Lutynia,[65][89] là một trận chiến nổi tiếng và quan trọng trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm và cả trong lịch sử Vương quốc Phổ[25], được xem là đại thắng mẫu mực và[6][90] lừng danh nhất của nhà vua Friedrich II của Phổ (tức là Friedrich Đại Đế), diễn ra vào ngày 5 tháng 12 năm 1757 tại thị trấn Leuthen nằm ở hướng Bắc sông Schweidnitz[82], tại tỉnh Schliesen của Vương quốc Phổ. Trong trận đánh danh tiếng[37] đó, lực lượng Quân đội Phổ chỉ với hoảng từ 2[44] - 3 vạn[35] cho đến 43[7] nghìn[41] binh hùng tướng mạnh như thường thấy[91] (theo tùy nguồn[39]) do đích thân ông thống lĩnh đã tài tình mánh khóe[43], đột kích[92] và đại phá Quân đội Đế quốc Áo và quân Sachsen vốn có lợi thế rất lớn về quân số[93][94] (có khoảng từ 65 nghìn cho đến 9[35][41] vạn quân lính - theo tùy nguồn[39]) do Vương công Karl Alexander xứ LothringenThống chế Bá tước Leopold Joseph von Daun chỉ huy.[37][47] Đây được coi là là một chiến thắng mạnh mẽ,[38] rực rỡ,[95] chấn động[74][96] và rất độc đáo trong lịch sử, là thắng lợi cuối cùng của vị vua - chiến sĩ nước Phổ trước kình địch xấu số của ông là Karl Alexander,[97][36] làm cho cả đại quân Áo bị vỡ nát,[86][51] đánh sập nước Áo trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm và dập tan biến cả thảy mọi khó khăn của nhà vua Friedrich Đại Đế, khiến ông trong niềm vinh quang to lớn đã tuyệt đối trả hận cho các trận thua tại KolínBreslau trước kia do ông đã rút ra bài học rất chuẩn để "chuyển bại thành thắng" - một đặc điểm của các bậc kiệt tướng.[51][63][98][99] Không chỉ lòng kiên dũng quyết không chờn, nỗ lực khổng lồ và tài nghệ phi thường rất đặc trưng[20][100] của vị vua lừng danh nước Phổ, với binh lược dày dạn,[25] bộ óc sáng suốt và nhạy bén của một nhà chiến thuật vĩ đại nhất trong lịch sử[101] kiêm nhà chiến lược kỳ tài, thắng lợi quyết định này - còn do ông có tài chọn vị trí trung tâm và tìm diệt từng đối phương đang vây[83] - và các bậc mãnh tướng của nhà vua (cũng là do sức truyền cảm mãnh liệt của ông[31][102]) cùng với niềm tin cậy của quân tứớng vào tài lãnh đạo của ông,[103] que thông nòng sắt của Quân đội Phổ,[104] sự huấn luyện xuất sắc, hùng khí mạnh mẽ, sự thần tốc và đúng đắn của lực lượng Lục quân Phổ nổi tiếng là bất khả chiến bại[6][7] cùng khả năng cơ động chuẩn và chất lượng của quân Bộ binh như những "Khẩu đội pháo di động",[6][43][85] và tinh thần hợp tác chính xác,[5] vững chắc giữa các binh chủng của Quân đội Phổ có kỷ luật[2] đã khiến cho họ đánh tan nát quân tướng Áo trong một cuộc toàn thắng được xem là "điển cố" huyền thoại cho khả năng đánh bại mọi cường binh của Friedrich Đại Đế, mặc dù binh lính của Daun rất hùng dũng.[82][105][70] Mở đầu bằng một đợt nghi binh của người Phổ, chiến thắng này được xem là một cuộc chớp nhoáng lớn nhất của thời đại.[106]

Đoàn quân Phổ thắng lợi trong trận đánh này khắc sâu dấu ấn của những lính Ngự lâm vô cùng thiện xạ, người lính phóng lựu khét tiếng lẫm liệt và được xem là chưa quân đội nào đào luyện nên được trong 1/4 thế kỷ đó. Chí ít là một thắng lợi có tầm cỡ của Chiến dịch Ý của Napoléon, trận thắng to tát này hoàn tất sau cuộc hành binh thần tốc "thần kỳ", thình lình[82] mà kiên nhẫn của ông vua giỏi cầm quân được coi là "bất tử" Friedrich Đại Đế - tức "Cha Fritz" về tỉnh Schlesien và được xem là chuẩn mực và dấu ấn cho sự thành công vô song trong lịch sử của các chiến thuật nổi tiếng của ông[25][100][107][108] (chính các chiến thuật này đã giúp cho nước Phổ xưng bá ở châu Âu, và là một chiến thắng vĩ đại có một không hai trong lịch sử, làm ông chấm dứt gian truân mà[83] toàn thắng giai đoạn đầu cuộc chiến[30], rồi tiếp tục tham chiến thành công[86]. Với giá trị tuyệt mỹ và ý nghĩa trọng đại của nó,[82][22] toàn thắng này cũng khiến chiến dịch năm 1757 (năm huy hoàng nhất của ông[37]) - năm nổi bật trong quân sử thế giới[83], kinh điển cho tài năng đáng kể trong chủ động luôn đánh nhanh thắng nhanh diệt mọi cường địch và vận dụng thành công mọi lợi thế[83][23] cũng như kỷ luật nghiêm minh và nội tuyến đậm nét độc đáo[83][79] của ông để mà bảo toàn sức chiến đấu và binh lực[85] như là một mưu lược gia điêu luyện[74], được coi là chiến dịch huy hoàng nhất của ông vua chinh chiến này,[109] với lợi thế rất lớn cho ông nói riêng và Nhà nước phong kiến Phổ sạch bóng ngoại bang nói chung,[21][110] mà đến cả Hoàng đế Napoléon Bonaparte của Pháp sau này cũng phải thán phục bội nể và tấm tắc ngợi khen như là một trận thắng "tuyệt tác" oanh liệt của vị vua Phổ lỗi lạc.[99][17][111] Trong trận đại thắng huy hoàng và rất nổi bật này - được xem là thắng lợi hoàn hảo nhất của các đội hình hàng dọc đầy hiệu quả của ông và chí ít là một trong những thắng lợi quan trọng liệt ông vào hàng ngũ các Nhà chỉ huy vĩ đại trên thế giới, ông giành chiến thắng chớp nhoáng được xem là khắc họa mưu trí tuyệt hảo của ông,[107][112][113] là một bậc thầy về chiến lược vệ quốc chứ không chỉ giỏi đánh trận. Đại thắng hào hùng của vị vua-thiên tài hùng mạnh này đã bẻ gãy kế hoạch của khối Đồng minh chống Phổ[25][82][51][78] mặc cho phe Đồng minh rất mạnh[114], là một trong hai toàn thắng của ông năm trong 1757[17], và sự chuyển bại thành thắng của ông đã đánh dấu "năm huy hoàng" muôn thắng lợi này. Dù đơn thương độc mã, Friedrich Đại đế như thế đã dùng thiên tài trác việt và quân đội tinh nhuệ của ông mà thắng lớn và phá vỡ hẳn nguy cơ vong quốc trước Giáng sinh, và tàn binh Áo phải bỏ chạy tán loạn qua dãy núi non mà ra khỏi tỉnh Schlesien sau thảm bại này, khiến cho ông vua chiến thắng đoạt lại thành Breslau cùng toàn tỉnh ấy và thay đổi cục diện chiến sự, dẫu cho ông chưa thể dứt điểm cuộc chiến tranh.[100][23][114][29][28] Là một thành công tiêu biểu nhờ vận động,[16] thắng lợi vang dội này cũng góp phần mang lại thời gian "xả hơi" quý báu cho ông.[115] Thắng cực lớn và ngập tràn vinh quang chỉ sau 30 ngày vượt tất mọi gian nguy,[82][100][116][117] ông trở nên nức tiếng danh thơm[83], với thanh thế nổi trội làm cho[118] khắp thế giới ai nấy (cả bạn lẫn thù[88]) cũng rung động, kinh ngạc trước toàn thắng giòn dã của vị vua nước Phổ trỗi dậy và rất kính phục tài mưu lược kiệt xuất của ông - cái chủ yếu khiến ông thắng cả Liên minh, dẫn tới nhiều giai thoại về ông.[23][21][110] Như một chiến công đẫm máu mà rực rỡ[82], không chỉ chấn vang địa cầu mà đại thắng ở Leuthen còn được khen ngợi là "ngôi trường" cho những người lính đương khi ấy. Ngoài ra, thắng lợi quyết định này - được xem là sự báo ân vua xứng đáng của các binh sĩ Phổ và trở nên gắn bó rất chặt chẽ với niềm vinh dự lớn lao của ông - cũng góp phần khiến cho ông tiếp tục chính sách ngoại giao thành công của mình.[110][119] Trong khi ấy, đại thắng vinh quang tại Leuthen của vị vua bất bại không chỉ khiến cho ông quét sạch người Áo ra khỏi tỉnh Schliesen, củng cố biên giới này[82], giành lấy ưu thế (lại "đưa ông về lại đời"[11] và góp phần vào hàng loạt đại thắng không ngừng của ông trong chiến tranh[27] đúng lúc ông đang lo nghĩ chuyện "chết vinh") mà mang lại lợi ích không nhỏ cho cả đồng minh của ông, nhưng cũng là một đóng góp rất quan trọng cho truyền thống quân sự hào hùng Phổ - Đức lâu dài.[100][120] Như một bước ngoặt quan trọng của chiến cuộc, đại thắng vinh quang của ông trong trận Leuthen phá tan quân Áo - kế tục thắng lợi của ông trong trận Roßbach vẻ vang - cũng mang lại đại kỳ vọng phe Liên minh Anh - Phổ trước bối cảnh tinh binh Phổ lập bao chiến công hiển hách.[11][12] Tin thắng lớn của ông còn gây hậu quả đến khối Liên minh chống Phổ. Bản thân ông cũng phát huy triệt để đại thắng hủy diệt này, và sau toàn thắng tài cầm binh của ông tiếp tục mang lại cho nước Phổ sự sống còn và những chiến thắng ngoạn mục khác,[29][117][11][12] song đại thắng Leuthen quét nát cường địch và có tiếng vang rất lớn của ông vẫn được coi là thắng lợi lớn nhất, huy hoàng hơn cả của ông và cuộc chiến.[72][45]

Định đoạt chỉ sau 3 tiếng đồng hồ,[121] chiến thắng này được xem là quan trọng không kém thắng lợi ở Roßbach trước đó của vị vua Phổ bách chiến bách thắng, và thực chất chỉ mỗi hai đại thắng này được xem là đã cải thiện tình hình khối Đồng minh của Phổ khi đó.[122][123] Trong khi cả hai đại thắng cứu quốc ấy của đoàn binh nhỏ bé đã chấn vang toàn cầu và đóng góp của chính ông vào đại thắng này được xem là có một không hai, việc nhà vua phong Vương công Moritz xứ Anhalt-Dessau làm Thống chế trong niềm vinh quang lớn sau chiến thắng đã thể hiện phong cách Friedrich tiêu biểu.[11].[124] Như thế, chiến công táo bạo lẫy lừng của vị Đại đế-danh tướng và đoàn nhuệ binh luôn "lấy ít thắng nhiều" tại Leuthen được xem là một trong những thắng lợi điển mẫu về tài làm tướng và sự xuất binh thần tốc của các bậc hổ tướng thế giới, cũng là chiến quả của sự đấu tranh đến cùng của ông, là cuộc giải phóng và mở ra tương lai cho nước Đức, khiến vị vua thắng lợi lưu danh lịch sử nước Đức.[78][29][72][125] Không những giữ yên biên thùy, toàn thắng chấn vang này mang lại cho ông vô số tù binh[72] và chiến lợi phẩm, cũng như quyền chủ động hoàn toàn thuộc về đạo quân thắng trận. Ngoài ra, chiến công hiển hách tuyệt đối đè bẹp đại quân Áo ấy của ông cũng được xem là một chiến quả to lớn, có ảnh hưởng rất lớn và đặc trưng hẳn hòi cho chiến thuật trứ danh "đánh xiên" (dù đây là do ông áp dụng thành công từ một danh tướng Hy Lạp cổ xưa), khả năng tận dụng địa hình,[16] cùng với quá trình cải tổ đội Kỵ binh của ông (họ còn tiếp tục tràn ngập Schlesien và "làm cỏ",[61] quét sạch quân xâm lăng Áo ra khỏi Hạ Schliesen sau đại thắng vẻ vang), và là toàn thắng mỹ mãn cho thấy rõ rệt sự vượt xa chính mình của Lục quân Phổ linh động hơn hẳn đối phương. Trận đại thắng lịch sử này đã góp phần làm tăng vọt danh tiếng của các vị danh tướng Kỵ binh Phổ như Hans Joachim von Ziethen. Được xem là một trong những chiến công lẫy lừng "lấy ít thắng nhiều" điển hình dựa vào vận động bọc sườn của Friedrich Đại Đế nói riêng và trong lịch sử nói chung, chiến thắng toàn diện này còn được xem là một bài học quý giá về chước thuật (đánh úp), điều binh và gia tăng sĩ khí.[20][12] Như một trận đánh kinh điển về tiêu hao đối phương, trận Leuthen được xem là chứng tỏ vận động bọc sườn chỉ gặt hái được thành công khi binh lính thực thụ am hiểu nó. "Cú giáng thiên tài" oanh liệt này của vua nước Phổ cũng chứng tỏ sự kém cỏi của nước Áo bại trận nói riêng và các quốc gia Đồng minh nói chung, bất lực trước nội tuyến trung tâm điển hình của ông và các chiến binh tinh nhuệ, khiến cho ông mãi cứ bền bỉ sống còn, mau chóng thừa cơ làm nên hàng loạt thắng lợi lớn và sự hồi sức đáng nể trong đó có đại thắng Leuthen huy hoàng này (một loạt đại thắng chóng vánh lừng lẫy trong năm 1757 cũng tạo điều kiện cho ông "xả hơi" ngon lành trong quang vinh rồi đánh tiếp các kẻ thù khác). Sau chiến tranh, tiếng thơm của ông lan khắp thế giới, một phần là nhờ chiến thắng vang dội phá tan quân Áo này.[78][16][27][126]

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1740, nhà vua Friedrich II của Phổ, tức Friedrich Đại Đế, khởi đại binh chinh phạt tỉnh Schliesen của Đế quốc Áo để bảo vệ quyền lợi của tầng lớp quý tộc địa chủ Junker.[5] Được khen ngợi là một nhà mưu lược và dụng binh tài ba,[107] vào năm 1756, thấy các nước láng giềng tính liên minh chống lại ông,[68] nhà vua của nước Phổ đã quyết tâm chủ động tiến công: ông thân chinh cất đại quân đi đánh và chiếm được Tuyển hầu quốc Sachsen, khơi mào cuộc Chiến tranh Bảy năm.[43][127] Tuy nước Phổ được Anh viện trợ về tài chính, họ phải một mình chống chọi với các nước mạnh là Nga, Áo, Pháp, Thụy Điển cùng với phần lớn các Vương hầu trong Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức do Vương triều Habsburg đứng đầu.[128][129] Năm sau (1757), Friedrich Đại Đế phát động chiến dịch phạt xứ Böhmen để diệt trừ nước Áo, và 65 nghìn quân tinh nhuệ Phổ do chính ông chỉ huy đã thắng lớn trong trận chiến kịch liệt ở Praha. Nhưng sau đó, ông bị quân Áo đánh bại trong trận đánh kế tiếp tại Kolín, do đó đến tháng 8 năm 1757 ông mất hoàn toàn xứ Böhmen.[91] Trong khi đó, ngay từ tháng 6 năm 1757 thì quân đội Nga hoàng tiến đánh vùng Đông Phổ và đánh thắng một đạo quân Phổ trong trận Gross-Jägersdorf,[130][131] nhưng rồi do quân Nga bị thiệt hại nặng nề trong trận này nên Nguyên soái Nga phải rút quân trở về. Song, Quân đội Áo bắt đầu tiến công Schliesen.[132] Nhưng trong lúc ấy, vua nước Phổ nhận thấy quân Đồng minh Pháp - Đức là mối đe dọa chính yếu của ông do đó ông liền tiến quân đến Leipzig, Sachsen. Vào ngày 5 tháng 11 năm 1757, ông đập tan nát quân Đồng minh Pháp - Đức trong trận Roßbach, dù cho họ đông hơn hẳn quân Phổ.[128] Thế mà, ở Schlesien ngay trong thời gian này nơi các lực lượng trú phòng Phổ được giao trọng trách giam chân quân Áo, Quân đội Áo thắng thế.[109][68][128][133] điều ấy khiến cho nhà vua không thể truy đuổi tàn quân Pháp - Đức.[91][31] Chẳng mấy chốc, vào ngày 13 tháng 11 năm 1757 ông kéo rốc binh đoàn gồm 13 nghìn chiến binh từ Leipzig về Lusatia, để cứu nguy cho tỉnh Schlesien. Theo nhà sử học Hannsjoachim Wolfgang Koch thì ông có 14 nghìn quân sĩ, nói cách khác là 18 Tiểu đoàn và 20 Sư đoàn Kỵ Binh.[134] Thế mà, các thành lũy của quân Phổ tại Schlesien đã đồng loạt thất thủ đúng khi ấy. Người Áo lúc bấy giờ vinh quang, cho nên rất khinh suất nhà vua của nước Phổ và toàn quân.[71]

Đương khi ấy, thừa lệnh vua, Thống chế James Francis Edward Keith đem binh đánh vào xứ Böhmen và thắng to, quân Áo chạy tan.[71] Trên đường hành binh, Quân vương vẫn bình tĩnh và kiên nhẫn;[36] quân ông luôn đẩy lui các đạo quân Áo dù liên tiếp phải nhận hung tin (như tin quân Áo thắng lớn tại trận Breslau và chiếm đoạt thành phố này).[133][71][135][135]. Dù những con đường bị chiến tranh hủy hoại rồi, ông vẫn tổ chức những cuộc hành binh nhanh chóng về thành Breslau. Quân Áo phòng thủ vững chắc trước cổng thành Breslau, nhưng Quốc vương quyết tâm tấn công địch, như lời ông dõng dạc nói trên đường quân hành: "Trẫm sẽ tiến đánh giặc, nếu chúng có đóng trên đồi Zobtenberg, nếu chúng có đóng ở sườn dốc Breslau!" Người Áo thấy Quân vương Phổ hành binh về thì vô vàn ngạc nhiên, bảo nhau: "Hắn sẽ làm gì, sẽ có thể làm gì được? Hắn sẽ hất cẳng chúng ta khỏi Schliesen cùng với bọn Vệ binh thành Potsdam của hắn chăng?"[57]>[71] Vào ngày 26 tháng 11 năm 1757, nhà vua đã hoàn thành cuộc hành quân hiển hách Roßbach - Leuthen, dài đến 165 dặm trên các đường nội tuyến của ông.[136] Quân ông kéo đến vùng Barchwitz vào ngày 28 tháng 11 năm 1757 để cho quân sĩ nghỉ ngơi thêm một chút, chờ quân Ziethen đến hợp binh.[71] Vậy là tuy không có lương thực đầy đủ nhưng Quốc vương đã làm nên một kỳ tích: ông cùng ba quân hoàn tất cuộc hành binh vô cùng mau lẹ chỉ trong vòng có 15 ngày.[57] Không những thế, cuộc hành binh này có thể hiện sự dũng mãnh của họ do diễn ra trong thời tiết khắc nghiệt.[133] Khi ấy, Ziethen cũng thành công phần nào trong việc cải thiện lại tình hình.[134] Friedrich Đại Đế xua quân tấn công và đánh bại 11 nghìn quân Áo của tướng Gersdorf - vốn đã đến Barchwitz ít lâu trước đó, bắt sống 150 quân, tiêu diệt 80 quân Áo và tàn quân của Gersdorf thì tan rã[135]. Gần vùng Barchwitz, tàn quân do Ziethen thống lĩnh tập kết với bộ đội chủ lực của Quân vương. Vào ngày 2 tháng 11 năm 1757, ông điều động binh mã đến. Quân vương phán:[36]

Toàn quân đã mất nhuệ khí, và hoàn toàn tan vỡ vì hậu quả của thất bại vừa qua!

—Vua Friedrich Đại Đế

Vua Friedrich II của Phổ tuy thua trận Kolín, ông đại thắng trong chiến dịch Roßbach - Leuthen vang dội. Chính những trận thắng lớn này đã củng cố ngoại hiệu "Đại Đế" của ông.[130][137]

Ngượi lại, những chiến binh trong đội quân chính quy của nhà vua thì mừng vui với đại thắng vừa qua tại Roßbach nên nhiệt huyết, sẵn sàng đánh thắng Áo để giải phóng Schliesen.[138]

Hai bên chuẩn bị trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Diễn văn Parchwitz

Các Sĩ quan của nhửng tàn binh bại tướng này e sợ, nhưng để kêu gọi ba quân đánh trận kế tiếp với quân Áo, nhà vua cho họ uống rượu và kể lại với họ về những chiến tích oanh liệt của lực lượng Quân đội Phổ trong quá khứ. Các chiến binh tha hồ ăn uống, song quan trọng hơn hết là những chiến binh đã vào sinh ra tử với Quốc vương tại Tuyển hầu quốc Sachsen - lúc này đang sướng sung bởi niềm huy hoàng phá nát quân Pháp trong trận đánh vang danh tại Roßbach mới đây - đã kể cho tàn binh bại tướng của Ziethen nghe về chiến thắng lịch sử ấy.[57] Qua đó, các chiến binh của Quân vương đã lám cho tinh thần của các chiến binh bại trận trở nên nhiệt huyết Trong những ngày đông lạnh giá này, vị Quốc vương sinh hoạt chẳng khác gì những người lính trong đại bản doanh tươi vui của ông. Không lúc nào, quân lực Phổ mang đậm nét dân tộc như lúc này. Các binh sĩ người Sachsen và ngoại quốc đều đã hy sinh trong các đợt hành binh và trận đánh suốt ba thánh qua, do đó Friedrich Đại Đế có một đội quân nhỏ, nhưng gồm thâu 35 vạn tinh binh, phần lớn là người xứ Brandenburg, PommernMagdeburg. Chỉ một thời gian nghỉ ngơi ngắn đã khôi phục uy lực của lực lượng Quân đội Phổ: họ sẵn sàng nghênh chiến để nối tiếp truyền thống huy hoàng, phá vỡ cái nỗi nhục thất bại tại Breslau. Dù đã kiệt lực và mới bị đánh bại, giờ đây họ lại là một trong những đoàn binh hùng mạnh nhất của thế kỷ thứ 18, hết mình phò tá nhà vua.[134] Tuy nhiên, Quân vương vẫn không lấy làm yên tâm: quân Áo có tinh thần kỷ cương cao hơn hẳn quân Liên minh Pháp - Đức đã bị ông đập tan nát trong trận đánh vừa qua tại Roßbach. Theo nhà sử học nghệ thuật Franz Kugler thì quân Áo có từ 8 vạn đến 9 vạn binh sĩ, trong khi theo nhà sử học quân sự Geoffrey Parker thì họ có 65 nghìn quân và nhà sử học Will Durant thì kể rằng họ có đến 73 nghìn quân.[46] Nhà sử học quân sự Đức là Hans Delbrück kể rằng người Phổ bị áp đảo về quân số, với 4 vạn binh sĩ phải chiến đấu chống lại từ 6 vạn cho đến 66 nghìn quân Áo.[41] Nhà sử học quân sự Hoa Kỳ là David G. Chandler nói khác chút: Friedrich Đại Đế có 35 nghìn binh sĩ cùng với 71 khẩu đại pháo còn Karl và Daun có 6 vạn binh sĩ và 65 khẩu đại pháo quanh thị trấn Leuthen.[40] Tác giả Stanley Sandler thì cho biết quân Áo có đến 66 nghìn binh sĩ, cùng với 210 khẩu đại pháo. Tài liệu khác cho biết vị nguyên thủ Phổ hùng mạnh thân chinh thống suất 43 nghìn binh sĩ tinh nhuệ chống nhau với 72 nghìn binh sĩ Áo.[7] Dù gì thì người Áo cũng đông hơn hẳn đại quân Phổ của ông: ông chỉ có 32 nghìn quân theo Franz Kugler, 36 nghìn quân theo tác giả Cormac O'Brien, 39 nghìn quân theo Stanley Sandler, và 43 nghìn quân theo Will Durant,[46] cùng với 170 cỗ đại bác.[37][38][139][140] Một cuốn sách khác cũng ghi nhận nhà vua Phổ thiên tài thống suất 36 nghìn đại binh trong khi quân Áo có đến 85 nghìn đại binh.[47] Sách "Introduction to the study of history: civil, ecclesiastical, and literary" của tác giả W. C. Boyce xác nhận vua của nước Phổ với 2 vạn quân đã quét sạch 8 vạn đại quân Áo trong trận Leuthen là chiến thắng huy hoàng nhất của ông.[44] Theo tác giả William Jacks trong cuốn sách The life of His Majesty William the Second, German emperor: with a sketch of his Hohenzollern ancestors, binh lực Phổ với 3 vạn binh sĩ chỉ bằng có 1/3 binh lực Áo.[35] Đây là quân số khá phổ biến của quân đội Friedrich Đại Đế trên trận tiền.[91] Thực chất, với chưa được 4 vạn người, quân số của quân đội ông trong các trận chiến ở Leuthen và Kunersdorf còn lớn hơn ở trận đánh Mollwitz, và thể hiện quy mô bé nhỏ của các đạo quân châu Âu trên chiến trường thời thế kỷ 18 dưới quyền các vị tướng sau thời Quận công Marlborough. Do đó, trong đêm ngày 3 tháng 12 năm 1757, ông triệu các Tướng tá và Sĩ quan Tham mưu của ông đến chầu, và hiệu triệu như sau: đây là bài diễn văn Parchwitz hay "Diễn văn của Friedrich Đại Đế trước binh tướng trước chiến thắng Leuthen" (1757) trứ danh được lưu danh vào những trang sử vàng son của nền quân sự thế giới.[36][141] Có hai phiên bản của bài diễn văn này, song phiên bản do Vương đệ August Ferdinand ghi chép lại được xem là có uy tín nhất.[133] Một cuốn sách khác chép tóm lược lời hiệu triệu đầy khí phách của nhà vua như sau:[105]

Hỡi các tướng sĩ, quân giặc đóng sau những cứ điểm của chúng, và vũ trang đến tận xương tủy. Chúng ta nhất thiết phải hoặc là công kích và chiến thắng chúng, hoặc là hy sinh. Không ai có thể nghĩ đến phương án khác. Nếu các ông không đồng ý các ông có thể đệ đơn tự chức và về nhà.

—Friedrich Đại Đế

Nhà vua tuy đã mệt mỏi, nhưng ông vẫn không ngần ngại khuyến khích ba quân.[133] Thực chất, có sách kể lại rằng quyết định đánh địch của ông là rất liều lĩnh vì ông tưởng rằng sau tổn thất nặng nề trong các trận đánh vừa qua tại Schliesen, Karl chỉ có 39 nghìn lính Áo.[141] (lá thư của ông gửi cho Hoàng thân Friedrich Heinrich Ludwig vào ngày 30 tháng 11 năm 1757 đã thể hiện hy vọng của ông trong việc lấy một đội quân gồm 36 nghìn người đánh thắng một đội quân gồm 39 nghìn người, không lâu sau ông lại ước tính đội quân của ông có đến 36 nghìn binh sĩ.[2] Một điều bất ngờ rằng, vị Quân vương khét tiếng "sính" Pháp văn" này đã đọc bài diễn văn bằng tiếng Đức[133] Khi bài diễn van kết thúc, hào khí của ba quân đều sục sôi. Với chủ nghĩa anh hùng, họ sẵn sàng xả thân vì đất nước, và vì niềm tin cao đẹp vào "Ông già Fritz" (Vater Fritz) lẫy lừng của họ, mang lại thành công rất lớn cho Friedrich Đại đế trong việc kêu gọi niềm nhiệt huyết và lòng trung quân, ái quốc của toàn quân.[57] Đêm hôm ấy, ông dong ngựa vào đại bản doanh, động viên tinh thần yêu nước nồng nàn của ba quân:[123] các Trung đoàn đều tập hợp lại cả, rời khỏi các trại quân của họ, và sẵn sàng hành binh vào ngày hôm sau. Đầu tiên, ông thăm hỏi Trung đoàn Thiết Kỵ Binh Tiền Vệ, được họ chúc một đêm vui vẻ, và ông cũng ân cần hồi đáp. Một số chiến binh lão luyện, với lòng trung dũng nghĩa khí, tâu: "Có tin gì vậy thưa Ngài, giờ đã muộn rồi!" Ông trả lời: "Tin tốt, hỡi các con (Kinder)! Ngày mai ta sẽ đập cho giặc Áo tơi bời". Các chiến binh đáp: "Chúng thần sẵn sàng, kính bẩm". Nhà vua lại nói: "Những chỉ lo rằng ở đằng kia bọn chúng sẽ bố trí ở nơi nào và chúng sẽ phòng ngự bằng cách nào?" Các chiến binh tâu: "Và nếu chúng có một Ma Vương phía trước và xung quanh, chúng ta sẽ hạ thủ chúng! Chỉ có Ngài mới có thể lãnh đạo chúng thần làm vậy!" Nhà vua phán: "Tốt, Trẫm sẽ xem các Khanh làm được gì, bây giờ hãy nằm xuống và ngủ đi thôi; và xin chúc các con ngủ ngon". Toàn quân đồng thanh: '"Chúc một đêm tốt lành, hỡi Fritz". Trong lúc ấy nhà vua lại đến gần Trung đoàn thứ hai và có lẽ ông sẽ nói chuyện với họ. Đó là Trung đoàn Pommern trứ danh kỷ cương, trung dũng nghĩa khí. Họ luôn tự giác có tinh thần đánh giặc, mà không cần phải được khen ngợi. Quân vương hỏi: "Này các con, các con nghĩ ngày mai tình hình sẽ ra sao? Giặc đông hơn ta nhiều lắm". Những người lính thiện chiến đồng thanh đáp: "Ngài không phải lo; chúng không có ai người Pommern cả; Ngài hãy tin rằng người Pommern có thể làm được". Nhà vua Friedrich Đại Đế đẹp lòng, nói: "Phải, Trẫm biết quá đi chứ, nếu không thể Trẫm đã không dám quyết định đánh trận. Bây giờ chúng các con ngủ ngon; chờ đến ngày mai, chúng ta sẽ hoặc là tiêu diệt quân địch, hoặc là cùng nhau ngã xuống". Cả Trung đoàn đồng thanh: "Dĩ nhiên, phải hy sinh hoặc là đánh bại địch thù". Nói xong, cả họ đều ngủ. Những người lính dũng cảm ngủ rất sâu. Những đối thoại này, và cả bản dài hơn của lời hiệu triệu Parchwitz là do ông F. A. Retzow - con của Trung tướng Retzow trong trận này - kể lại, dù người ta đã tranh cãi về ngày thàng của chúng.[71] Ngoài ra, nhà vua còn tuyên thệ:[138]

'Nếu Trẫm sẽ ngã xuống và không thể tưởng thưởng cho công trạng của chư Khanh trong ngày mai, quê cha đất tổ của chúng ta sẽ làm điều ấy.

—Friedrich Đại Đế

Ngoài ra, có nhiều giai thoại khó tin kể về sự sáng suốt của ông trong lúc này, nói chung là đều xuất phát từ lòng mến mộ của toàn dân Đức giành cho vị Quốc vương thiên tài chả kém các bậc minh vương và anh hùng thời Hy Lạp cổ đại.[71] Cuộc hành quân trở về của ông làm cho Karl xứ Lothringen và Daun đều bất ngờ, vì họ tưởng rằng ông đã trú đông.[14] Theo Thomas Carlyle, quân Áo khi ấy họp một Hội đồng Chiến tranh, và ra quyết định bỏ vị trí phòng thủ: họ sẽ rút quân khỏi đại bản doanh kiên cố của mình, vượt sông Schweidnitz mà tiến quân về phía trước Lissa mà giao chiến với vị lãnh tụ Phổ anh dũng. Nhiêù võ tướng phản đối, trong số đó có cả Daun. Ông cho rằng: "Nói chung là không cần thiết phải tấn công, chúng ta có thể phòng thủ ở sông Schweidnitz, làm hỏng kế hoạch của hắn trước khi hắn có thể băng qua sông này". Bá tước Lucchesi d'Abarra (người Ý) lại bất đồng với Bá tước Daun: "Phòng thủ ư? Bị tấn công bởi một đội quân như vậy ấy? Thật là không xứng đáng tẹo nào với chúng ta cả! Chúng ta đã thắng trận; và gặt hái mọi vinh quang; hãy để chúng ta hoàn thiện nó. Đánh trận với hắn, vì hắn may mắn quyết định như thế; chúng ta sẽ kết liễu hắn, và kết liễu cuộc chiến trong niềm huy hoàng nữa"! Lucchesi cứ khăng khăn giữ vững quan điểm của mình, và số phận của trận đánh đã được xác định khi Karl đồng ý với ông. Mọi chiến binh Áo đều thấy rằng Karl Alexander đẹp lòng trước lời thuyết phục hùng hồn của Lucchesi. Karl chủ quan rằng quân Áo đã thắng trận Breslau, và do đó, đây là lần cuối cùng, và cũng là lần duy nhất mà người Áo quyết định tấn công người Phổ. Điều này khiến nhà vua Friedrich Đại đế rất hài lòng, và ông nói với em vợ là Vương công Franz xứ Brunswick: "Con cáo đã ra khỏi hang, Ta sẽ trừng phạt sự xấc láo của chúng".[57] Đây là thời cơ rất lớn cho ông để tái chiếm tỉnh Schliesen, đại thắng quân Áo trong một trận đánh quyết định và dễ dàng chấm dứt chiến tranh với thuận lợi cho Phổ.[31] Bốn giờ sáng ngày Chủ Nhật, tức là ngày 4 tháng 12 năm 1757, từ Barchwitz, ông tổ chức hành binh, tiến thẳng về đại bản doanh của người Áo. Ông hay tin rằng quân Áo đang tiến về đánh quân ông và không nhất thiết phải phòng thủ ở một cứ điểm kiên cố - đây hoàn toàn là tin có lợi cho ông. Ba quân chia làm 4 đội hình hàng dọc, Quốc vương thân chinh thống lĩnh đội tiền binh kéo rốc về thị trấn bé nhỏ Neumarkt cách đó chừng 14 dặm.[71]

Vương công Karl xứ Lothringen - em trai của Hoàng đế La Mã Thần thánh Franz I, được phong làm Tổng tư lệnh quân Áo vì quyền lợi cuả Vương triều.[133]
Nhà vua Friedrich Đại đế kêu gọi ba quân chiến đấu, tranh tường của Fritz Roeber. Đúng như lời bình của nhà lý luận quân sự Karl von Clausewitz, khi quyết định tiến công quân Áo thì ông luôn chìm đắm trong ao ước được chiến đấu vinh quang vì Tổ quốc.[142]

Đầu chiều, khi đã đi được vài dặm, ông nhận thấy có hàng ngàn quân Croatia tại đây, một ổ bánh mì của quân Áo đang hoạt động và các kỹ sư của Quân đội Áo. (ông nghe được về ổ bánh mì này nhờ có những người tá điền kể lại, lúc họ đang đi lễ ngày Chủ Nhật [141]) "Trên ngọn đồi phía bên kia Neumarkt, sẽ được chứ ?" - Quân vương ngẫm nghĩ như vậy, do ông biết rằng nơi này dễ dàng cho ông thực hiện những cuộc diễn tập ba quân, và từ đó quân ông sẽ dễ dàng hành về Breslau trên những đoạn đường quen thuộc.[71] Theo Carlyle thì các nhà phê bình cho rằng đây sẽ là một thắng lợi quan trọng khiến cho quân Áo mất hẳn lợi thế, Daun không thể chiếm đóng các ngọn đồi gần đây và Hội đồng Chiến tranh Áo sẽ còn phải suy xét thêm về vấn đề này.[71][57] Nhà vua thân hành thống suất, cùng sát cánh với các lực lượng Khinh Kỵ Binh Zieten và Puttkamer.[141] Trước khi dẫn quân vào Neumarkt, Friedrich Đại Đế sai một Trung đoàn lặng lẽ di chuyển quanh thị trấn này bằng mọi con đường, và chiếm lĩnh cái ngọn đồi mà ông biết. Có lẽ là lúc đã lên được đồi, hoặc là lúc sẵn sàng làm chủ nó, ông phá tan chướng ngại vật tại Neumarkt và tấn công thẳng vào hàng nghìn quân Croatia. Quân Khinh Kỵ binh của ông ào ạt lao vào quân địch như vũ bã, cả họ đều vung kiếm và nã đạn hạ sát người Croatia.[133] Cảm thấy đồi đã bị vây kín, người Croatia tìm cách bỏ chạy nhưng cùng đường và biết chắc là sẽ bại trận. Sử chép, trong 1 nghìn quân Croatia: "569 tên bị bắt làm tù binh, và 120 tên bị tiêu diệt", trong một cuộc xáp chiến nhanh gọn kết thúc với chiến thắng của quân Phổ làm chủ thị trấn Neumarkt. Hơn nữa, lúc ấy lò bánh mì Áo đang hoạt tốt và hơn 8 vạn cái bánh mì đang được nướng nóng dần nóng dần lên, không ai đoán trước được rằng quân Phổ sẽ tiến đánh và lấy đi cái lò bánh mì này của quân Áo. Toán quân Áo bị xé lẻ, dư đảng phải hạ vũ khí[102]; có đến hai Trung đoàn Khinh Kỵ Binh Áo phải chạy tháo thân.[143] Thấy vị đại anh quân kéo hùng binh mãnh tướng Phổ đến, các kỹ sư quân Áo hoảng sợ và họ vội vã bỏ chạy thục mạng. Trong lúc ấy, Karl chẳng hề đếm xỉa đến thất bại ban đầu của quân ông. Ông vẫn cứ khinh dể người Phổ đã thua ông ở Breslau, đã bị ông lấy mất Breslau, vẫn cứ xem thường vị Quốc vương nước Phổ mất tỉnh Schliesen. Dù thế, Daun và Seberlloni vẫn khuyên ông nên thận trọng hơn, chờ Quân vương Phổ có thêm chuyển động.[57] Hàng ngày, mỗi khi họp mặt, ăn chung với nhau, Karl và mọi binh tướng Áo đều dễu cợt cuộc hành binh táo bạo của Friedrich Đại Đế về tấn công họ, và họ thường bảo lực lượng quân Phổ nhỏ bé là "Bọn Vệ binh thành Potsdam". Đây là một kiểu đàm tếu rất phổ biến của quân Áo trong lúc đó, và bản thân Vương công Karl cũng tham gia nhiệt liệt, hễ ai nói những từ ngữ ấy là người ấy làm đẹp lòng ông. Và, chính vì chủ quan nên Karl mất cả bánh mì lẫn binh lính Croatia của mình, mà không hề đếm xỉa đến cuộc tiến quân của nhà vua nước Phổ.[71]

Mỗi chiến binh của Karl đều có lương thực lạnh dự trữ sẵn trong tuí của mình: họ đã băng qua sông Weistritz (còn gọi là sông Schweidnitz). Với tư tưởng không thèm cảnh giác, ông cho quân hạ trại tại đây trong đêm hôm ấy - đây là lựa chọn không đến nỗi tệ một khi họ đã đằng sau con sông. Karl hoảng hồn khi hay tin vị Quốc vương nước Phổ đã đóng quân tại Neumarkt.[143] Họ tạo thành một tuyến dài, vuông góc với đường hành quân của Friedrich Đại Đế (chừng 10 dặm phía trước quân Áo). Sau khi vượt sông, họ hay hung tin: đại quân Phổ đã quét sạch binh lính Croatia của họ đồng thời lấy sạch bánh mì của họ, vị Quân vương Phổ lại ngay sát họ chứ không hề xa cách - và những sắp xếp không thể nào được thực hiện thật sớm sủa. Vị trí phòng thủ của họ giao với con đường cái ở các góc phải, và cả hai bên đều có nhiều làng mạc, đồi lắm cây cùng với đầm lầy, tạo cho họ phòng thủ vững chắc; trung quân của họ nằm ở ngay phía sau một ngôi làng tên Leuthen, cách từ nơi đây về phía Nam: traị quân đóng ngoài trời buổi tối có độ dài chừng 5 dặm. Nếu như Tướng Nadasty mà đóng tại đây thì có lẽ trại này sẽ còn dài hơn nữa, phải cỡ 6 dặm. Ông được lệnh thiết lập tả quân Áo, và tiến xuống tận Sagchütz nằm về ph1ia Nam làng Leuthen. 7 Tiểu đoàn Áo trấn thủ Leuthen trong khi 8 Tiểu đoàn trấn giữ Nypern, và mọi ngôi làng đều vững chắc: có những khúc gỗ, những đống cây chướng ngại khẳng khiu, những đồn bót, và không thể quên được, là quân Áo có lực lượng Pháo Binh rất đông dù đạn được của họ nhỏ. Trong khi đó, nhà vua Friedrich Đại Đế có ít nhất là 71 cỗ trọng pháo, và 10 trong sốt ấy là những khẩu đại bác có hoả lực khủng khiếp: Trung Tướng Ziethen đã mặc sức đem 10 cỗ trọng pháo này về từ những bức tường thành Glogau, song chúng vô cùng hiệu quả, trong lần này và nhiều lần khác. Những cỗ đại pháo ấy được mệnh danh là "đàn xe sắt, bầy bò rống" (Die Brummer) do chúng có thể băm vằm đối phương ra như chơi. Dù có hồi Quốc vương không trọng lực lượng Pháo Binh cho lắm, trong những năm tới, những khẩu đại bác này sẽ có uy tín xuất sắc.[71] Từ doanh trại Parchwitz, ông nghe tin quân Áo vượt sông Weistritz và đóng quân giữa tuyết rơi mà không có lều trại.[143]

Màn đêm buông xuống làm cho việc bày binh bố trận của Quân đội Áo không mấy thành công, và lâm vào hỗn loạn.[143] Trong khi ấy, tình đoàn kết son sắt giữa vua, tôi và binh sĩ Phổ trở nên điềm báo trước cho một trận thua tan tác của quân Áo.[50]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày Thứ Hai, tức là ngày 5 tháng 12 năm ấy, ngay từ sớm sủa Quốc vương từ bên cánh phải của lực lượng Kỵ Binh đến tiếp kiến đội Cấm Vệ Quân (Garde du Corps). Đây sẽ là một cái ngày khó thể nào quên trong sự nghiệp rạng rỡ của ông, bởi vì là một trong những thời khắc vinh quang nhất của ông.[144] Tuy Quốc vương không có được thông tin về cứ điểm của Karl, nhưng ông vẫn tự tin, nghĩ rằng mình sẽ đánh úp được nó, và sự thâm hiểu đến mức sâu rộng của ông sẽ là một yếu tố quyết định thắng lợi. Giờ đây, ông đang sẵn sàng cho mọi so việc.[36] Thời tiết hôm ấy tuyệt vời, nhưng rất lạnh. Các chiến binh thiện chiến đứng cạnh chiến mã của mình, và vỗ cho tay nóng hơn. Nhà vua nói: "Chào buổi sáng, hỡi đội Cấm Vệ Quân!" Một người lính già của đội Kỵ Binh tâu: "Tương tự với Người, kính bẩm Đức Vua !" Friedrich Đại Đế liền hỏi: "Lên đường ra sao đây?" thì những người lính cùng bẩm: "Được đấy, nhưng trời lạnh đến mức dã man!" Nhà vua bèn phán quyết:[141]

Kiên nhẫn chút đi các con, sắp tới tiết trời sẽ rất nóng trong ngày hôm nay.

—Friedrich Đại Đế

Toàn quân Phổ đã nhanh chóng rời bỏ Neumarkt, với từ năm đến sáu đội hình hàng dọc, và tiến hành cuộc hành binh trong im lặng vào 4 giờ sáng. Sách khác lại chép rằng người Phổ có bốn đội hình hàng dọc.[70] Ba quân có hai cánh Bộ Binh hùng hậu và mỗi bên cũng đều có một cánh Kỵ mã.[141] Hoặc cũng có lẽ là cả đoàn quân bắt đầu hành binh từ khoảng 5 hoặc là 6 giờ sáng hôm ấy.[133] Những người đứng đầu các đội hình đều đi song song với nhau, và hào khí của ba quân sục sôi lên tới đỉnh cao tột độ, thể hiện một đội quân dũng mãnh, thiện chiến mà không gì sánh bằng.[71] Một Đội Cận Vệ nhỏ được giao cho nhiệm vụ trấn giữ lò bánh mì của quân Áo và quân lương lấy được từ người Croatia. Bởi nhiều lý do nên cũng như các lần trước, nhà vua Friedrich Đại Đế tiến bước trước đội tiền quân tinh nhuệ của ông, cùng với ba Tiểu đoàn độc lập, những Khinh Bộ Binh và toàn thể Khinh Kỵ Binh và 9 Tiểu đoàn Bộ Binh trong Quân đội Phổ.[133] Ông sẽ dẫn quân đến thành Breslau, để quan sát các tuyến quân Áo, và tìm hiểu khó khăn khi giao đấu với chúng.[70] Trong đội hộ tống của ông cũng có một viên Sĩ quan, và ông xuống huấn lệnh với người này:[36]

Trẫm sẽ liều lĩnh trong trận đánh ngày hôm nay hơn bất cứ lúc nào khác; Aí Khanh đáng mến của Trẫm, cùng với 50 binh lính của mình (Khinh Kỵ Binh), trở thành đội quân hộ vệ của Trẫm. Khanh không thể rời xa Trẫm một khoảng cách nào, và có nhiệm vụ quan sát để Trẫm không rơi vào tay lũ giặc đê hèn. Nếu Trẫm ngã xuống, hãy dùng chiếc áo choàng không tay của Aí Khanh để phủ xác Trẫm, và để nó trong một cái xe goòng, và không được tiết lộ chuyện này cho ai biết. Trận đánh sẽ tiếp diễn và quân giặc sẽ bại tan tác.

—Friedrich Đại Đế

Gieb dass ich thu` mit Fleiss was mir zu thun gebuhret,

Wozu tnieh dein Be/ehl in meinem Stande fiihret,

Gieb dass ich's thue bald, zu der Zeit da ich's soil;

Und wenn ich's thu', so gieb dass es gerathe wohl.

—Bài Thánh ca của các chiến binh Phổ[71]

Quân ông phải hành binh trong khoảng 7 - 8 dặm nữa thì mới đến Borne - ngôi làng đầu tiên của con đường chính. Ngôi làng này cách Leuthen khoảng 2 dặm.[14] Bầu không khí ẩm ướt, không có mây, và Mặt Trời mọc lên giữa sương mù, làm cho toàn cảnh đều dễ được quan sát. Trên mặt đường có một lớp tuyết phủ nhẹ, nhưng nhà vua và các tướng tá của ông đều đã quen thuộc với trũng sâu và và dốc nhỏ của đồng bằng này, do họ thường diễn tập vào mùa thu tại đây trong những năm tháng thái bình thịnh trị, sau khi chiến thắng quân Áo trong cuộc Chiến tranh Kế vị Áo trong thập niên 1740, nên kinh nghiệm chiến thuật dồi dào.[70] Quân Kỵ binh Phổ tiến binh trên con đường chính yếu, nên cả bên trái và bên phải đều vắng bóng người.[71][141] Các đội nhạc binh Trung đoàn Phổ hát vang lên một bài Thánh ca buổi sáng, với mong ước được sự quan phòng của Thiên Chúa, mang lại chiến thắng quyết định. Nhà vua nghe được lời ca ngay từ bên tuyến quân gần nhất với ông. Lời ca của họ làm mất đi không khí yên lặng của cuộc hành binh, dù nhà vua đã nghe hoài. Các binh lính đánh trống không hề trừng phạt gì những lính nhạc binh đã hát lên bài ca dù lo sợ quân Áo sẽ nghe thấy tiếng động. Ba quân vẫn thận trọng tiến bước.[133] Một viên Sĩ quan bẩm với nhà vua: "Muôn tâu Bệ hạ, chúng ta có nên bảo họ đừng hát nữa không?" Thì ông đáp: "Không nên". Có lẽ trái tim của ông đã rung động trước hào khí của những người lính, dù có một sự thật rằng ông không phải là tín đồ nhiệt huyết của đức tin. Ông nói với một vị Tướng ở gần, có lẽ là Ziethen: "Không còn phải hát vậy thì với những người lính thế này, hẳn Thiên Chúa sẽ mang lại chiến thắng cho Trẫm trong ngày hôm nay".[71] (Trong một dịp tương tự hơn một thế kỷ trước, ông vua Thụy Điển lừng danh là Gustav II Adolf cũng sáng tác một bài Thánh ca tiếng Đức là "Verzage nicht, du Hauflein klein" để động viên tinh thần ba quân).[57] Chẳng mấy khi nào vị vua nước Phổ vĩ đại lại sùng bái Chúa Trời như trong trận Leuthen này.[43]

Chỉ lúc gần tới những căn nhà cháy đổ nát ở làng Borne, nhà vua dừng chân. Ông thân chinh kéo Khinh Kỵ Binh Phổ đánh vào tuyến Kỵ mã Áo dễ nhận diện nhất trong sương mù, nhằm phá tan chúng đi. Viên Trung Tướng Nostitz xấu số - với ba Trung đoàn Long Kỵ Binh khét tiếng Sachsen của ông (từng lập chiến công đánh thắng quân Phổ trong trận Kolín), cùng với hai Trung đòan Khinh Kỵ Binh Áo và một binh đoàn Croatia trấn giữ đường đi.[133] Có lẽ nhóm quân này rất thận trọng, tuy nhiên, bóng tối đã che khuất đoàn quân Phổ và thay vì tấn công, nhóm lính này đều bị bắt gọn cả: Đoàn quân Phổ xông vào đánh họ, từ phía trước và cả từ bên sườn nữa, và đánh bại hoàn toàn cả họ. (theo sử sách của Bộ Tổng Tham mưu của Đế quốc Đức thì Friedrich Đại Đế đã dùng 6 Tiểu đoàn để che phủ hữu quân trong khi 30 Sư đoàn tuyến đầu đại thắng đối phương[53]) Tuyến thứ nhất của quân Áo - Sachsen - Croatia bị đẩy vào tuyến thứ hai.[145] Họ phải phi ngựa mà chạy tháo thân khỏi đoạn đường này, chạy qua Borne, đến Nypern,[51] trong khi ấy hữu quân Áo không nhận được hung tin nhưng nhận được dấu hiệu không tốt. Các Trung đoàn Sachsen bị suy sụp. Những con chiến mã Sachsen quá kiệt sức và chậm chạp như rùa bò, góp phần cho sự tan vỡ của đội hình. Người Phổ không hề có chút tha thứ cho đối phương, họ loại rất nhiều binh sĩ Áo - Croatia - Sachsen ra khỏi vòng chiến và còn bắt sống đến 11 viên Sĩ quan.[145] Nhà vua bắt gọn 600 tên tù binh, và ông cho chúng đi qua các hàng quân đang hành binh của ông để động viên tinh thần của toàn quân tại Neumarkt. Giai thoại kể rằng, trong số tù binh này có một binh sĩ Khinh Kỵ Binh Phổ người gốc Pháp vừa đào ngũ hai ngày trước. Khi nhà vua bắt gặp hắn, ông hỏi: "Do đâu mà Ngươi lại đào ngũ?" Hắn hồi đáp: "Trời hỡi, kính tâu Bệ Hạ, chúng ta đã chết dần trên cõi trần, và chúng ta có lắm thời gian cho điều này" (sách khác chép là: "Thưa Bệ Hạ, kỳ thực là chúng ta đang ở đường cùng"[2]). Ông phán: "Này, hãy cố gắng thêm một ngày nữa; và nếu chúng ta không thể làm chủ được tình hình, Ta và Ngươi sẽ cùng đào ngũ nhé!" Sau đó, ông cho phép người lính này trở lại quân ngũ Phổ. Con đường rộng mở cho Quân đội Phổ, Nostiz có đến 12 vết thương chí mạng và mười hai ngày sau thì chết tại Breslau.[71][57][141] Trận giao tranh đầu tiên giữa hai đoàn quân đã chấm dứt với chiến thắng của người Phổ.[91]

Vương công Moritz xứ Anhalt-Dessau.
Viên tướng Hans Joachim von Ziethen của Phổ

Sau thắng lợi thoạt tiên, Friedrich Đại Đế hạ lệnh cho ba Tiểu đoàn và lực lượng Khinh Bộ Binh trấn giữ làng Borne. Ông cùng với Vương công Moritz và một toán Khinh Kỵ Binh thúc ngựa đến ngọn đồi nhỏ hẹp Schön-Berg (trong tiếng Đức từ berg để chỉ những ngọn đồi[146]) - từ nơi này ông có thể nhận thấy rằng ông cùng quân sĩ đứng sừng sững đối diện hữu quân - trung quân của các tuyến dài của quân Áo, khi ấy đại quân Áo đã tạo thành một trục Bắc - Nam kéo dài khoảng 4 dặm qua phía trước ông. Từ Nypern cho đến Sägchutz phía bên kia, dài đến hàng dặm, và dễ thấy nhờ có ánh sáng và thiếu sương mù, đến mức có thể đếm quân số quân đội Áo, từng tên lính một. Nhà vua liền quan sát địch quân, ông vẫn tiếp tục đếm lính Áo, và còn truyền lệnh cho các Trung đoàn Kỵ Binh của đội tiền binh trấn thủ ngọn đồi này. Giờ đây, trong khoảng ba tiếng đồng hồ, ông đã nắm bắt rõ được tình hình, dầu lúc này áng nắng Mặt Trời chói vào mắt ông. Và, có lẽ lúc này, ông hay tin từ các đạo quân trinh sát rằng hữu quân Áo, là cánh quân ở phía Bắc bị kìm chặt bởi đống cây sồi rậm rạp ở Zettel-Busch (là khoảng đất rộng lớn duy nhất của nơi thôn dã đầy gỗ), trong khi tả quân lại không thể nương tựa vào sông Schweidnitz. Quan trọng hơn nữa, nhìn sang hữu quân của ông, nhà vua nhận thấy các đồi Schleier-Berg và Sophien-Berg có địa hình thuận lợi, nhờ đó ông sẽ tổ chức một cuộc hành quân bí mật về hướng Nam chừng 2 dặm, nhờ đó tạo thành hai tuyến cho toàn quân Phổ trên trận tiền, và sau đó thì một sự quay về phía Đông sẽ khiến cho đoàn binh của ông có thể chiếm lĩnh một vị trí tấn công vuông góc với tả quân Áo tại Sägchutz. Gần như chắc hẳn rằng nhà vua đặt tên cho mọi ngôi làng mà ông nhìn thấy, chúng sẽ tạo điều kiện cho ông lấy thế thượng phong và đánh thắng giặc như trong các quân lệnh của ông.[71][141]

Với kế hoạch này, vị vua sáng suốt đã thực hiện chiến thuật "đánh xiên" (Schiefe Schlachtordnung), bằng tài lược thao của ông và ba quân: chiến thuật này xưa kia đã được người Hy Lạp cổ đại áp dụng trong một vài lần, tỷ như chiến thắng của Alexandros Đại Đế xứ Macedonia ở Gaugamela.[147] Và, chính nhà vua nước Phổ là người hồi phục lại nó, với quân lệnh của ông vào năm 1742. Thực chất, đây không phải là lần đầu tiên ông thực hiện chiến thuật này. Trước trận Leuthen, nhà vua đã dùng nó trong các trận đánh khốc liệt như Hohenfriedberg (1745), Praha, Kolín và Roßbach. Song, đây là lần cần thiết nhất để ông sử dụng chiến thuật này. Trong thời buổi này, không binh sĩ nào ở châu Âu thực hiện chiến thuật này xuất sắc hơn là đoàn quân Phổ của nhà vua. Theo nguyên lý của chiến thuật này, vị chỉ huy quân sự phải chia tuyến quân của mình ra thành nhiều đạo, theo đó họ cứ vận động theo hình bậc thang, sau đó sẽ dừng chân hợp binh với nhau tại một vị trí tốt hơn cả và cứ thế mà đánh bại địch, từ một góc thuận tiện nhất. Chính Friedrich Đại Đế sáng tạo ra cách hành binh về vị trí thuận lợi này, về nhiều mặt nó giống với đội hình phương trận của Quân đội Macedonia cổ đại. Tóm lại, chiến thuật này nhằm tập trung binh lực đánh vào một vị trí hiểm yếu nhất của địch.[71][148] Kế hoạch nổi tiếng của nhà vua cho trận Leuthen sẽ làm nên một cuộc tấn công kinh điển của chiến thuật này, mang lại thành công rất lớn và ảnh hưởng sâu rộng, trong đó các đội hình hàng dọc là một phần của chiến thuật trứ danh này (trở nên một điểm đáng nhớ nhất của trận thắng to này cùng với khả năng tận dụng địa hình của ông[16]).[20][70][12][13] Trong việc áp dụng đúng đắn kỹ nghệ chiến thuật tuyệt đỉnh này, Friedrich Đại Đế còn nhận thức rằng đại quân Áo - với tư cách là một quân đội theo kiểu thế kỷ 18 - đã triển khai trận tuyến quá dài và không thể đổi tầm hướng được. Quân địch khi ấy sẽ mất đi thế thượng phong về quân số và dễ dàng bị đập tan tác thành trăm mảnh.[149] Và, ý tưởng này đã cứu nguy cho Vương quốc của ông, giữa thời điểm lâm nguy, làm nên một toàn thắng nhờ vận động có ý nghĩa về cả chiến thuật lẫn chiến dịch. Thực chất, chiến thắng Leuthen được coi là một thành công hết sức hiếm có của chiến thuật này, song thắng lợi to lớn đó đã cấy nên ý nghĩ về một cuộc tập kích tuyệt mĩ theo lối này.[82][16][14] Nhìn chung, qua các trận đánh của Friedrich Đại đế tỷ dụ như trận Leuthen, ta thấy chiến thuật rất được ca ngợi này luôn thành công một khi không có nguyên lý đúng đắn nào của chiến tranh bị việc áp dụng chính nó "xuyên tạc" và khi địa hình thuận lợi che khuất việc hành chinh của quân sĩ.[32]

Friedrich Đại Đế không thể tin rằng có một bãi chiến trường nào khác thuận tiện hơn là cái đồng bằng rộng lớn này. Đại binh Áo khó thể tin rằng đoàn quân Phổ nhỏ bé kia có thể tiến đánh họ. Trong khi đó, việc quân Phổ đánh tan tác các Trung đoàn Sachsen có giá trị to lớn hơn người ta có thể tưởng: không những binh lính Áo phải chịu tổn thất nặng nề, mà còn khiến cho họ không thể nhìn thấy Quân vương nước Phổ, và không bao giờ có thể phát hiện ra ông, đến cả trong vòng những tiếng. Trong khi đó, chính ông lại dễ dàng nhìn thấy địch quân.[71] Karl hay tin dữ vào lúc 6 giờ sáng, rằng Nostiz đã lui quân.[145] Còn trong lúc này, điều cần thiết là phải cho đối phương thấy rằng đoàn binh Phổ có dự định tiếp tục Đông tiến về phía bên kia làng Borne. Để nghi binh,[70] nhà vua dàn đoàn Kỵ binh của đội Tiền Vệ, nhằm để 1 nghìn vó ngựa ở phía Đông làng Borne rơi vào tầm mắt của người Áo, và cho đến 11 giờ sáng thì một số chiến binh trong đại quân tạm thời được triển khai, tưởng như họ có dự kiến hành binh thành một tuyến và tấn công trực diện vào cứ điểm của người Áo. Sau đó, trong buổi sáng các đội hình hàng dọc Phổ hành binh chuyển về hướng Nam, vượt qua và vòng qua Borne, và bằng một loạt hình thức phân tán và kết hợp lại, các cánh quân biến đổi thành các tuyến. Vì một lý do mà chưa hề được giải thích chặt chẽ, Vương công Karl xứ Bevern và sáu trong số chín Tiểu đoàn của quân hộ vệ vẫn sát cánh với đoàn quân của Ziethen và cánh hữu của quân Kỵ mã - là một sự hòa hợp của hai lực lượng Bộ Binh và Kỵ Binh đã làm nên âm vang của trận Mollwitz hồi năm 1741 khi người Phổ đánh tan nát quân Áo.[141] Trong khi ấy, việc ông lui binh về hướng Nam khiến cho một số người lý luận, và thậm chí thừa nhận rằng đoàn quân Phổ thấy quân Áo quá mạnh nên phải bỏ đi chứ chẳng dám đánh.[70] Thực chất, ảnh hưởng của việc nghi binh này là không nhỏ.[91] Người Áo cóc hiểu kế sách của ông: Bộ Tư lệnh Quân đội Áo lúc này đang đóng tại các máy xay gió, bên tháp chuông Giáo đường. Họ chăm chú nhìn chuyển động của đại quân Phổ, dù rất khó nhìn thấy người Phổ. Thống chế Daun, vốn không muốn cho đại quân Áo tấn công quân Phổ, nghĩ rằng người Phổ đang di dời về phía Nam, có lẽ là đến xứ Böhmen, hoặc là đến các kho đạn dược của họ. Phải chăng nhà vua muốn tấn công tiếp tế của quân Áo tại Böhmen nhằm buộc họ phải thoái lui mà không phải đánh một trận nào cả? (theo chính sử Phổ thì sự chủ quan kiểu vậy là "quan niệm hoàn toàn của khí thế thời đại")[58] Theo ghi nhận của Thomas Carlyle, cứ theo những cách nhìn tương tự, ông nói với Karl xứ Lorraine:[71]

Bọn địch dời đi rồi, mặc xác chúng!

—Leopold Joseph von Daun

Theo một câu chuyện kể[123], sáng hôm ấy, khi thăm dò, ông hỏi một tá điền: "Này, đó là cái gì?" (ý Daun ám chỉ cái đỉnh tháp chuông Giáo đường làng cao cao), tuy nhiên người nông dân kia lại không nghĩ vậy: anh nghĩ rằng Daun muốn nói đến một nơi nào đó có vẻ quen thuộc với anh hơn, do đó anh trả lời: "Đó là cái đồi mà Đức Vua của chúng tôi đánh đuổi giặc Áo, khi Người duyệt binh tại đây". Anh hiểu rằng đây là cái đồi Schön-Berg với địa hình thuận lợi cho vị vua nước Phổ tài năng thao lược.[123] Daun cười phá lên và ông báo cáo câu nói này về cho Bộ Chỉ huy của Quân đội Áo.[71] Tuy nhiên, Lucchesi - chỉ huy hữu quân Áo[145] - thì lại khác, xem xét những ngọn đồi ấy kỹ càng. Việc đoàn Kỵ binh của Friedrich Đại Đế tiêu diệt quân Áo - Sachsen, kết hợp với đợt nghi binh của ông, đã khiến Lucchesi trở nên vô cùng lo sợ. Ông nghĩ rằng đội tiền quân Phổ có thể đánh vào hữu quân của mình giữa Frobelwitz và Nippern, rồi theo đó Quân đội Phổ sẽ đánh úp ông. Vốn dư đảng Áo - Sachsen sau khi bị Friedrich Đại Đế đánh bại đã tháo chạy về Frobelwitz và chỉ dừng lại ở một ngọn đồi nhìn thấy trung quân Áo.[147] Montzet - tên gián điệp hoặc là công sứ Pháp, khuyên Bá tước: "Tấn công Ngài ư? Trừ phi chúng là chim dẽ giun, điều ấy là điều khó". Tuy nhiên, Lucchesi vẫn kinh sợ. Ông cho rằng quân Phổ thật sự sắp tấn công quân mình, và gửi điện báo đến Daun và Karl, nhưng nhận được hồi âm của Daun: "Đừng quấy rầy!" và biện luận kiên quyết bằng lý lẽ của mình làm cho Lucchesi không bằng lòng. Lucchesi lại tha thiết cầu khẩn các chủ tướng bằng một thông điệp thứ hai, nhưng cũng bị hồi âm tương tự. Cuối cùng, ông giận dữ viết thêm một thông điệp thứ ba: "Nếu Kỵ Binh không tiếp ứng, tôi sẽ không chịu trách nhiệm vì hậu quả". Bản thân Karl cũng tin rằng quân Phổ sắp tấn công hữu quân Áo, đặc biệt là kể từ khi ông nhìn thấy những đội hình hàng dọc Phổ ở phía Bắc làng Borne.[145] Và, hai viên Tư lệnh này hạ lệnh cho quân Dự bị của họ (gồm có 9 Tiểu đoàn) tràn vào cánh quân Áo đang bị đe dọa. Số là do Karl hiểu rằng quân Phổ đang tiến về đánh đội hữu quân của ông giữa Frobelwitz và Nippern. Từ một cứ điểm thực sự nằm ở phía Nam Sägchutz, quân Dự bị Áo phải vất vả kéo vào. Daun đích thân chỉ huy họ, và ông còn lôi phần lớn tả quân của Áo về viện binh cho Lucchesi, để đối mặt với những hiểm nguy mà Lucchesi.[71] Tuy vậy, nhà vua Friedrich Đại đế không phải là một địch thủ "cùi bắp" để bị giam chân đến thế.[91][141] Điều này khiến kế sách của ông đã thành công: quân địch đã mắc bẫy của ông qua việc tung viện binh cho cánh quân bị "đe dọa".[70] Do đó, thời khắc vàng của ông đã đến.[71] Theo nhà sử học quân sự Hoa Kỳ là Robert B. Asprey thì chính sau khi phái binh đoàn Dự Bị đến, thấy nhà vua dẫn các đội hình quân Phổ - đều đã được huấn luyện chu đáo[136] - sang phải thì Karl chủ quan và nói với viên Sĩ quan tùy tùng của mình câu: "Bạn hữu của chúng ta đã ra đi, cứ để chúng thượng lộ bình an".[145] Cứ theo cái đà đó, chiến trận Leuthen sẽ diễn ra đúng theo kế hoạch của nhà vua Friedrich Đại đế.[31]

Bãi đất ở giữa và phía Nam ngôi làng Leuthen là một trong những địa hình bằng phẳng và thuận tiện nhất taị Schliesen, tuy nhiên, khi đoàn quân Phổ hành binh thêm vài trăm bước nữa, họ đã xa rời tầm mắt của Bộ Tư lệnh quân Áo ở phía Bắc Leuthen. Đòn mánh khóe này của nhà vua được thực hiện chủ yếu dựa vào kiến thức thâm sâu của ông về địa hình này. Khác với Karl, tên các ngọn đồi Schleier-Berg, Sophien-Berg và Wach-Berg đã in sâu vào tâm trí ông (địa thế thuận lợi của làng giúp ông dễ hành binh và đánh thốc vào tả quân Áo).[140] Ông mong muốn rằng quân địch sẽ không hề biết gì về chuyển động này của quân ông, để tránh những trường hợp náo loạn đã từng diễn ra trong các trận Praha và Kolín hồi giữa năm 1757, do đó ông cứ hành binh về phía Nam, bên phía Tây và khó thể nhìn thấy được của vùng đồi núi. Khoảng đất giữa ông và quân Áo không cao lắm, nhưng địa hình của nó hoàn toàn dễ che khuất quân ông. Trên đồi của họ, Karl và Daun không thể nhìn thấy một Kỵ sĩ cầm lá quốc kỳ Phổ, và đến cả những chiến binh quan sát kỹ lưỡng dùm cho họ cũng chẳng thể nhìn thấy Friedrich Đại Đế đâu.[91] Về phần nhà vua, ông truyền lệnh cho ba quân tiếp tục hành quân về những cái kim tự tháp xám xịt, rời rạc của đồi Zobten-Berg. Quân Phổ có thể sẽ kéo về Radaxdorf, nói cách khác là kéo về Lobetinz, hoặc có thể xa thêm tí nữa về phía Tây của quân Nadasty. Và, ít lâu sau giữa ngaỳ, các đội hình hàng đầu của người Phổ đã đến phía Tây Lobetinz - nơi đây Quốc vương đã vạch ra kế hoạch chuyển đi từ nửa Tây về Đông - Nam - Đông, và do đó đi qua cánh quân Áo. Khi trung quân và hữu quân vẫn kéo về những cứ điểm mà họ đã thiết lập cho việc tấn công, Quốc vương dừng chân ở cối xay gió tại Lobetinz (nằm trong một góc xó của cuộc hành quân) và tại đây, với tài mưu lược của mình ông đã quan sát tình hình: ông biết rõ rằng thời cơ đã đến với ông: một khi Daun đã mang Kỵ Binh sang yểm trợ hữu quân Áo, và cuộc hành binh Nam tiến của ông đã hoàn thành. Khi đã vượt qua Lobetinz, đại binh Phổ vòng sang bên trái và đừng sừng sững ở phía trước và chắn ngang các ngôi làng Kertschutz và Shriegwitz, với Sägchutz phía trước cánh hữu tuyến quân. Giờ đây, nhà vua, với sự nhanh như chớp của ông, đã triển khai toàn bộ đại binh thiện chiến hướng về phía Bắc, ở một khu vực duyệt binh chỉ dài có 1 dặm mà thôi. Tả quân Áo cách họ 600 thước Anh, và ở phía bên kia tả quân Áo chính là ngôi làng Leuthen. Cuộc vận động ấy đã diễn ra thuận lợi, và trong bóng tối che mắt đối phương, đúng theo kiểu Schräge Stellung.[70][71][141][147] Người Phổ thực hiện cuộc hành quân táo bạo này tràn trề khí thế, theo như nhà sử học C. F. Barsewich người Đức:[147]

Quân ta tiến bước mà cất lên tiếng hát, nhưng đang làm lễ duyệt binh. Trật tự của họ cũng nghiêm minh chẳng kém các buổi tập dợt tại thành Berlin, do họ đang hành binh trong mắt Đức Thánh Quân của họ.

—C. F. Barsewich

Quân đội Phổ của nhà vua Friedrich Đại Đế hành binh quanh các ngọn đồi để tấn công quân Áo.

Khi chuyển động này diễn ra, Lobetinz nằm trong tình trạng hiểm nguy: nó hoàn toàn nằm giữa vài khẩu đại bác Áo và nhiều khẩu đại pháo của các Tiểu đoàn Pháo Binh Phổ - họ đã chọn thời cơ này để nã đạn. Làn đạn hai bên xuyên qua vài cái cây, và sau vài khoảnh khắc viên Đại úy Dyhern phi ngựa qua các hàng cây và khuyên người em trai út của vua Phổ là Vương đệ August Ferdinand ngừng bắn kẻo trúng vua anh. Giữa đợt nã đạn này, nhà vua lo ngại về việc ánh nắng ban ngày thường chấm dứt sớm trong tháng 12 (mùa đông lạnh giá), và nhưng cuộc tiến công sẽ được thực hiện.[70] Ferdinand là vị tướng trẻ theo chân vua anh trong các trận chiến mà trong số ấy có trận Leuthen này, và khi nghe Dyhern can ngăn thì ông hoảng hồn bạt vía.[71] Những trận đánh trước cho thấy rằng những đợt tấn công hạn chế không thể hạ gục hoàn toàn được cứ điểm kiên cố của người Áo, và lần này nhà vua quyết định làm nên một đòn giáng sấm sét. Bên cạnh đó, do buổi sáng của ngày 5 tháng 12 rất hạn chế cho nên ông băn khoăn về thời gian tấn công.[70] Quốc vương giao cho Thiếu tướng là Kurt Heinrich von Wedel trọng trách tiến hành đợt tấn công đầu tiên, cùng với ba Tiểu đoàn còn lại của Đội Tiền Vệ, bao gồm Trung đoàn Meyerinck và Tiểu đoàn thứ hai của Itzenplitz. Ông quyết tâm đánh chiếm cao điểm hiểm trở bên trái Nadasty.[145] Theo nhà sử học quân sự Christopher Duffy, bên phải đội hậu binh của họ một đội hình bao gồm có bốn Tiểu đoàn, phần lớn là những người lính phóng lựu, và một Khẩu đội pháo gồm có những khẩu đại pháo nặng 12 pound, và đang di dời về phía dưới đồi Glanz-Berg.[141] Nhà sử học quân sự người MỹDennis E. Showalter cũng ghi nhận rằng có 3 Tiểu đoàn Bộ Binh mang nhiệm vụ bắt đầu tấn công, trong đó có 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn Bộ Binh thứ 26 và một Tiểu đoàn của Trung đoàn Bộ Binh thứ 13. Hữu quân của họ có một đội hình bốn Tiểu đoàn che phủ: bao gồm ba người lính lính phóng lựu và một người lính pháo thủ từ Trung đoàn Bộ Binh thứ 13, cùng với Khẩu đội pháo Brummer gồm những khẩu pháo nặng 12 pound như đã nêu, lấy từ thành Glogau về.[91] Trận đánh này khắc sâu dấu ấn của các binh lính phóng lựu Phổ khét tiếng lẫm liệt, mà được xem là chưa có quân đội nào đào luyện nên được trong 1/4 thế kỷ ấy.[108] Nhà sử học Thomas Carlyle ghi nhận rằng Wedel cùng với Vương công Moritz có đến 6 Tiểu đoàn, cùng với các Khẩu đội pháo của họ, trong đó có Khẩu đội pháo của 10 súng đại bác Brummer và các Khẩu đội pháo khác. Theo sử sách của Robert B. Asprey thì Khẩu đội pháo Brummer trực tiếp yểm trợ các Tiểu đoàn của Wedel còn bốn Khẩu đội pháo khác nằm ở phía trước tuyến quân thứ nhất.[145] Quân Bộ binh chủ lực được dàn thành một tuyến hình chữ chi gồm thâu các Tiểu đoàn kéo dài về lại bên trái. Toàn quân chính quy này đóng ở phía Tây Bắc Schriegwitz, nơi đây các Tiểu đoàn khó thể bị quân địch phát hiện. Asprey viết rằng Wedel cầm đầu các Tiểu đoàn sẵn sàng xung kích đánh quân Áo ở bên phải tuyến quân thứ nhất. Thực chất, theo Jay Luvaas thì ban đầu Wedel chỉ huy đến 12 Tiểu đoàn Tiền Vệ, 6 trong số đó đã kìm chân quân cánh tả Áo trong thắng lợi đầu của Phổ tại Borne, trong khi 3 Tiểu đoàn khác được phân bố phía sau để chiếm đóng làng khi ba quân tiến hành hành binh bên sườn phải, thành thử Wedel chỉ có 9 Tiểu đoàn, sáu trong số đó hộ vệ sườn phải của cánh Kỵ binh, ba Tiểu đoàn còn lại thì dẫn đầu cuộc tiến công của Bộ binh.[53] Ở hậu quân của tuyến quân thứ nhất bao gồm lực lượng Khinh Kỵ Binh Württemberg, Khinh Kỵ Binh của Trung Tướng Georg von Driesen (Driessen), và đội Kỵ Binh Dự Bị nằm ở phía Tây Lobetinz.[145] Lực lượng Khinh Kỵ Binh của Tướng Ziethen cũng có mặt tại đây, gồm thâu 53 Sư đoàn Kỵ Binh và là hậu quân ở bên phải của lực lượng Bộ Binh, nhằm để che chắn ba quân, và cướp bóc chiến lợi phẩm của địch quân.[91] Đạo quân này đóng ở phía Đông Nam Schriegwitz.[145] Tướng Driesen nhận thấy đạo binh của ông chưa đủ mạnh để tấn công nên cứ đứng lại chờ thời cơ.[20] Theo nhà sử học quân sự người Anh là F. F. C. Fuller (Có miêu tả tương tự rằng hữu quân Phổ tiên phong với sự chỉ huy của Wedel, Vương công Moritz và Ziethen), quân cánh tả Phổ do Tướng Wolf Friedrich von Retzow thống lĩnh gồm thâu phần còn lại của lực lượng Bộ Binh, được 40 Sư đoàn Kỵ Binh của Trung Tướng Driesen yểm trợ. Cứ mỗi nhóm Kỵ Binh lại có 10 Sư đoàn Khinh Kỵ Binh và một đội Hậu Vệ Binh do Vương công Eugen xứ Württemberg chỉ huy, gồm thâu 25 Sư đoàn Kỵ Binh.[150] Toàn bộ Quân đội được hình thành theo chiến thuật "đánh xiên" (Schiefe Schlachtordnung) rất hoàn hảo: cả lực lượng Bộ Binh, Kỵ Binh lẫn Pháo Binh. Việc bố trí ba quân của nhà vua rất bài bản, xứng đáng là một cuốn sách chuyên ngành của chiến thuật "đánh xiên".[71][141] Và, một yếu tố khác mang lại thắng lợi là ông biết giữ vững quân cánh tả của ông, với bài học xương máu từ các trận Praha và Kolín.[57] Ông cũng không hề vội vã, mà vẫn cân nhắc kỹ với chiến thuật của ông. Ông lắng nghe mọi ý kiến của cả Bộ Chỉ Huy nước Phổ, và ông dừng lại trò chuyện với các Hạ sĩ tự do (Fahnenkorporal) Barsewisch và Unruh, khi ấy họ đang cầm những lá tinh kỳ của một Đại Đội của viên Đại tá Meyenrick:[141]

"Sĩ tốt cầm hiệu kỳ, chú ý! Các Người phải vượt qua đống cây chướng ngại, nhưng được tiến binh quá nhanh đến mức giặc mất dấu các Người." Lúc ấy Quốc vương đã vạch ra khoảng cách giữa tuyến giặc và các Tiểu đoàn của chúng ta, và hô hào: "Hỡi các con, các con có thấy những tên địch mặc đồ trắng tại đây không? (ám chỉ người Áo vì quân Áo khi ấy mặc quân phục màu trắng) Các con có nhiệm vụ hất cẳng bọn chúng ra khỏi công việc đào đất. Các con chỉ cần phải tiến thẳng về phía chúng và dùng súng lưỡi lê để đuổi cổ chúng đi. Trẫm sẽ cùng năm (theo nguyên văn) Tiểu đoàn Lính phóng lựu và toàn thể đại quân kéo rốc đến cổ võ cho các con. Đây là một việc mà chỉ có làm hoặc là chết! Chúng con có bọn giặc ở phía trước, và đại binh ở đằng sau. Không có chỗ nào để tháo chạy, và chỉ có một con đường duy nhất để tiến bước là đè bẹp giặc thù"

—Dẫn theo Barsewich, 1863, 32, thực chất quân Áo ở khu vực này đều mặc quân phục màu xanh dương cả

Hùng binh mãnh tướng Phổ trong trận đánh vang danh này.

Tiếng kèn, tiếng trống Quân đội Phổ rộn vang lên, khiến người "Hạ sĩ tự do" là Ernst von Barsewich phải ví von cuộc tiến công của họ với một buổi duyệt binh thường ngày nơi đô thành Berlin.[145] Nadasty (được mệnh danh là "Cha ria mép"[146]) - vị chiến tướng kiệt xuất của quân Áo - chiếm cứ Sägchutz và phòng ngự hoàn hảo. Ông có một khẩu đội pháo hùng mạnh, 14 khẩu đại bác từ trên ngọn đồi đến đội hậu binh của mình, ở một góc đạo binh của ông. Có đống cây chướng ngại từ phía trước ông ta về bên phải - đây là cái mà người Phổ muốn tấn công, cũng như bộ đội Croatia ở đống củi. Trong khi ấy, Vương công Moritz cũng thúc ngựa đến bên nhà vua để báo cho ông biết là Quân đội Phổ đã chuẩn bị hoàn hảo trong cái ngày Đông ngắn ngủi. Trận đánh thực sự tại Leuthen bùng nổ ít lâu sau 1 giờ chiều khi quân Wedel bắt đầu tấn công, nhưng thực chất, người Phổ đã thắng trận Leuthen trước khi bất kỳ một tiếng súng nào vang lên, do nhà vua đã hoàn thành công cuộc hành binh chỉ trong buổi sáng hôm ấy. Nhiều cuốn sử kể về cuộc chiến thực sự tại đây. Nadasty thấy những binh sĩ dũng mãnh của Phổ hừng hực khí thế xung phong ồ ạt, liền hoảng sợ và liên tục gửi thông điệp đến Karl để nhờ ông này tăng viện cho, nhưng đã muộn. Karl không hề hồi âm. Bên cạnh đó, Binh đoàn Dự bị Áo cách đó hơn 4 dặm về cánh hữu.[145] Không lạ gì khi đợt tấn công của người Phổ vào tả quân Áo này làm cho Karl và Daun hết sức ngạc nhiên. Ngay đến lúc này, Friedrich Đại Đế vẫn phải phái cho hết viên Sĩ quan tùy tùng này đến viên Sĩ quan tùy tùng khác mang huấn dụ đến khuyên ba quân đừng nên tấn công quá ư là mãnh liệt. Những lực lượng quân Áo đầu tiên phải chịu trận là Binh đoàn Trợ chiến người Đức, trong đó có nhiều người lính Kháng Cách Württemberg, và chính vì đức tin của họ mà họ chẳng thiết tha gì với việc chống lại người Phổ dũng mãnh - do một vị vua trên danh nghĩa là theo Kháng Cách chỉ huy - mà làm lợi cho chính quyền Áo theo Công giáo. Đội quân Württemberg ấy là do Thống chế Von Spiznass chỉ huy, và người cha của đại thi hào Friedrich Schiller cũng đã tham gia chiến đấu trong quân ngũ Württemberg ở trận thảm bại này, và cũng với những người đồng đội tháo chạy khỏi trận địa.[16][151] Theo nhà sử học nghệ thuật Franz Kugler (người Đức) thì Binh đoàn Trợ chiến Đức còn có cả người Bayern - mà cũng không thật trung thành với người Áo.[36] Hẳn là Daun và Karl tung họ lên vị trí này chính vì đây là chỗ im lặng nhất trên trận tiền. Trong vài phút, họ làm nên một vị trí phòng thủ kiên cố đến bất ngờ ở sau dãy cây liễu, thành một chiến hào nhỏ. Những người Đức này liền tháo chạy khi Trung đoàn Meyerinck tiến đến dù người Phổ chưa hề động chạm gì đến họ, và vài Tiểu đoàn Württemberg khác về phía Đông cũng tháo lui dù họ chẳng hề bị quân Phổ ra một đòn chí mạng nào cả. Người Áo sau này than lên: "Họ là người Württemberg, vì thế họ không thể chống nổi!" Chiến thắng của người Phổ trong đợt giao tranh này là một đòn giáng mạnh vào tả quân Áo, làm cho tả quân Áo bị tan tác.[36][14] Lực lượng Bộ Binh Phổ xung kích về ngôi làng Leuthen như vũ bão, với sự yểm trợ của khẩu đội pháo cơ động gồm có những khẩu đại pháo hữu hiệu. Theo Christopher Duffy, những khẩu đại pháo ở bên phải và giữa nã đạn lần đầu tiên từ đồi Juden-Berg ở phía Tây Bắc Sägchutz, sau đó hợp nhất với các khẩu pháo của đội tiền vệ đang thẳng tiến trên con đường Kirch-Berg.[71][58][150]

Cùng lúc đó, Nadasty tuy ngạc nhiên trước cuộc tấn công dữ dội như long trời lở đất của người Phổ, vẫn sẵn sàng chiến đấu dũng mãnh. Ông ta phòng thủ vững chãi, thậm chí có khi còn chủ động đánh lại quân Khinh Kỵ binh của kỳ phùng địch thủ của mình là Ziethen, trước khi Ziethen có thể tấn công. Trong khi ấy, đạo quân của Ziethen lại nằm xa về bên phải quân hùng mãnh tướng Phổ, và về phía bên phải ông thì chẳng có một binh lính nào cả. Chưa kể, địa hình của quân ông cũng chẳng hề có một bụi rậm, chẳng có một con suối nào (dù Trung Tướng Ziethen đã nhận thức rõ điều này và ông lệnh cho một toán Bộ Binh đóng gần đó để yểm trợ cho ông). Quân Khinh Kỵ binh của ông bị lao đao, phải rút xuống cái dốc mà họ đang đóng, và tình hình sẽ còn tệ hại hơn nữa nếu quân Bộ binh yểm trợ Ziethen không tiếp ứng. Bộ đội Phổ nã đạn xối xả vào đội binh đang tiến tới của Nadasty, quân Nadasty thua to nên phải thoái lui. Tàn quân Nadasty trở nên nhốn nháo, và Ziethen liền chớp ngay thời cơ: ông xung phong cùng với lực lượng Khinh Kỵ Binh và dễ dáng đánh tan nát địch quân. Bởi lẽ, trong đợt giao đấu lần thứ nhất của ông, lực lượng Bộ Binh Phổ nằm ở bên trái quân của ông, đã tấn công thẳng vào đống củi Sägchutz, hoàn toàn quét sạch quân Croatia, đồng thời phá tan tành tuyến quân của Tướng Nadasty, nhờ sự hậu thuẫn chặt chẽ của một Khẩu đội pháo Brummer. Chưa kể là lực lượng của Thiếu Tướng Carl Heinrich von Wedel và toàn quân Phổ cũng tấn công ồ ạt như đã nêu trên. Friedrich Đại Đế trực tiếp chỉ huy ba quân tiến bước trên đà thắng lợi.[40] Wedell và các chiến binh khí thế vung lưỡi lê tiêu diệt sạch ba Tiểu đoàn địch, và nắm giữ được cả bảy cỗ khinh pháo của Áo.[136] Lực lượng Bộ Binh Phổ với sự yểm trợ của Pháo Binh đã ồ ạt xung phong hết sức dũng mãnh, xứng đáng là "những bức tường biết đi".[141] Trong khi đó, đội Pháo Binh thì có thế mạnh là cơ động rất nhanh.[14] Do chiến bại của mình, mặc dù có địa hình thuận lợi nhưng Nadasty lâm vào tình cảnh khốn cùng, ở tận cùng bên trái hoặc là một điểm xa nhất từ "giá đỡ", hoặc là "đầu gối" mang tính chiến thuật của quân ông ta. Quanh cái "xương bánh chè" hoặc là góc xó của "giá đỡ" của quân ông ta, Nadasty còn phải chịu thêm rủi ro tệ hại hơn nữa. Vốn lúc người Áo nổ súng, khẩu đội pháo của 10 súng đại bác Brummer - với hỏa lực khủng khiếp - đã nã tan tành hai khẩu đại bác của quân Áo,[40][145] và cùng các khẩu đội pháo khác Phổ đánh phá tan nát đống cây chướng ngại, khi người Württemberg tháo chạy thì quân Phổ thừa thắng xông lên phá tan tành đống cây này, nhờ vào súng đạn và lưỡi lê. Quân Bayern cũng bỏ chạy thục mạng.[32] Nói như nhà sử học J. F. C. Fuller thì "Sagschütz và Leuthen phủ đầy những quân lính tháo chạy đang bị lực lượng Khinh Kỵ Binh Phổ truy đuổi, đằng sau quân Khinh Kỵ binh Phổ có quân Bộ binh tiến bước theo hai hàng. Bên phải là Wedel, ở giữa là Moritz, bên phải là Retzow".[150] Trên đà đại thắng, Lữ đoàn Kỵ Binh của Thiếu tướng Rupert Scipio Lentulus xung phong lập chiến tích vang dội,[27] chiếm lĩnh cả Khẩu đội pháo riêng tư của Nadasty gồm thâu 14 khẩu đại pháo (theo Carlyle) hoặc là 15 khẩu (theo Duffy), sau đó gần như tận diệt đội Long Kỵ Binh Jung-Modena của người Áo. Quân Khinh Kỵ binh của Nadasty đã hoàn toàn tuyệt vọng, bị người Phổ áp đảo.[71][141] 2 nghìn binh lính Áo bị viên Đại tá Friedrich Wilhelm von Seelen chỉ huy Đội Khinh Kỵ Binh Ziethen tóm gọn sạch.[145] Vương công Serbelloni của Áo dũng mãnh hỗ trợ những nỗ lực của quân Áo trong tuyệt vọng, và bị thất bại ê chề.[145] Trong suốt cuộc chiến đấu dai dẳng, Ernst von Barsewich bị trúng đạn xuyên qua áo anh, nhưng một người đánh trống quả cảm đã cứu vớt anh, mang anh đi và chữa trị vết thương cho anh.[145] Theo ghi nhận của hai tác giả Dennis E. Showalter và William J. Astore, lực lượng Bộ Binh Phổ uy dũng tiến thẳng về làng Leuthen, với tư cách là lực lượng tiên phong của quân đội của nhà vua Friedrich Đại Đế trong việc tiếp cận với làng này. Họ nắm dưới quyền chỉ huy của Moritz xứ Anhalt - Dessau, người đã hiểu rõ về sự ác liệt của chiến đấu. Trung đoàn thứ 26 dưới quyền Hoàng thân Ferdinand, tuân theo thượng lệnh của Vương công Moritz, đã chiến đấu anh dũng và lập công đánh bật nhiều đợt tiến công của Kỵ binh Áo. Một người cầm cờ của Trung đoàn thứ 26 nghe vị chủ tướng Moritz của mình hô hào: "Hỡi các con trai, các con đã giành lấy đủ vinh quang ! Quay về tuyến thứ hai". Liền đó, người cầm cờ đáp: "Chúng con sẽ là những thằng đê hèn (Hundsfötter) nếu quay lại tuyến thứ hai ngay bây giờ ! Hãy để cho chúng con có thêm đạn dược ! Những viên đạn!"[152] Hào khí như thế này là khó tin, tuy vậy một sự thật hiển nhiên là Trung đoàn thứ 26, một Trung đoàn tinh nhuệ bao gồm quân lính người Pommern (phần lớn là người Wend Slavơ)[91] - sau khi đại thắng đã được nhà vua Friedrich Đại Đế ban cho đến chí ít là 14 Huân chương Quân công trong ngày hôm ấy, cho dù họ chỉ chịu mất mát có 17 Sĩ quan và 500 lính.[152] Quốc vương cũng phân phát 1500 đồng thaler trong túi tiền của ông và phân phát cho các binh sĩ trong hàng ngũ này. Vương công Moritz sau này có nói:[153]

Kim thượng có thể trao Vương miện và Vương trượng của Ngài cho họ. Khi họ ra khỏi địch quân tôi không để nào đứng giữa cả hai bên.

—Vương công Moritz xứ Anhalt-Dessau

Điều này cho thấy Quốc vương đã rút ra kinh nghiệm xương máu từ thiệt hại nặng nề của lực lượng Bộ Binh Phổ trong hai trận Praha và Kolín trong mùa hè năm 1757 do không biết hiệp động binh chủng.[153] Nhà sử học Asprey cho biết lúc đó là 2 giờ 30 chiều. Vương công Karl xứ Lothringen và Thống chế Daun đều bị nguy kịch, trước chiến thắng của cuộc tập kết của người Phổ[145].[114] Karl thấy hiểm nguy, tìm cách thay đổi thế trận.[91] Theo Thomas Carlyle, quân trinh sát của ông bị điên đảo, phải hô như điên lên để kêu gọi quân Kỵ binh của Daun đến giúp. Liền đó, hàng loạt Tiểu đoàn Áo được tung ra, đổ dồn xuống yểm trợ cho Nadasty. Nhưng trong lúc ấy, quân Phổ đang thắng thế liền hùng hổ xung phong đập nát địch quân. Thành thử viện binh Áo bị tan rã và không thể nào giúp gì được cho các chiến hữu của mình. Họ kéo nhau về một bãi đất, và chỉ có bị đánh bại và nhừ những đòn giáng sấm sét của người Phổ: thậm chí họ không có nổi thời gian để mà nghỉ ngơi và lập lại trật tự: trong đội quân này tuyệt đối không có một nhóm lính tí tẹo nào giữa được hàng ngũ, và đã bị hùng quân Phổ xâu xé cho tan hoang thành hàng trăm mảnh. Họ phải tháo chạy tán loạn về giữa ngôi làng Leuthen. Nhưng đến giây phút này, chỉ do thiếu thời gian mà quân Phổ lâm vào hoảng loạn: nếu Nadasty chậm châm thì có lẽ tình hình sẽ không sao. Tuy nhiên, ông vốn nổi danh là một tướng tài và không dễ gì để cho quân Phổ giành lấy lợi thế, mà bằng tài trí của mình để yểm hộ cho quân Kỵ binh của mình chạy về phía Bắc Rathener Busch, đồng thời chỉnh đốn lại hàng ngũ quân Bộ binh. Tuy nhiên, tàn quân Württemberg vẫn cứ bị đánh lui, và họ bị lực lượng Khinh Kỵ Binh Ziethen đổ xô ra đánh, gây cho họ tổn thất nặng nề. Sau cùng, tất cả các Tiểu đoàn Württemberg, bao gồm hơn 2 nghìn binh lính, đều bị quân của Ziethen tóm gọn.[27][71] Song, do không có địa hình thuận lợi nên Ziethen không xông pha diệt Bộ binh Áo.[20]

Các chiến binh Phổ xung kích đánh "trường thành" của địch, qua nét vẽ của nhà họa sĩ Carl Röchling (1855 - 1920).

Cuộc huyết chiến tại làng Leuthen và kết cục bi thảm của Lucchesi[sửa | sửa mã nguồn]

Bọn Vệ Binh Áo cảm thấy chúng bị đẩy lùi và vây đánh ở sườn, nên quyết định chuyển vị trí của chúng; quyết định quá muộn, để thiết lập quân chính diện tương đương với quân chính diện Phổ.

—Friedrich Đại Đế, Lịch sử Chiến tranh Bảy năm, về việc quân Áo tổ chức kháng cự tại Leuthen[154]

Theo bộ tiểu sử Friedrich Đại Đế của Thomas Carlyle, Vương công Karl nổi điên nên liên tục gửi huấn lệnh đến ba quân. Ông tự mình loay hoay tìm một nơi nào đó dễ đóng tại Leuthen, và từ đây sẽ tổ chức phòng thủ. Chính ngôi làng Leuthen, cùng với khu đất Giáo đường làng này, đều sẽ được quân ông phòng ngự, do ông nhận thấy rằng khu vực phía Bắc của cứ điểm nguyên thủy của mình chưa thể tổn hại gì.[32] Mặc dầu Leuthen vốn chỉ được lực lượng trú phòng yếu ớt gia cố, người Áo vẫn quyết tâm thiết lập phòng thủ. Theo như Vương công Ligne, một Đại úy trong một Trung đoàn Bộ Binh Áo, có miêu tả về công cuộc bố phòng của ba quân: "Chúng tôi chạy trên cái mà chúng tôi chạy được. Trung tá của chúng tôi hy sinh gần như ngay từ đầu; ở phía bên kia chúng tôi cũng mất đi Thiếu tá và thực tế là mọi Sĩ quan, chỉ còn có 3 người… Chúng tôi đã vượt qua liên tiếp hai cái hào, nằm trong một cái vườn cây ăn quả về bên trái các ngôi nhà đầu tiên của Leuthen, và chuẩn bị hình thành tuyến quân tại mặt chính diện của làng. Tuy nhiên chưa có ai trụ tại đó, bên cạnh một cuộc đấu pháo lớn mà khó có thể mường tượng, một cơn mưa đạn dược đổ dồn vào Tiểu đoàn này, mà tôi phải chỉ huy Tiểu đoàn này vì nó không có Trung tá… Hai viên Sĩ quan của lực lượng Lính phóng lựu đã mang lại cho tôi những gì còn lại của họ. Một số người Hungary, may mắn thay đã tập hợp lại được. Nhưng cuối cùng, với mọi sự hỗ trợ và mọi tàn tích của Tiểu đoàn quả cảm của tôi - mà sa sút đến mức chỉ còn có 200 quân, tôi rút về cái đồi có cối xay gió tại đây."[150] Các chiến binh mang đại bác đến cối xay gió, đến một khoản đất phồng lên ở hướng Bắc. Trong làng này, không chỉ có quân cố thủ Áo mà còn có Binh đoàn Dự bị, hoặc là tàn binh bại tướng phải chạy trốn vào khu đất Nhà thờ làng hoặc nhà dân. Người Áo không hề lãng phí thời gian trong việc đào hào, dựng pháo để gia cố ngôi làng.[71] Theo Christopher Duffy, toàn quân Áo đã phải xoay chuyển cho đến khi họ hình thành một mặt trận hướng về phía Nam, kéo dài xuyên suốt Leuthen và do đó hai bên cách nhau hàng trăm bước chân. Ở một số địa phương, quân Áo xếp thành hàng đống, tập trung rất nhiều binh sĩ. Đây là mục tiêu tuyệt hảo để cho hỏa pháo của quân Phổ bắn lia, những khẩu đại bác này vốn đã được mang xuống dưới tận cái chỗ đất lồi ra của đồi Butter-Berg.[141] Chính sự nhồi nhét đến từ 30 tới 100 hàng quân Áo đã khiến cho sự đổ xô của họ về làng Leuthen gây cho tình hình trở nên tồi tệ, cũng giống như trong trận Höchstädt lần thứ hai hồi năm 1704 vậy.[150] Cũng theo Carlyle, chỗ kháng cự này là kết quả của sự hết sức năng nổ của người Áo, và Lucchesi - có lẽ là do nhận lệnh hoặc là tự nguyện - chuyển quân về hướng Nam trong khi Nadasty thì cũng tương tự rẽ về hướng Bắc.[71] Như đã nói Lucchesi chỉ huy Kỵ Binh Áo cánh hữu, cùng với viên tướng Josef Esterhazy.[151]

Người Áo quyết tâm sẽ đánh giáp lá cà với quân Phổ, gây cho vua Phổ tốn thời gian, tạo điều kiện cho Karl triển khai lại ba quân.[32] Vào lúc 3 giờ rưỡi chiều, giai đoạn thứ hai của trận đánh bắt đầu. Lần này, quân Phổ tổ chức một cuộc công kích vào tuyến quân mới của Áo, đặc biệt là trung tâm kháng cực của quân địch tại làng Leuthen.[141] Họ nhanh chóng xông pha như vũ báo mà chẳng cần phải có quân lệnh đặc biệt nào cả[32]. "Một cuộc giao chiến quyết liệt diễn ra, và quân địch (quân Áo) kháng cự trong tuyệt vọng" - tác giả Tempelhoff có viết.[150] Hai đoàn binh đánh nhau kịch liệt tại Leuthen. Cả làng đều chìm sâu dưới đạn pháo của quân Áo, và khu đất Giáo đường cùng với chính ngôi Giáo đường tại đây đều trở thành chỗ chết. Từ trên các ngọn đồi có cối xay gió, đại bác Áo bắn nã tới tấp, và mọi cuộc tiến công của Binh đoàn Cấm Vệ quân Phổ đều bị đánh lùi ngay từ bên ngoài những ngôi nhà dân, kho thóc bằng gạch. Viên chỉ huy quân Phổ phải dừng chân và nhìn vào làng với vẻ mặt khó khăn, không biết phải nên làm thế nào để tiếp tục chiến sự.[71][141] Tình hình xem ra có lẽ sẽ nghiêng về lợi thế cho quân Áo, ngôi làng Leuthen có lẽ sẽ không thất thủ và vua Friedrich Đại Đế sẽ phải lui quân.[31] Một Tiểu đoàn của Phổ tiến công không thể làm gì được, cho đến khi nhà vua phải tung tả quân của ông vào chiến trường, mà theo quân lệnh của ông thì họ không được mang súng hỏa mai. Đội tả quân này chính là Binh đoàn Dự Bị cuả ông, còn gọi là lực lượng "chùn lại" trước giờ đóng tại Radaxdorf (mà chính tại đây suýt nữa thì nhà vua toi mạng trước làn đạn của Pháo Binh của chính tiểu Vương đệ Ferdinand của ông).[71] Cuối cùng, đội Vệ Binh hừng hực khí thế xông lên đánh địch:[150] Viên Đại úy dũng mãnh Wichard Joachim Heinrich von Möllendorf - sau trở thành một vị Thống chế kiệt xuất và bắt đầu có được tiếng tăm lừng lẫy kể từ chiến tích trong trận thắng vang danh tại Leuthen này - chỉ huy Tiểu đoàn Thứ Ba, và ông khuyên viên chỉ huy không nên chần chừ, tuy nhiên rốt cuộc thì vị chỉ huy chẳng thể ra quyết định gì.[36][50] Möllendorf hô lên "Không còn thời gian để suy nghĩ nữa" và "tất cả các binh sĩ hãy theo chân ta" (Ein andrer Mann) từ hướng Nam ông tấn công vào cổng Giáo đường, 9 người lính Pháo Thủ theo chân ông cùng lăn xả ồ ạt vào quân Áo. Nhờ đó quân Phổ đọat lại được thế thượng phong, quân Áo bị đẩy lùi. Quân Áo thất thế, đến độ ngay cả Binh đoàn Trợ chiến Đức của Roth-Würzburg - do Tổng giám mục Würzburg chỉ huy[32] - cũng phải chống trả mãnh liệt ở giữa khu đất Thánh đường, nhằm ngăn chặn bước tiến công vũ bão của các chiến binh Phổ, dựa vào địa thế nơi đây có một "trường thành" dày đặc, với bốn đồn lũy che phủ tứ phương. Một trong những Trung đoàn của Pannwitz (10) bị đánh bật ra, và điều này khiến người Phổ phải huy động quân Pháo binh bắn nát "trường thành".[71][141] Quân Áo bị những cỗ pháo của Phổ xé nát như chim vỡ tổ.[32] Các Tiểu đoàn Phổ vẫn cứ bị riêng rẽ và có 6 Tiểu đoàn của Phổ chịu thua, phải bỏ chạy. Không gì có thể cản nổi họ. Tả quân Phổ bị yếu đi. Song, lúc người con trai cùng tên của Trung tướng Wolf Friedrich von Retzow là Trung tá Retzow tiếp cận với sĩ tốt đang bỏ chạy, Trung tướng Retzow đã giành lại thế thượng phong, quân Áo bị thảm bại.[155][156]

Cuộc giao chiến ác liệt ở khu đất Thánh đường Leuthen (họa phẩm của Carl Röchling).

Giữa buổi chiều, hai bên tử chiến khốc liệt hơn cả quanh các ngôi nhà, trang trại và bức trường thành của chính ngôi làng Leuthen này.[114] Nhà vua Friedrich Đại Đế luôn luôn chủ động kiểm soát các võ tướng của mình, nhưng rất hiếm khi ông để cho họ nắm binh quyền của ông. Trong cuộc ác chiến, ông quan sát thế trận từ trên một ngọn đồi ở hướng Tây,[145] và có lúc chính ông cũng lập nên công tích oanh liệt: ông thân chinh thống suất một nhóm lính xông vào giải cứu một viên Sĩ quan Tham mưu đang quay về với một thông điệp trình lên ông: Một nhóm Kỵ sĩ Áo - Sachsen đã công kích viên Sĩ quan ấy và hất anh xuống lưng ngựa, đồng thời toan giết anh, mà anh chỉ còn sức cầm giữ ngọn cờ xí.[114] Nhưng nhà vua dẫn đầu cả thảy nhóm lính kia, xung phong đánh thốc vào giữa trận tuyến, dùng thanh bảo kiếm của ông để chém giết địch quân. Ông vốn có tài cưỡi ngựa tuyệt vời: trong khi ông giữ cho con chiến mã của mình hộ vệ người Sĩ quan kia, ông tướt gươm tiêu diệt hai tên lính Áo. Khi thực hiện chiến công hào hùng này, nhà vua biết rõ là ông sẽ dễ dàng ngã xuống. Tuy nhiên, là một vị chủ tướng kiệt xuất ông vẫn không để mình nằm trong những cuộc xâu xé giữa hai đoàn quân. Vì lẽ ông hiểu rõ ràng quân sĩ của ông khó thể thắng trận được, nếu không có tài mưu lược của ông. Do đó, nước Phổ không thể nào mà lại không có ông được.[157] Ông hô vang lên thẳng vào quân sĩ, như một liều thuốc không gì sánh bằng đến nhuệ khí của quân Phổ:

Nào các con, frisch heran, nhìn thật chăm chứ vào tên tuổi của Chúa Trời ở phía trước.

—Friedrich Đại Đế

Theo nhà sử học Ludwig Reiners thì quân Phổ đã ào ạt tràn qua một khu nghĩa địa mà loại quân Áo ra khỏi vòng chiến.[158] Khoảng 30 phút sau cuộc giao chiến đẫm máu, quân Phổ thắng thế và chiếm lĩnh được Leuthen. Như vậy là quân Phổ vẫn cứ tiếp tục đại thắng và sự chuyển hướng về Leuthen của Karl chỉ tổ gây thêm bi kịch cho hàng ngũ quân Áo.[18] Trận đánh vẫn cứ tiếp diễn, với mức độ khốc liệt giảm hẳn đi, mãi cho đến lúc 4 giờ chiều - khi trời bắt đầu nhá nhem.[157] Lại nói, một khi quân Phổ đã chiếm cứ được làng Leuthen thì quân Áo xem ra sẽ dễ dàng bị đánh tan tành; Pháo Binh Phổ đã phá nát được Leuthen rồi thì đại binh Phổ mang súng lưỡi lê tiến sát hơn.[31][32] Tả quân Áo lúc bấy giờ đã bị nhừ tử đúng như dự kiến của người Phổ.[17] Bản thân Vương công De Ligne đã nêu ở phía trên kia trở nên vinh hiển vì lòng can trường khi tác chiến với quân lực Phổ, song quân Áo đã bị thảm bại.[159] Nếu như người Áo có tài nghệ đánh lừa địch của người Phổ và của nhà vua Friedrich Đại Đế thì có lẽ quân Phổ sẽ khó thắng hơn, nhưng họ bắt đầu có hy vọng về việc mánh khóe đẩy lui quân Phổ: đằng sau ngôi làng ấy (với các cối xay gió), hàng trăm quân Áo vẫn còn trụ vững. Đó là nhờ khi Quân đội Phổ chiếm lĩnh ngôi Giáo đường làng Leuthen và hồi phục nguồn đạn dược bị kiệt quệ của họ, quân Bộ binh Áo rút về sau làng và thiết lập trận tuyến tại cứ điểm chính của họ.[156] Nhà sử học quân sự - Đại tướng Anh Quốc là David William Fraser có ghi nhận rằng quân Áo lập nên một Khẩu đội pháo tại một cái chóp đằng sau làng Leuthen, và điều này đã ngăn cản bước tiến công của quân sĩ ở giữa cánh tả của quân đội của nhà vua Friedrich Đại Đế.[114] Và, từ bên phải các viên chỉ huy Kỵ Binh là Lucchesi và Johann Baptist Graf von Serbelloni cùng với khoảng 70 Sư đoàn (gồm thâu cả quân Thiết Kỵ binh, Long Kỵ binh và Khinh Kỵ binh[147]) đến cứu viện cho quân Áo. Lucchesi - một dũng tướng của người Áo, nhận thấy điểm yếu của quân Bộ binh Phổ do Tướng Retzow thống lĩnh - thì có ý định táo bạo:[157] Nếu phần lớn quân Kỵ binh Áo ồ ạt đánh thẳng vào được tả quân bị hở của lực lượng Bộ Binh Phổ, có lẽ lợi thế của trận đánh sẽ nghiêng về quân Áo: quân Áo dự bịnh sẽ ào lên bắn nã tan tành các cối xay gió của người Phổ và cứ theo đà đó mà dùng súng lưỡi lê triệt hạ tả quân Phổ. Lucchesi dong ngựa bên hàng đầu các Thiết Kỵ Binh và Long Kỵ Binh,[160] nhận thấy rằng một cuộc đột kích lớn như vậy là rất quan trọng, nhưng đây sẽ là cuộc tấn công mãnh liệt cuối cùng của quân Áo trong trận chiến này, và cũng là của sự nghiệp của Lucchesi. Friedrich Đại Đế lúc này đã hết lực lượng Bộ Binh Dự Bị để mà tung ra ngoài xa trường, và ông cũng hiểu rằng các chiến binh đã gần như là thấm mệt.[17][158] Tuy nhiên, mối hiểm họa này đã rơi vào tầm mắt của Trung Tướng Kỵ Binh Phổ là Georg Wilhelm von Driesen. Qua sử liệu, trước trận đánh này chúng ta đã được biết đến ông lần cuối cùng với trận đánh khốc liệt tại Chotusitz vào năm 1742. Driesen đã cao tuổi. Giờ đây, ông chỉ huy 40 Sư đoàn Kỵ Binh trong trận đánh tại Leuthen này, đứng ở một khoảng đất im ắng gần Radaxdorf để theo dõi chiến trường trong suốt những giờ phút trước của trận ác chiến. Trước trận đánh, nhà vua đã nhận thấy nguy cơ có thể xảy ra nên giao cho Driesen phòng vệ tại đây, lực lượng của Driesen vốn ban đầu là đội tiền vệ.[101] Và, ông quyết định phải đem quân đánh thốc vào hữu quân Áo do quân địch đang đi qua ông: ông nhử cho Lucchesi phi ngựa như điên đến, và bất ngờ xung phong, đánh úp và công kích Lucchesi ngay trực diện, mang lại lợi thế chiến thuật cho các chiến binh Phổ.[71][32] Điều này thể hiện sự chủ động và quyết đoán đến phi thường của người Phổ: "lấy độc trị độc", lấy Kỵ Binh đánh Kỵ Binh,[31] cho dù kết cục thảm khốc của viên tướng Lucchesi trong cuộc tấn công của lực lượng Kỵ binh Áo cũng chứng tỏ tinh thần chủ động và sự năng động mỡ mức độ cao như một yêu cầu cho các Trung tướng và Thiếu tướng của Kỵ binh thời thế kỷ 18.[161]

Trung Tướng Retzow cũng xua cả quân Kỵ binh và quân Bộ binh ào ạt xông vào địch. Quân Pháo binh Phổ đồng thời cũng bắn nát hùng quân Áo.[162] Lực lượng Long Kỵ Binh Bayreuth (D 5) bắt đầu tấn công trong một thời gian ngắn, và được theo dõi bởi đội Thiết Kỵ Binh trong tàn quân của Bevern - bấy giờ họ vẫn còn hơi u sầu.[71][141][32] Đội Long Kỵ Binh dũng mãnh Bayreuth tuy có đại công với trận đánh nhưng[135] không thắng nổi quân Áo trong trận xô xát đầu tiên, và đội Thiết Kỵ Binh cũng không lấy làm tiếc. Họ đứng ở tuyến quân thứ hai, và thừa sức để yểm trợ cho quân Long Kỵ binh Bayreuth. Tuy nhiên, những viên Sĩ quan giàu kinh nghiệm nhất của họ khuyên can: "Hãy mặc kệ đội Long Kỵ Binh yêu quý của Đức Vua trong chút thời gian đầu"[141]. Quân Long Kỵ binh Kollowrath của Áo chiến đấu rất mực anh dũng và bền bỉ với quân Phổ.[163] Cuối cùng, khi quân Long Kỵ binh Bayreuth sắp thua, quân Thiết Kỵ binh xung phong đánh tan nát quân Áo và giải cứu được chiến hữu của mình.[141] Quân Áo bị đánh úp,[163] lực lượng Khinh Kỵ binh Puttkamer (H 4) đổ dồn vào hậu quân và xáp chiến với lực lượng Long Kỵ Binh Kollowrath, và lúc quân Áo hãy còn đang tái tổ chức lại mình thì bị quân Phổ đập tan tác. Ở phía Bắc Leuthen, hàng loạt lính Kỵ Binh Phổ đánh giết xối xả quân Bộ binh Áo.[141] Đoàn Kỵ binh của Lucchesi hoảng hốt tộc bực, nhưng đã bị vây tứ phía, cùng đường; Driesen lại tung một đòn giáng sấm sét[162]. Nhìn chung, chỗ Driesen thì quân Kỵ binh Phổ nã súng, còn nếu không kể hướng Nam và hướng Tây thì đội Kỵ binh Phổ tuốt gươm sáng loáng chém giết quân địch. Có thể nói quân Phổ chặt chém quân Áo bằng sự cực kỳ dã man, nhưng một cơn gió kiếm thổi xối xả vào hàng ngũ quân Kỵ binh Áo. Quân Phổ đại thắng. Và, trong khi đang dong ngựa bên đường chân trời rộng mở, Lucchesi bị tiêu diệt: ông bị ăn một phát đạt và đầu của ông ta bị vỡ toác ra. Viên tướng Áo bi thảm này ngã xuống mà chết ngay lập tức trên lưng ngựa. Qua đó, ông cũng nằm trong tổn thất hết sức to lớn của quân Áo trong đợt tấn công dũng mãnh này của quân Phổ. Cuộc tấn công của ông đã thất bại hoàn toàn, và quân Áo giờ đây chỉ có mà chờ chết.[43] Tuy lực lượng Thiết Kỵ Binh Anhalt-Zerbst là một Trung đoàn tinh nhuệ trong Quân đội Áo, họ đại bại khi đụng phải lực lượng Kỵ Binh của Driesen.[26] Không gì có thể ngăn nổi bước tiến công của quân Phổ.[101] Thừa thắng, tướng Driesen cho quân tóm gọn những chiến binh Aó nhốn nháo ở bên sườn và ở hậu quân, và quân Phổ tràn và lên loại được xiết bao quân Áo ra khỏi vòng chiến. Đã mất vị chủ tướng cũng với vô số đồng đội, cánh Kỵ Binh Áo này hoàn toàn thất bại và tìm cách tháo lui.[160] Pháo binh Phổ từ tứ phương bắn nã tan tác địch trong khi Tướng Retzow thừa thắng tung cả Kỵ binh và Bộ binh ra đánh, mang lại chiến thắng toàn diện cho Quân đội Phổ.[59] Chỉ trong vài phút sau, quân Áo hoảng loạn, tất cả mọi Tiểu đoàn Áo phải vứt bỏ súng hỏa mai và tháo chạy tán loạn về hướn Saara và Lissa ở phía sau.[71] Quân Bộ binh Áo đã bị hủy diệt hoàn toàn trước những những mũi tấn công dồn dập của Driesen.[17] Vương công Karl thua lớn đã ra lệnh cho quân sĩ rút lui.[101] Đội tả quân Phổ đã hoàn toàn được bảo an.[40] Trung Tướng Driesen và 40 Sư đoàn Kỵ Binh của ông đã thắng lợi vẻ vang - là đòn tiến công mang tính quyết định đến toàn thắng của Friedrich Đại Đế. Trong khi ấy, nhà vua nước Phổ cũng cho triển khai một số cỗ hỏa pháo của ông tại một cái chóp gọi là Butterberg, điều này khiến cho quân Pháo binh Áo phải chuyển tầm nhìn của mình sang hướng Tây.[114][18] Khi nghe tin tức về chiến thắng uy chấn của lão tướng Driesen, ông còn phải bất ngờ và thốt:[17]

Sao ? Ông lão Driesen ấy ư ?

—Friedrich Đại Đế

Quân sĩ Phổ đã đạt được ưu thế tuyệt đối thì cứ xung phong và không thể dừng lại được.[114] Quân Áo đã chiến bại và hứng chịu tổn thất nặng nề ở cả hai hướng Tây và Nam[114][160]; dù sĩ tốt Áo đã tử thủ rất mực anh dũng nhưng họ chỉ tổ đại bại ê chề trước sức tấn công mãnh liệt không thể nào ngừng lại được của các binh sĩ Phổ hùng dũng.[164] Với việc quân Bộ binh Áo vứt bỏ vũ khí mà tháo chạy lung tung, lần lượt các đơn vị Áo cuống cuồng tháo chạy,[32] chiến trận kết thúc vào lúc 4 giờ chiều. Đoàn quân hùng mạnh của Áo đã bị vỡ trận tan tành trước đoàn binh Phổ cơ động cùng quân Kỵ binh và Pháo binh.[28] Sau cuộc chiến đấu gian khổ mà quang vinh, ông vua kiêu hùng Friedrich Đại Đế đã làm chủ được bãi chiến trường, ghi dấu một trong các đại thắng liên tiếp của ông.[114][165] Theo cuốn tiểu sử Friedrich Đại Đế của Thomas Carlyle, tại Saara, lúc Mặt Trời vừa lặn dần, người Áo tìm cách chống trả lần cuối cùng. Tuy nhiên, các binh lính Áo đã suy sụp đến mức tuyệt vọng: nhà sử học quân sự Trevor Nevitt Dupuy (Hoa Kỳ) cho biết kế hoạch chống trả một lần nữa là của Vương công Karl và dĩ nhiên các chiến binh của ông ta há ai muốn chờ đời cuộc tiến công tràn đầy dũng khí của hùng binh mãnh tướng Phổ.[101] Quân Bộ binh và Kỵ binh Phổ vốn đã hợp tác chặt chẽ với nhau.[31] Trong cuộc truy kích lần đầu tiên của người Phổ, quân Áo bị tan rã ra thành từng mảnh. Như một dòng nước xối xả, người Áo chạy tán loạn qua các cây cầu bắc qua sông Schweidnitz, về Breslau bằng mọi giá. Họ phải vượt qua bốn cái cầu: Stabelwitz dưới Lissa, Goldschmieden và Hermannsdorf ở trên Lissa và một chiếc cầu nằm trên con đường lớn (cũng làm bằng gỗ). Nhân sự náo loạn của tàn binh bại tướng Áo, lực lượng Kỵ Binh Phổ mãnh liệt truy kích. Lực lượng Bộ Binh Phổ thì dừng bước tại Saara, để nghỉ ngơi sau một ngày chiến đấu thật vinh quang.[71] Một số người lính Pháo Binh Phổ cũng tiêu diệt gọn quân Áo.[101] Theo Comac O'Brien, đoàn Kỵ binh Phổ bắn giết xối xả, đồng thời những binh sĩ Áo không thể chạy được đều bị các Kỵ sĩ Phổ dùng lưỡi lê đâm chết hoặc là bắt làm tù binh.[160] Quân Kỵ binh Phổ đã quét tan quân Bộ binh Áo, làm nên một trong những ngày thắng huy hoàng, oanh liệt nhất của họ[12]. Chiếm được uy thế tuyệt đối, đoàn quân Phổ cứ thế mà mặc sức tàn sát đoàn quân Áo cho đến khi trời tối khiến cho họ không thể chiến đấu tiếp. Tất cả các Trung đoàn Áo đều biến mất khỏi bố trí đồ trận của Karl, đều phân rã trong các đợt tấn công đầu tiên của người Phổ hoặc là đều tháo chạy trong thảm kịch cuối cùng.[32][67] Đây là một kỳ tích khó thể nào quên. Với chiến thắng lẫy lừng này, người Phổ đã vùi lập "cuộc chinh phạt Schliesen" của người Áo xuống đáy biển cả. Chỉ một trận thua mà đoàn quân của Vương công Karl đã bị vỡ nát và hoàn toàn tiêu tan mọi hy vọng của mình,[71] Bị vua nước Phổ đánh bại ở trận Leuthen (Lissa), tướng Áo là Gustav Adolf, Vương công xứ Stolberg-Gerdern cũng bại vong. Theo Franz Kugler, quân Áo mất đến 27 nghìn binh sĩ, 116 cỗ đại bác, 51 lá tinh kỳ và 4 nghìn xe goòng, trong khi quân Phổ chỉ phải hy sinh 6 nghìn chiến binh.[36] Tác giả R. G. Grant cho biết số cỗ đại bác này là do tàn binh Áo bỏ lại trận địa lúc tháo chạy tán loạn. Theo Grant thì quân Phổ có 6200 thương binh, liệt sỹ trên tổng số là 34 nghìn quân, trong khi quân Áo có đến 1 vạn liệt sĩ, thương binh và 12 nghìn tù binh trên tổng số là 8 vạn quân.[43] Theo Will Durant, tổn thất của quân Phổ gồm thâu 1141 tử sĩ, 5118 thương binh và 85 tù binh, nhưng quân Áo bị thiệt hại đến 2 vạn tù binh, 3 nghìn tử sĩ và 116 cỗ đại bác bị thu giữ.[46] Thomas Carlyle cũng ghi nhận rằng có đến 1 vạn binh sĩ Áo bị bỏ lại ngoài xa trường, trong số đó có 3 nghìn binh sĩ. Quân Phổ lúc đầu bắt sống được 12 nghìn binh lính Áo, sau tăng lên đến 21 nghìn người. Cũng theo Carlyle, quân Phổ cướp được 51 lá tinh kỳ và 116 khẩu đại bác, trong khi 1141 chiến binh Phổ hy sinh, 5118 chiến binh Phổ bị thương đồng thời 85 người bị quân Áo bắt sống trong cuộc giao đấu lần đầu tiên tại Sagchütz và Gohlau.[71] Theo chính Friedrich Đại Đế trong tác phẩm Lịch sử cuộc Chiến tranh Bảy Năm thì quân ông mất tổng cộng là 6382 binh sĩ, gồm thâu 1175 binh sĩ trận vong và 5207 thương binh. Trong khi ấy, quân Áo phải tổn hại đến 3 nghìn tử sĩ, từ 6 nghìn đến 7 nghìn thương binh, và hơn 12 nghìn tù binh; đồng thời quân Phổ cướp lấy 46 cờ hiệu và 131 đại pháo.[53] Còn theo nhà sử học nữ Nancy Mitford thì tổn thất giữa bên có thể tính xấp xỉ là 5 nghìn binh sĩ Phổ, trong khi Áo mất đến 300 viên Sĩ quan, 21 nghìn binh sĩ, 134 khẩu đại pháo và 59 lá hiệu kỳ.[52] Giles MacDonogh cũng cho rằng 1/5 quân Phổ thương vong, nhưng tử sĩ, thương binh Áo và cùng với những chiến lợi phẩm rơi vào tay quân Phổ là rất nhiều.[48] Còn nhà sử học quân sự người Mỹ là Jay Luvaas thì kể rằng có 6250 binh sĩ Phổ hy sinh và bị thương[51] Còn tác giả Spencer Tucker thì kể rằng Áo mất 6750 tử sĩ và thương binh, hơn 12 nghìn tù binh cùng với 116 cỗ pháo; Phổ mất 6150 liệt sĩ và thương binh.[1] Còn Thượng tá Albert Seaton thì kể lại rằng Phổ mất dưới 7 vạn quân trong khi Áo mất đến 3 nghìn binh sĩ trận vong, 7 nghìn thương binh, 21 nghìn tù binh cùng với 116 cỗ pháo.[54] Theo sách Memoirs of the court, aristocracy, and diplomacy of Austria (Tập 2) của Eduard Vehse, tù binh chiếm tới 2/3 quân lực Phổ.[72] Một cuốn sử ghi chép rằng quân Phổ tóm gọn được 27 nghìn tù binh, 100 cỗ pháo và 50 lá hiệu kỳ của Áo.[42] Nhà sử học quân sự người Anh là David Stone 6 nghìn chiến binh Phổ hy sinh trong khi hơn 1 vạn chiến binh Áo trận vong, 27 nghìn binh sĩ Áo bị bắt làm tù binh, 51 hiệu kỳ và quân kỳ của các Trung đoàn Áo bị Quân đội Phổ lấy mất, và 4 nghìn xe goòng cùng với xe bò của quân Áo bị mất.[59] Tổn thất khá nặng nề của Phổ lại là cái giá cho một chiến thắng chiến thuậtchiến lược quá ư là lớn lao, tuyệt vời của nhà vua, thậm chí còn vẻ vang hơn cả Trận Roßbach trước đó.[59][166] Theo sách Absolutism and enlightenment, 1660-1789 của Ronald Walter Harris, thì tổng cộng tổn thất của quân Áo là 27 nghìn binh sĩ[60]. Trong số tù binh Áo còn có 14 viên tướng và 100 Sĩ quan theo như Công chúa Wilhelmina kể, tác giả Dover lại kể là ba viên tướng,[65] trong khi ấy các cỗ pháo và xe goòng chiến lợi phẩm của Phổ thì vô cùng hữu hiệu.[66] Cũng có sách chép tổn thất quân Áo rất lớn, gồm thâu 1 vạn thương vong, 12 nghìn tù binh và 131 cỗ pháo.[51] Sách khác kể rằng có đến 307 Sĩ quan Áo bị quân Phổ bắt giữ, cùng với 21500 binh sĩ Áo, trong khi Quân đội Phổ chỉ có 500 liệt sĩ, 2300 thương binh, và còn chiếm đoạt được vô số lá cờ xí, súng đại bác và 400 xe lương của Áo.[43] Tác giả Otto von Corvin cho hay tổn hại của quân đội Friedrich Đại Đế trong trận đánh quan trọng này là trên 5 nghìn quân sĩ, dẫu cho cuộc chiến thật ngắn ngủi.[56] Tác giả Robert Balmain Mowat trong cuốn Europe: 1715-1815 thì ghi nhận là nhà vua nước Phổ đã tóm được 22 nghìn tù binh trong chiến thắng để lại tiếng thơm này, trong khi tư liệu khác chép rằng ông tóm được 4 vạn quân Áo và buộc 2 vạn tàn binh phải bỏ chạy.[63][61] Cuốn Annals of the American Academy of Political and Social Science, Tập 26, cho biết tổn thất của quân đội Friedrich Đại Đế chiếm tới 19,2% tổng lực trong khi tổn hại của quân Áo lên đến 28,0% toàn lực.[49] Theo Tác giả Michael Hochedlinger thì trong chiến thắng chấn động này, quân Phổ loại được hơn 2 vạn quân Áo khỏi vòng chiến, trong đó phần lớn là tù binh. Quân Áo mất hầu hết hỏa pháo.[61] Cuốn A Political And Social History Of Modern Europe, Tập 1 của tác giả Carlton J. H. Hayes cho biết Friedrich Đại Đế với chiến thắng trong trận tấn công tại Leuthen đã bắt sống được 1/3 quân lực Áo và buộc tàn binh phải bỏ chạy.[63] Sagchütz và Gohlau cùng với làng Leuthen có hai lối đi cận kề nhau, mỗi con đường đi một tiếng đồng hồ, trong khi trận chiến hoàn thành sau ba tiếng đồng hồ, theo như lời kể của Carlyle.[71] Sau đại thắng vinh quang, nhà vua Friedrich Đại Đế đứng quan sát bãi chiến trường, thấy thây người chồng chất ngổn ngang: người thì bị thương chí mạng, người thì chết. Ông rơi lệ và hô lên:[65]

Bao giờ, bao giờ nỗi khổ sở của Trẫm sẽ chấm dứt đây ?

—Friedrich Đại Đế

Theo cuốn sách How the North won: a military history of the Civil War của các tác giả Herman Hattaway và Archer Jones, mặc dầu trong trận đánh này quân Phổ là phe tiến công và phải chịu nhiều gian khó nhưng cũng chỉ tổn thất khoảng 23% binh lực của mình, trong khi tỷ lệ tổn hại của quân Áo thất trận thì cũng chả có thua kém gì.[69] Nói sao đi nữa, sĩ tốt Phổ sau bao nhiêu lâu vào sinh ra tử luôn luôn coi thường cái chết.[35] Phá tan quân Áo xong, lão tướng Driesen tiến về từ Sophienberg, nằm chỉ đạo đội Kỵ Binh Phổ và chuẩn bị tổ chức lễ ăn mừng chiến thắng. Truyền thống của thế kỷ thứ 18 là các đoàn quân thắng trận phải tạ ơn Chúa Trời, và trận đánh đẫm máu ở Leuthen cũng không phải là một ngoại lệ.[151] Khi có người kể cho nhà vua nghe về những sỉ nhục của Karl và các tướng Áo đối với ông trước khi trận chiến Leuthen bùng nổ, ông phán quyết: "Ta sẵn sàng xá tội cho bọn chúng, xét ra những gì chúng làm còn ngu xuẩn hơn cả những gì chúng nói !", bằng giọng điệu mỉa mai đối với tàn binh bại tướng Áo.[65],[167] Trong cuốn tiểu sử quân sự Friedrich Đại Đế, Christopher Duffy viết rằng, trong lúc quân Áo thảm bại phải bỏ chạy hỗn loạn đến thế, nhà vua Friedrich Đại Đế chỉ dự kiến sẽ tập hợp một lực lượng - giữa lúc trời càng tối đi - mà chiếm lĩnh chiếc cầu cách Lissa 5 dặm về phía sau, và qua đó ngăn chặn đối phương gây nên trận đánh mới đằng sau tuyến sông Schweidnitz (Weistritz). Ông triệu tập đội Thiết Kỵ Binh Seydlitz - một lực lượng trứ danh trong Quân đội Phổ[168] - cùng với ba Tiểu đoàn Lính phóng lựu đến và họ đã làm theo lệnh ông: giữa cái đêm tuyết rơi đầy êm dịu, họ trở nên nổi bật lên cùng với nhà vua.[141]

Ban đầu, Friedrich Đại Đế có tính toán mang đậm chất lạc quan về thương vong của Quân đội Phổ.[114] Ông phán: "Quân ta đã diệt được giặc Áo. Ngày mai Ta sẽ tiến vào Breslau. Chúng ta chỉ mất có 2 nghìn tử sĩ và thương binh, còn bọn địch, Ta ước tính răng chúng mất 1 vạn tên". Chưa kể, ông còn bảo rằng tình hình sẽ tốt đẹp hơn hẳn.[169] Giữa những người thương binh liệt sỹ nằm trên bãi chiến trường ác liệt, có rất nhiều hành động anh dũng. Một người lính phóng lựu tàn tật đã trỗi dậy nhờ sự hỗ trợ của những người lính Pháo Thủ xung quanh anh, và tuyên bố đầy khí phách: "Anh em binh sĩ đã chiến đấu như những người Phổ can trường. Chiến thắng hoặc là hy sinh vì Đức Vua của các anh em"! Một người lính khác đã bị thương cả 2 chân, vẫn phì phèo điếu thuốc.[57] Tướng Bayern là Bá tước Kreith - chỉ huy một đội quân tình nguyện trong Quân đội Áo thình lình đến gần người thương binh này, giật bắn cả mình và hỏi: "Này chiến hữu ? Làm sao mà anh có thể ngôi và hút thuốc lá yên bình giữa một vị thế tồi tệ như thế ! Anh đang ở khoảnh khắc của cái chết". Người thương binh đáp lời: "Thế có vấn đề chi ! Tôi hy sinh vì Đức Vua của tôi".[170] Ngoài ra, có một giai thoại, mà có lẽ do người Phổ kể lại, rằng nhà vua lo lắng và điên loạn dong ngựa trên bãi chiến trường khi ông hay cái tin sai lệch rằng viên tướng Wedel - sủng thần của ông - đã hy sinh. Ông liên tục kêu tên vị cận thần: "Wedel ! Wedel" Thì đúng lúc đó, giữa một mớ xác người chồng chất trên trận tiền, một Hạ sĩ đang bị thương chí tử, cố gắng hết mình mà nói: "Muôn tâu Kim thượng, tất cả chúng Thần đều là Wedel". Nhà vua ngỡ ngàng nhìn vào người Hạ sĩ hấp hối ấy và nói: "Ngươi đã dạy cho Trẫm một bài học và Trẫm xin đa tạ Ngươi về điều ấy."[157] Ngoài ra, trong trận Leuthen oanh liệt, viên Thiếu tướng Rohr của quân Phổ đã anh dũng xông pha, và ông đã mất sau cuộc tác chiến, ôm theo vết thương chí mạng của ông trong trận này.[57]

Một đêm huy hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đại thắng ở trận Leuthen, những chiến binh của nhà vua Friedrich Đại Đế trở nên oai nghiêm trên tử địa ghê rợn.[50] Không những giải phóng trọn vẹn tỉnh Schlesien mà chiến thắng oanh liệt này còn mang lại thế thượng phong cho nước Anh đồng minh của Phổ.[13]
Chà, chúng ta có một người chọi ba người mà chúng ta sẽ thấy ở Vương công Karl--các binh sĩ đều sẵn sàng và tự tin như nhà vua, người anh hùng của họ. Thử thách được chấp nhận bởi Vương công Karl; sự vận động trác việt, mượn từ Epaminondas, và kỷ luật hoàn chỉnh tiêu hủy quân đội Áo tại; cuộc chinh phạt Silesia bất ngờ đổ vỡ. Chiến thắng toàn diện nhất của Frederick. - một sách giới thiệu tóm lược cuốn tiểu sử Friedrich Đại Đế của Carlyle

Các binh sĩ Áo đã kiên cường phòng vệ ngôi làng Leuthen đều bị Quân đội Phổ thừa thắng ồ ạt bắt giữ hoặc là thẳng tay diệt sạch.[10] Dù quân Áo đông hơn, có ý kiến xem vị vua - chiến sĩ Phổ quyết đoán là người nắm giữ "thế thượng phong" trong trận này[40]. Giữa nơi chiến trường, Tướng O'Donnell của quân Áo cũng bị quân Phổ bắt làm tù binh[57]. Tàn binh Áo phải cuống cuồng bỏ chạy như ong vỡ tổ, bỏ lại nơi chiến địa phơi đầy thây tử sĩ.[50][13] Dưới những ngọn cờ tung bay của đoàn binh Phổ đại thắng, đại binh Áo đã tiêu tan rồi, lại phải khổ sở giẫy chết ở nơi tử địa thấm tuyết và máu.[35][114] Tối rồi, một khi đại quân của Vương công Karl đã bị đánh tan tành và vỡ nát ra thì nhà vua Friedrich Đại Đế cũng không buộc đoàn binh chiến thắng của ông phải truy kích gì thêm, giống như ở trận Roßbach vậy.[123][1] Ông khiêm tốn bàn rằng, nếu màn đêm không buông xuống thì chiến thắng rực rỡ, huy hoàng của quân ông tại trận Leuthen sẽ là "một trong những chiến thắng quyết định nhất của thế kỷ", song đây thực sự là một trận đánh được biết đến nhiều trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm, cũng như là chiến thắng vĩ đại nhất của Vương triều Phổ hồi đó nói riêng và cả thế kỷ nói chung, với sự hoàn hảo được minh chứng bởi sự cùng quẫn của tàn quân Áo, với toàn thắng chỉ sau 3 giờ phát huy hoàn toàn chiến thắng ở Roßbach vài tuần trước đó và gắn chặt với tên tuổi của ông trong lịch sử dân tộc Đức.[116][121][61][171][172] Màn đêm cũng không thể khiến cho tổn hại to tát của Quân đội Áo trở nên mất đi tính chất thảm họa và bi kịch của nó, trong khi nơi trận địa thứ bảy của chiến cuộc năm 1757 này đã hoàn toàn là một dòng sông lênh láng máu người Áo, với chiến thắng quyết định và ẫy lừng của nhà vua nước Phổ.[35][43] Theo Duffy, trên con đường lớn Breslau, Ziethen và những người lính Khinh Kỵ Binh hợp binh với nhà vua, và ở một khu định cư trống vắng ở Saara, ông tiếp kiến một địa chủ rất lắm mồm, đang dong ngựa cùng với chiếc lồng đèn trên lưng con ngựa của mình. Để dễ nghe cuộc trò chuyện giữa người thảo dân này với nhà vua, những binh sĩ Khinh Kỵ Binh tiến gần tới, và cách đó 300 nước đi ngắn ở Lissa đội Khinh Kỵ Binh tổ chức nổ từ 50 đến 60 phát súng hỏa mai ở một tầm bắn ngắn. Các chiến binh Phổ phi ngựa chạy lướt phải qua trái thông qua hàng cây liễu ngăn cách con đường ở phía trước. Nhà vua là người đầu tiên nói lại được sau khi loạt đạn bắn chấm dứt:[141]

Vì Đức Chúa Trời, hỡi Ziethen, điều này sẽ không xảy ra nếu những người lính Khinh Kỵ Binh tuân thủ các quân lệnh ! Trẫm đã nói với họ phải đúng hoàn toàn đúng 30 bước đi phía trước chúng ta.

—Friedrich Đại Đế

Nhà vua cũng không gây vấn đề gì lớn. Cũng theo Duffy trong cuốn sách về quân đội thời Friedrich II và tiểu sử quân sự của nhà vua (The Army of Frederick the GreatFrederick the Great: A Military Life), lúc 7 giờ tối, những người lính phóng lựu đánh đuổi người Áo ra khỏi một ngôi nhà nằm ngay trên cầu. Đoàn quân chiến thắng hành quân theo chân vua Friedrich Đại Đế. Ông tiến đại binh về lâu đài Lissa, là một tòa nhà theo phong cách kiến trúc rôcôcô dựng nên ở đỉnh cao của một nền tảng kiên cố. Tử tước Mudrach là chủ nhà, thấy vua kéo đến, liền ra nghênh đón nhiệt liệt. Trong lúc này, trải nghiệm tinh thần cuối cùng của nhà vua vẫn chưa đến trong tuần lễ đặc biệt lẫy lừng của tháng 12 này. Khi ấy, ba quân hành binh trong im lặng, cái im lặng đó chỉ được thể hiện bằng việc họ tồn tại trong cái ngày hết sức khốc liệt. Nhưng thình lình, một người lính phóng lựu đã xua tan không khí trầm lặng này, qua việc hát vang lên bài Thánh ca Nun danket alle Gott. Toàn quân được bừng tỉnh từ một "giấc ngủ" im ắng của họ, và tất cả họ - bao gồm 25 nghìn người lính - trở nên nhiệt huyết, hết lòng mang ơn Trời vì sự tồn tại của họ, nêu đồng thanh hát bài Thánh ca ấy cho đến khi hết bài. Một bầu không khí tươi mát mới đến với mọi người, xua tan mọi lạnh lẽo của băng giá và sự mệt nhọc của đoàn quân thắng trận. Giọng ca của các binh sĩ, cái tối mù của bầu trời ban đêm, và sự kinh hoàng bạt vía của bãi chiến trường - mà người ta có thể dẫm đạp lên biết bao xác người nếu đi lên trận địa, đã tạo nên cho bầu không khí một sự trang nghiêm đến mức dễ cảm nhận hơn là miêu tả. Một số người lính già coi đây là trải nghiệm sống động nhất trong suốt những năm tháng chiến chinh. Tại tổng hành dinh Lissa, nhà vua triệu tập các công thần là Moritz xứ Anhalt-Dessau, Driesen, Ziethen, Retzow và Hoàng thân Ferdinand để truyền cho họ các Khẩu lệnh: giao nhiệm vụ cho họ để mà thực hiện trong ngày hôm sau.[141][173] Và rồi, ông chấm dứt bằng lời tuyên bố:[19]

Ngày hôm nay sẽ truyền bá sự huy hoàng của chư Khanh và của Tổ quốc đến mọi cháu con đời sau.

—Friedrich Đại Đế

Nhà sử học Carlyle có viết trình tự thời gian hơi khác về những sự kiện trên. Ông có trích dân câu nói của nhà vua khi ra Khẩu lệnh về đêm là: "Hỡi các tướng sĩ, sau một ngày làm việc hăng hái như thế, hãy nghỉ ngơi. Ngày hôm nay sẽ mang tiếng tăm của chư Khanh và của Tổ quốc đến hậu thế muộn nhất của chúng ta". Ziethen, Driesen và Retzow tràn ngập trong niềm vinh quang to lớn. Riêng Moritz xứ Anhalt-Dessau là đặc biệt hơn cả. Moritz là linh hồn của lực lượng Bộ Binh trong trận đại thắng này, theo nhận định của Duffy.[174] Vương đệ Ferdinand tuy có lỗi lầm suýt giết vua anh nhưng chỉ huy rất tốt một Khẩu đội pháo trong trận chiến vang danh vừa qua, theo như nhà sử học - nhà báo Giles MacDonogh. Công tích của August Ferdinand - vốn đã được thăng chức thành Trung tướng - góp phần cho chiến thắng lừng vang cũng được vua ngợi khen.[175] Cũng theo Carlyle, tối đến, nhà vua Friedrich Đại Đế kiểm tra hàng ngũ, khi dong ngựa qua hữu quân của Moritz, đã thăng cương trong dây lát, ông mừng rõ tuyên bố: "Trẫm hoan nghênh Chiến thắng của ông, hỡi Thống chế", trong đó ông nhấn mạnh chỗ "hỡi Thống chế".[17] Lúc đầu vị trung thần chưa thể nói gì (vì ông chưa hề nghĩ mình sẽ là một Thống chế), và Quân vương mới tuyên bố rõ ràng hơn và dứt khoát hơn: "Ông không nghe gì ư ? Trẫm hoan nghênh chiến thắng của ông, hỡi Thống chế". Sự thăng quan bất ngờ đã khiến cho Moritz đa tạ nhà vua, và khi bàn về chiến thắng Leuthen vừa qua, nhà vua nói: "Đó là chiến quả của một sức mạnh cao cả hơn". Vị lão tướng đáp trả: "Đúng vậy, và còn nhờ sự bày binh bố trận tuyệt hảo của Đức Vua nữa".[11][57] Việc phong hàm Thống chế cho Moritz sau thắng lợi được xem là biểu trưng cho phong cách Friedrich[11], và chứng tỏ rằng chiến thắng huy hoàng của ông tại Leuthen đã chấm dứt sự thất sủng mà nhà vua giành cho Moritz sau trận Kolín, xua tan thử thách tiêu cực cho vị lão tướng[45]. Bóng tối của bầu trời bao phủ cả tuyến quân của ông, ông dong ngựa đến và hỏi: "Có Tiểu đoàn muốn theo bước Ta đến Lissa không ?". Ba Tiểu đoàn tinh nhuệ quyết định xung phong, theo chân Quân vương. Ngay tại Lissa, ông đánh thắng một nhóm quân Áo và quân sĩ Phổ theo lệnh ông đã bắt sống hoàn toàn nhóm quân này.[17] Tại Saara trên con đường lớn, mọi thứ đều tối mịt tối mù. Đến đoạn này, Carlyle mới ghi nhận rằng Quốc vương gặp một người địa chủ, mang theo cái lồng đèn và có gia nhân hộ tống. Các gia nhân của địa chủ tại Tavern, ở Saara, rất tuân lời ông. Vốn tay phải của ông đã cầm chiếc lồng đèn, khi thấy nhà vua - mà ông tưởng là một vị võ tướng nào đó trong Quân đội Phổ, liền đặt lên bàn đạp yên ngựa bằng da của nhà vua. Carlyle có ghi nhận về đoạn hội thoại giữa Quốc vương và địa chủ, được dẫn ra từ các giai thoại về vị Quốc vương chiến thắng (Anekdoten, III. 231-235.) - hai người trò chuyện nhau như sau:[71]

  • Quốc vương: "Đến gần đây, tóm lấy cái bàn đạp yên ngựa bằng da của Ta" (người địa chủ này đã tuân lệnh). "Chúng ta đang trên con đường lớn của Breslau xuyên qua Lissa, phải không nhỉ?".
  • Địa chủ: "Phải vậy, thưa Tướng quân !"
  • Quốc vương: "Ông là ai ?"
  • Địa chủ: "Bẩm Tướng quân, tôi là một Krätschmer (tiếng Schliesen chỉ địa chủ) tại Saara".
  • Quốc vương: "Ông đã phải đối đầu với nhiều rắc rối, Ta nghĩ vậy!"
  • Địa chủ: "Ôi, hỡi Tướng quân, tôi không như vậy ! 48 giờ trước, từ khi giặc Áo băng qua sông Schweidnitz, căn nhà nghèo khó của tôi bị chúng tràn vào từ ngoài vào trong, do đó chúng bắt được nhiều gia nhân; và chúng thường bắn họ hoặc là hất ngã họ - chúng đã làm cho tôi phần nào bị điên, và tôi đang sửa sang những gì bị hủy hoại".
  • Quốc vương: "Nghe vâỵ Ta phải tạ tội với ông ! Có bọn tướng địch trong nhà ông không ? Chúng nó nói gì ? Kể cho ta, nhe."
  • Địa chủ: "Đều vui vẻ, bẩm Tướng quân. Thế này; chiều hôm qua Vương công Karl ngự trong phòng khách của tôi, và cả đám Sĩ quan hầu cận và quân lính của hắn đều đổ dồn ra đó. Một việc như thế thật đáng ngờ và đáng lo ! Cả trăm tên xông xổ vào, và hàng trăm tên khác thì ra ngoài: họ đều cứ ở trong và ngoài suốt cả đêm, và không lâu sau một kẻ ra, và 10 kẻ vào. Tôi có một ngọn lửa ở nhà bếp trong suốt đêm ấy; do đó cả đám Sĩ quan bâu quanh nó để sưởi ấm. Và họ nói chuyện và bàn bạc linh tinh chuyện nọ chuyện kia. Một kẻ đã nói, rằng Đức Vua của chúng ta sẽ kéo đến, cùng với 'Đám Vệ Binh thành Potsdam' của Người. Có kẻ trả lời, đâu, hắn đâu có dám đến ! Hắn sẽ bỏ chạy khỏi đây, và chúng ta sẽ để hắn bỏ chạy. Chiều nay thì Đức Vua của chúng ta đã trả cho chúng cái giá thật xứng đáng với sự ngốc nghếch của chúng."
  • Quốc vương: "Thế làm cách nào để ông tống khứ "những vị khách quý" của ông đi" ?
  • Địa chủ: "Khoảng 9 giờ sáng hôm nay Vương công lên lưng chiến mã; và không lâu sau ba tiếng, ông ta lại đi qua, với một nhóm Sĩ quan; tất cả đều nhanh chân kéo rốc về Lissa. Do đó khi đến chúng toàn khoác lác, và giờ đây chúng bỏ đi, chủ yếu toàn làm điều sai trái ! Tôi đã chứng kiến điều ấy diễn ra như thế nào. Và rồi từng hàng ngũ sau ông ta, một làn sóng hoảng loạn diễn ra ! Con đường lớn không đủ rộng - một tiếng rưỡi nữa trước khi nó chấm dứt. Một sự hỗn loạn, một đòn giáng nặng, làm cho cả Kỵ Binh và Pháo Thủ đều chạy tháo thân: chắc hẳn là Đức Vua của chúng ta đã quật cho chúng một cú đánh chí mạng. Đây là những gì họ có được qua sự khóac lác và lếu láo - vì, hỡi Tướng quân, chính bọn người ấy đã nói kiểu này nữa: 'Đức Vua của chúng ta bị các võ tướng của Người bỏ rơi, tất cả các chiến binh thiện chiến nhất của Người đã ra đi và bỏ mặc Người': điều này tôi tin rằng không bao giờ tồn tại trên thế gian này!"
  • Quốc vương (khó thể tin được loại tin đồn này): "Vậy là ông nói đúng; đó là một chuyện khó thể nào tin trong ba quân cuả Trẫm".
  • Địa chủ (khi nghe đến từ "ba quân của Trẫm" thì nhận ra ngay): "Chúa Tôi ơi (Mein Gott), Người chính là Đức Vua hiền minh (gnädigster König) của chúng tôi ! Xin thứ lỗi, xin thứ lỗi, nếu tôi thật ngu xuẩn.
  • Quốc vương: "Không, ông là một con người chân thật: có lẽ là, một tín đồ Kháng Cách ?"
  • Địa chủ: "Vâng, vâng, muôn tâu Đức Vua (Joa, joa, Ihr Majestät), tôi là một con đỏ của Ngài Ngự đây".
Bonsoir, Messieurs (Friedrich Đại Đế tại Lissa), qua nét vẽ của nhà danh họa người Đức là Adolph von Menzel

Đúng lúc này thì đoạn hội thoại, cũng theo Carlyle, bị gián đoạn bởi do những người lính Pháo Thủ nổ súng rầm trời. Carlyle cũng kể rằng có khoảng 12 phát súng thì những cánh đồng đầy gỗ bắn về bên phải: không có gì bị hư hại, ngoại trừ chân của một số con ngựa, nhưng rất nhẹ nhõm do họ bắn cẩn thận. Loạt súng này có lẽ để truy lùng những chiến binh Croatia còn trú đâu đó trong thành Lissa hoặc các nơi lân cận. Và vua tiến vào Lissa giữa những tiếng súng rền vang. Trong căn phòng đầu tiên, các chiến binh của ông thấy một mớ tàn binh Áo bị thương tật và họ đã chữa trị cho những người lính Áo bạc mệnh này.[158] Carlyle cũng ghi nhận rằng lâu đài này rất đẹp nhưng có khác vói ghi chép của Duffy: trong thành này có cả nhóm Sĩ quan Áo, đang chè chén say sưa, và định nghỉ luôn tại đây khi nhà vua vào đến. Họ có một đạo quân tại Lissa, nhưng không hề biết là quân Áo đã thảm bại,[59] không hề biết là ông sẽ vào Lissa. Friedrich Đại Đế cũng bất ngờ; tuy nhiên ông vẫn dũng cảm đương đầu với các Sĩ quan Áo kia. Với giọng điệu vui vẻ, ông nói: "Chào quý khách !" (Bonsoir, Messieurs !, và rồi "Có căn phòng nào còn sót ở đây không, bọn Ngươi suy xét coi ?". Có sách khách khác kể rằng ông nói: "Chào buổi tối quý khách, hẳn là bọn bay không biết là Ta sẽ vào đây".[32] Người Áo đều quỳ rạp xuống dưới chân ông, họ giới thiệu tên tuổi của mình,[158] rồi cung kính đưa vị Quân vương lẫy lừng, thiêng liêng đến tận căn phòng đẹp nhất trong đó, một cách trang trọng - thái độ ứng xử của ông vua chiến thắng đã làm cho cả họ đều cảm phục thay vì định bắt ông làm tù binh (lúc đó theo sau ông chỉ một toán quân[11]). Nhà vua mỉm cười, và khuyên họ cứ ở đấy.[158] Thế nhưng, họ bỏ đi và qua cầu, cách đó không xa về phía Đông, ở cuối làng[71]. Câu chuyện này thể hiện cái đầu lạnh băng luôn mang lại thành công cho nhà vua.[11] Thực sự, người Áo tưởng rằng đoàn quân chiến thắng của vua Phổ đã vây khốn họ nên phải trốn chạy để tránh khỏi hiểm nguy cận kề.[43] Theo cuốn Frederick the Great, his court and times, Tập 1 của Frederic Shoberl thì lúc ấy ông mới vời vị chủ nhân của lâu đài Lissa ra và phán: "Ta thực sự đang đói, và Ta sẽ phải có gì lót dạ". Ông chủ còn đang buồn vì người Áo đã lấy đi hết mọi gia sản của ông, và ông chỉ còn biết thu gom những gì còn sót mà làm món ra-gu để dâng cho nhà vua ngự thiện. Nhà vua vui sướng và thèm thuồng, dùng ngay bữa ăn đạm bạc ấy.[57] Sông Weistritz, tức "sông Schweidnitz" ('Schweidnitz Water) thực chất là một con suối lớn, vấy bùn ở hướng này, thường tuôn nước và xoáy nước.[71] Theo một tư liệu của người Đức, nhóm Sĩ quan Quân đội Áo kia nhanh chóng bị Quân đội Phổ tóm gọn làm tù binh.[176] Tiếng nước chảy, kết hợp với tiếng cối xay gió hoạt động, không làm cho nơi đây bị câm lặng. Tại đây, một số binh sĩ Croatia bắn từ những ngôi nhà ở phần dưới làng, và họ có một khẩu đại bác ở gần tận đằng cuối cây cầu của họ. Tuy nhiên, họ không còn gì để làm nữa nên đều thoái lui trong đêm tối. Dòng nước lấm bùn Weistritz chảy, như cái lời vĩnh biệt khàn khàn giành cho các bộ đội Croatia ấy. Những người lính phóng lựu Phổ truy lùng và các ngôi nhà, và lúc quân Pháo Thủ cũng nổ súng truy tìm. Nhà vua truyền cho các chiến binh nổ súng trong đêm tối, nhưng vua không sai quân băng qua sông Schweidnitz, nhằm khiến cho tàn binh Áo phải khiếp sợ và không thể ngăn ngừa vua băng qua sông trong ngày hôm sau.[171] Chỉ trong vòng vài phút, quân Croatia nói riêng và quân Áo nói chung đã mất sạch, đã vượt sông và biến khỏi nơi đây, trong im lặng. Hỏa pháo của quân Phổ vẫn tiếp tục nã vào hậu quân của tàn quân Áo, theo thượng lệnh của Bộ Chỉ huy Quân đội Phổ rằng cứ nã đạn cho đến khi nào đạn bị hết.[71] Trong khi ấy, vị vua - chiến sĩ nước Phổ nói [57]:

Sau một ngày lập công như thế, nghỉ ngơi thật sung sướng.

—Friedrich Đại Đế

Theo lời kể của chính Friedrich Đại Đế, đội Thiết Kỵ binh của Seydlitz trong đêm tối đã tóm được rất nhiều tù binh.[171] Carlyle cũng kể rằng, nghe tiếng động ấy, sĩ tốt Phổ tại Saara lại vung cao khí giới, và hành quân theo chân Quốc vương. Và, Carlyle còn cho hay, giữa cái đêm trường tĩnh mịch, giữa tiếng chân rầm rộ của những chiến binh - một người lính phóng lựu xua tan cái tĩnh lặng ấy, và các chiến binh khác, với giọng điệu trang trọng, cùng đồng thanh hát vang lên bài Thánh ca. Đó bao gồm 25 nghìn giọng ca, cùng với vài giọng ca khác và tất cả các đội nhạc binh Trung đoàn, cũng hát rất mạnh mẽ, với nhịp điệu của một bài ca khải hoàn (Te Deum):[71]

"Nun danket alle Gott
Mit Herzen, Mund und Hünden
Der grosse Dinge thut
An uns und allen Enden".

Cứ thế đoàn quân tiến bước, giọng ca hùng tráng của họ hòa quyện vào đêm trường, cảnh vật trở nên hết sức khí thế. Trong truyền thống quân sự Phổ - Đức, đây là lần đầu tiên "Ca khúc Leuthen" được cất lên từ đoàn binh Phổ đại thắng. Đối với các bộ đội, họ coi hát vang Thánh ca là hình thức mừng chiến thắng trang trọng hơn cả. Vốn đã hát các bài Thánh ca của đạo Luther khi bước vào trận tuyến, sau khi chiến thắng địch thủ thì họ đã tạ ơn Chúa Trời ban phúc cho vị vua - chiến binh anh dũng, mạnh mẽ và năng động của họ, đánh dấu một chiến công nữa của ông.[81] Từ khi những người lính của Friedrich Đại Đế hòa tiếng ca sau đại thắng Leuthen, ca khúc này - bài ca của những người lính khải hoàn của vị vua vĩ đại - trở nên trứ danh trong suốt bề dày lịch sử quân sự Phổ - Đức, trở nên ăn sâu trong hàng triệu con tim người Đức.[118][19] Tuy vậy, ai mà nghe lời bài ca sẽ thấy bất ngờ, vì có một sự thật rằng vua Friedrich Đại Đế là người vô thần, khinh bỉ đạo Ki-tô và dĩ nhiên ông không thích Thánh ca, mà chỉ thích nhạc kịch của người Ý.[177] Thế nhưng, ông cũng phải xúc động đến rơi nước mặt, và sĩ tốt của ông cũng quỳ lạy với tinh thần ngoan đạo.[66] (thực chất ông chỉ sử dụng Kháng Cách như một công cụ để mở mang quyền lợi đất nước Phổ - Brandenburg mà thôi[66]) Khi đến cuối làng Lissa, sĩ tốt Phổ cảm thấy rằng họ đã hòan toàn yên ổn. Họ liền dựng trại đóng ngoài trời giữa đêm trường. Họ đóng quân thành hình bình hành, theo hai tuyến dài hàng dặm qua bãi chiến trường, tả quân nghỉ ngơi tại Lissa, hữu quân thì tại Guckerwitz. Theo Carlyle, hẳn là các binh sĩ đã dùng thuốc lá, và cùng nhau hoan hỉ trong niềm vui đại thắng, với cảm giác nhẹ nhõm và thoải mái.[71] Nhà vua cũng nghỉ dưỡng sau thắng lợi bất hủ của mình.[57]

Những gì sau trận huyết chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nhà quân sự thiên tài nước Phổ đã liên tiếp đánh tan tành quân Pháp trong trận Roßbach và quân Áo trong trận Leuthen, tàn binh Áo hoàn toàn không còn khả năng chiến đấu và chẳng thể nào nghĩ đến một trận chiến nữa. Vào ngày 6 tháng 12 năm 1757, hôm sau đại thắng huy hoàng của nhà vua ở Leuthen,[58][10] Quân đội Phổ băng qua sông Schweidnitz, đoạt lấy được 400 xe ngựa cho quân nhu của người Áo, đồng thời bắt được thêm hàng loạt tù binh Áo nữa. Sáng hôm ấy, Vương công Karl và Daun đều câm lặng, không biết quân sĩ của mình đang nằm ở đâu. Với Karl, trận thư hùng đẫm máu vừa qua là lần cuối cùng Đại Đế Friedrich II tỏ ra vượt xa ông về tài làm tướng, tận diệt đại quân của ông.[86] Ở một trang trại, các binh lính Croatia đã bị lọt vào một khu săn bắn chim bồ câu. Đêm hôm qua trời quá tối do đó Quân đội Áo ngồi trên đống gỗ, trong các tư dinh, trang trại, ở những chỗ trống trong làng. Chỉ vào sáng ngày 6 tháng 12 năm 1757 họ mới bắt đầu tập hợp lại, tất cả bấy giờ đều đã rã rơi, suy nhụt rất trầm trọng, vì chiến bại thảm hại chưa từng thấy của họ dưới đòn giáng sấm sét của Quân đội Phổ. Vào khoảng 3 giờ sáng ngày hôm ấy,[135] Karl rút tàn quân theo đường vòng qua Schweidnitz, sau đó đến Landeshut, xuống một dãy núi và về đến Königgratz tại vùng Böhmen. Theo các nhà bình luận thì đến ngày 7 tháng 12 Quốc vương mới bắt đầu cho truy kích quân Áo, rõ là lúc này đã muộn. Ông ra lệnh cho Trung tướng Ziethen mang một Binh đoàn gồm thâu đến 63 Sư đoàn và hơn 11 Tiểu đoàn, sách khác viết là ba Tiểu đoàn Lính phóng lựu, ba Trung đoàn Bộ Binh, bốn Trung đoàn Khinh Kỵ Binh, năm Trung đoàn Long Kỵ Binh và hai Tiểu đoàn tự do.[135] Trong lúc đó, quân chủ lực Áo đang chạy về phía Đông Nam, thông qua Schweidnitz, và hàng nghìn binh sĩ Áo nữa chạy khỏi cổng thành Breslau hết sức hỗn loạn.[141]

Chỉ cần tưởng tượng về một trận mưa bất thần từ trên các ngọn đồi, với sấm sét và chia chớp, và một thung lũng bị ngập nước dưới chân nó… cứ theo đó chúng ta sẽ nhìn thấy vô số binh sĩ Áo tràn lan trong mắt chúng ta… Mọi con đường đều trở thành một dòng sông người, và mỗi con hẻm là một dòng nước chảy xiết…

—Belach, 1768, 127[141]

Theo chỉ thị của Quốc vương, Ziethen liên tục bám sát đoàn bại quân Áo, hoặc là "ngồi trên khóa nòng súng của địch" trong suốt hai tuần lễ sau. Cứ thế, ông tóm gọn được thêm 2 nghìn tù binh Áo, lấy được quân nhu nhiều vô kể ở những xe goòng đặt ở các vị trí khó khăn. Thời tiết tệ hại với Ziethen, nhưng còn tệ hại hơn nữa đối với Karl.[178] Một Sĩ quan Kỵ binh cầm cờ lệnh trong Trung đoàn Ziethen, chỉ cùng với 10 binh sĩ khác, đã tóm gọn đến hàng trăm tù binh Áo. Anh giải giáp những tù binh này và giải cả họ về Đại bản doanh của Quốc vương. Do lòng can trường của anh, Friedrich Đại Đế phong anh làm Đại úy, trao cho anh Huân chương Quân công (Pour le Mérite).[102] Vào ngày 8 tháng 12 năm 1757, tại Kleine-Lohe, Ziethen phải dừng chân do nhận thấy đội hậu vệ của Áo vững mạnh ở phía trước ông. Trong bức thư gửi cho ông vào ngày hôm sau Friedrich Đại Đế yêu cầu khẩn cấp:[141]

Trong những tình huống như vậy thì một ngày kiệt lực sẽ được đáp trả bằng hàng trăm ngày nghỉ.

—Friedrich Đại Đế

Tuy nhiên, Ziethen không nghe theo và Quốc vương bèn cử Trung tướng Fouqué kết hợp với Ziethen truy quét địch thủ bại trận.[102] Bại tướng Karl khóc lóc, viết: "Toàn quân bị đổ nát không phải là nhẹ; một đội quân mà không có vải lanh, không có quân phục; ở tình trạng thật sự tồi tệ và chua xót, và dù không có lều nhưng vẫn cứ phải đóng trại gần quân thù".[179] Cuối cùng, trong hai ngày 2223 tháng 12 năm 1757, ông đánh đuổi được tàn quân Áo về phía bên kia biên giới xứ Böhmen.[141][26] Chiến thắng của Quân đội Phổ trong trận huyết chiến ở Leuthen đã hoàn toàn quyết định.[180] Một cuốn sách ghi nhận rằng thực sự trong trận thắng của nhà vua Friedrich Đại Đế ở Leuthen, quân Phổ tóm gọn 24 nghìn binh sĩ Áo, lại còn bắt thêm cả 15 nghìn lính Áo trên đường truy quét.[43][181] Sự đói khát và thiếu hụt quân kỳ, súng đại bác, lương thực trầm trọng đã khiến cho tàn quân Áo trở nên rất tả tơi, hỗn loạn hết mực nghiêm trọng.[65][170] Tổn thất trong chiến bại thảm hại tại Leuthen cùng với cuộc truy kích mãnh liệt của quân Phổ đã khiến cho quân Áo mất đi đến 6 vạn binh sĩ, trong số đó có 7 nghìn binh lính đào ngũ về phe Phổ.[135] Chạy rồi,[100] khi tập kết tại đất Böhmen, quân Áo chỉ còn có mỗi 17 nghìn tàn binh mà thôi, tức là còn chưa đầy 1/4 đoàn quân thảm bại tại Leuthen.[141][170] Nhiều binh sĩ trong số đó còn phải nằm viện.[10][179] Một sách chép tổng tổn thất của quân Áo sau đại thảm bại ở trận Leuthen là 5 vạn người, trong đó có cả số người đào ngũ.[64] Friedrich Đại Đế hết mực vui sướng với chiến thắng vĩ đại của ông, đã vời viên tướng giỏi của Áo vừa bị bắt làm tù binh là Beck đến yết kiến. Ông hỏi Beck về lý do mà Áo bị đại bại, Beck tâu: "Kính thưa Thánh thượng, đó là sự trừng phạt cho chúng tôi vì tội dám ngăn ngừa Quốc vương trú đông trên đất nước của Ngài". Tuy nhiên, khi Quốc vương cặn kẽ tra hỏi, thì Beck đáp: "Chúng tôi đã đoán rằng một cuộc tổng tiến công sẽ nhằm vào tả quân của chúng tôi, nên đã đề phòng cho cánh ấy". Quốc vương liền hỏi tiếp: "Làm thế nào để một đội thám sát tả quân của Ta có thể phát hiện ra những ý định của Ta".[170]

Bên cạnh đó, quân Áo hãy còn nhiều binh sĩ đóng tại Schweidnitz và Breslau (Schliesen). Nhưng trong lá thư gửi Thống chế Keith - người đã tiến đánh xứ Böhmen khi nhà vua đang chinh chiến trong chiến dịch Leuthen - để báo tin đại thắng Leuthen thì Hoàng thân Heinrich cho biết rằng Breslau sớm muộn sẽ rơi vào tay quân Phổ, mà quả thực là không lâu sau đội quân chiến thắng đã làm chủ cả tỉnh này.[65][78] Thực chất chiến thắng lừng lẫy ở Leuthen đã ghi dấu lần thứ hai ông chinh phạt được Schliesen, và với hai đại thắng tại Roßbach - Leuthen ông đã có thế mạnh để tiếp tục hành chinh.[25] Trong khi nhà vua Friedrich Đại Đế sẽ tổ chức cuộc vây hãm Schweidnitz vào năm sau, ông cho pháo kích dồn dập vào thành Breslau, để rồi vào ngày 20 tháng 12, Binh đoàn Trú phòng Áo tại đây thất bại thảm hại, phải đầu hàng vị vua Phổ vinh quang.[100][141] Không những quân Phổ chiếm lại được Breslau, tóm gọn được cả thay Binh đoàn nay (gồm thâu có 17 nghìn binh lính) mà họ còn chiếm lại được phần lớn các khẩu đại pháo, tiếp tế đã bị quân Áo cướp đi mất trong trận Breslau trước đó.[71] 17 nghìn quân Áo nữa cùng làm thành một đội hình cực dài và rút quân khỏi cổng thành Schweidnitz, Friedrich II cùng với một toán Sĩ quan quan sát quân Áo kéo đi. Quân Áo giờ đã rệu rã đến mức mà họ không thể nào nghĩ đến chuyện bắn hạ vị Quốc vương nước Phổ vốn đã giành được chiến thắng và làm chủ tỉnh Schliesen.[141][54] Quân Phổ ngoài chiếm lại tỉnh Schliesen còn thọc sâu vào đất Áo, hạ được các thành Troppau, Jagerndorf và Teschen[102]. Không những thế, quân Phổ đã tái chiếm được thành Liegnitz, bắt sống được đến 3400 lính trú phòng Áo[124]; thế là, ngoại trừ Schweidnitz, Hoàng hậu La Mã Thần thánh đã mất hết cả Schliesen.[71] Với thế thượng phong của nước Phổ sau đại thắng rực rỡ, họ bắt thêm được nhiều tướng sĩ Áo.[78] Và, cả Vương quốc Phổ gần như đã sạch bóng quân Liên minh, làm cho nhà vua đẹp dạ: sau thảm họa,[1] quân Áo tháo chạy tán loạn về các lãnh địa cha truyền con nối của Đức hoàng Franz I (các đạo quân trú phòng Áo cũng đã bị tận diệt không lâu sau toàn bại của họ ở trận chiến Leuthen[182]), nhằm phục hồi khỏi thảm họa, quân Pháp chạy về biên giới Brandenburg, quân Nga vốn đã rút lui khỏi nước Phổ từ lâu, Quân đội La-Đức đã lui về và quân Thụy Điển cũng đã bị đánh tan nát và phải tháo chạy khỏi vùng Pommern - bản thân Thụy Điển và Nga cũng đã nản chí khi hay tin về thảm họa Leuthen.[29][170] Người ta nói rằng, bên cạnh việc hoàn tất đại thắng hủy diệt tại Leuthen, nhà thiên tài quân sự Friedrich Đại Đế cũng thầm lặng kích động Hoàng thái tử Nga là Pyotr để buộc quân Nga thoái binh về Ba Lan.[117] Chính toàn thắng tại Leuthen đã khiến cho ông tập trung binh lực đánh tan tác quân xâm lấn Thụy Điển, khi tàn quân Áo đã chạy tháo thân qua núi đồi.[29][183] Theo tác giả Spencer Tucker thì chỉ còn trong cả đoàn quân Áo đã tham chiến trong suốt chiến dịch năm 1757, chỉ có nửa số đó còn sống sót mà thôi.[1] Ngoài ra, Tổng giám mục Schaffgotsch thấy nhà vua đã hồi sinh thành công quân sự của mình với việc đại thắng trận Leuthen và quét sạch đối phương thì hoảng sợ tột cùng, vội gửi thư tạ tội. Vào ngày 15 tháng 2 năm 1758, ông vua thắng trận liền viết thư trách móc thậm tệ sự phản bội không thể dung thứ được của Schaffgotsch trước trận Leuthen.[25][170]

Chỉ trong vòng 3 tháng mà toàn thể quân đội của vị vua mưu lược Friedrich Đại Đế đã lật ngược thế cờ và tóm gọn đến 4 vạn tù binh Áo, và đã có được thời gian "xả hơi" quý báu nhờ hai thắng lợi vang dội tại Roßbach - Leuthen, mang lại vinh quang lớn cũng như lợi thế hoàn toàn cho ông và thảm kịch cực lớn cho Theresia.[23][115][124][1][3] Một lần nữa, ông lại liên tiếp giành chiến thắng vang dội như hồi hai cuộc chiến tranh Schliesen trước đó.[63] Cuộc Chiến tranh Bảy năm đã ghi dấu sự thiệt hại nặng nề của quân lính Croatia chiến đấu cho Theresia, mà đặc biệt hơn cả là trong trận chiến tại Leuthen với vô số Sĩ quan cấp cao người Croatia bị giết ở ngay phía trước quân sĩ của họ. Năm 1757 đã đánh dấu những thảm họa liên tiếp không chỉ của nước Áo, mà là của cả liên quân mà cụ thể là những thất bại ở Roßbach, Leuthen và cuộc giải phóng Schliesen của vua nước Phổ. Theo một cuốn sách, với đại thắng tại Leuthen và cuộc tái chinh phạt toàn tỉnh Schlesien, ông đã loại được 45 nghìn quân Áo ra khỏi vòng chiến.[87] Sau khi nghe tin vua anh thắng lớn[78] trận Leuthen, vị Thái tử tội nghiệp August Wilhelm - người đã bị vua anh ruồng bỏ do sai lầm nghiêm trọng hồi giữa năm 1757, đã viết thư chúc tụng vua anh. Tuy nhiên, nhà vua viết rằng ông biết August Wilhelm trung thành với ông, nhưng nếu vậy thì August Wilhelm nên giúp ông ra xa trường đánh giặc, thế sẽ hay hơn.[184] Quân Phổ trú đông tại Breslau từ ngày 21 tháng 2 và trong thời gian đó nhà vua Friedrich Đại Đế suy ngẫm mình giống như người thủy thủ giữa biển khơi đang tìm đường về nhà. Công sứ Anh Quốc là Andrew Mitchell vào ngày 11 tháng 1 năm 1758 có kể lại rằng Quốc vương rất "vui sướng và hạnh phúc, nhưng không vì thế mà mù quáng với chiến công huy hoàng và gần như lạ thường của Ngài. Ngài nói về trận chiến vào ngày 5 tháng 12 (tại Leuthen), với thái độ nhún nhường khi trở thành vị anh hùng - người có nhân cách cao thượng không được nụ cười và cả vẻ cau mày của Nữ thần Vận mệnh tác động đến."[141] Ngoài ra, Mitchell cũng kể lại: "Bất chấp những chiến tích huy hoàng và gần như không thể tin được của Lục quân Phổ, tôi có thiển ý rằng Quốc vương nước Phổ vẫn mưu cầu hòa bình, ngay sau khi Ngài vừa được an bình với vinh quang".[184] Qua một cuộc chinh chiến dai dẳng, đại chiến lược dùng kỷ luật toàn quân và "nội tuyến" một cách táo bạo mà phân rẽ và cân bằng các đối phương của vị Quốc vương nước Phổ đã thắng lợi to lớn.[85][125][126][185] Vào tháng 1 năm 1758, ông cho rằng quân Áo sau thất bại thảm hại tại Schliesen, hẳn là sẽ phải xin hòa.[141] Ông thấy quân đội của Karl đã bị hủy diệt nên gửi thư cho Hoàng thân Heinrich, rằng:[2]

Nếu điều đó không mang lại thái bình, thì sẽ không có có chiến công nào trong cuộc chiến này mở đường ra đâu.

—Friedrich Đại Đế

Tuy nhiên, trong tuần sau, ngay cả khi ông vẫn còn tràn trề hy vọng, "nhưng nếu ai đó tin chắc điều ấy, chúng ta ít ra phải dốc sức xây dựng vị trí của chúng ta thật mạnh, do lực lượng quân sự chỉ là thứ khí giới mà chúng ta dùng được để đánh lại những con chó của các bậc Đế vương mà thôi".[2] Và, ít lâu sau, tình hình cho thấy rằng cả Áo và Pháp sẽ tiếp tục cuộc chiến. Rồi, vào tháng 4 năm 1758, ông điều động binh mã vây đánh thành Schweidnitz, lực lượng trú phòng Áo một lần nữa đại bại.[141] Nếu như Friedrich Đại Đế không chủ động ra tay như vậy thì ông đã không phải là một vị Quân vương vĩ đại.[186] Với loạt đại thắng trong chiến dịch nhanh lẹ năm 1757 hiển hách, ông đã có khả năng đánh tiếp, sau khi 'xả hơi' ngon lành trong vinh quang, và rồi chiến tranh kết thúc năm 1763 là nhờ sự quyết chí, vận may kết hợp với thắng lợi của ông ngoài xa trường mà tiêu biểu là loạt trận thắng vẻ vang ở Roßbach và Leuthen.[126]

Ý nghĩa lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Friedrich đại đế được coi là ông vua vĩ đại nhất của nước Phổ … Là nhà quân sự, ông biết ông chỉ huy quân đội rất bài bản, dụng binh khéo léo, đã để lại cho đời sau những trận chiến mẫu mực như trận Rossbach và Leuthen.

—Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học[164]

Sau chiến thắng lớn ở Roßbach, Quốc vương nước Phổ không nghỉ ngơi chi mà thần tốc quân hành về đánh quân Áo tại Schlesien, phá tan quân Karl và Daun trong trận đánh đẫm máu tại Leuthen. Toàn thắng này chủ yếu nhờ chiến lược, phép dụng binh kỳ tài của ông[100][85][116][68].[95][118][149] Tài cầm quân lỗi lạc của ông là nhân tố quyết định cho sự sống còn của Vương quốc Phổ, một phần biểu lộ qua chiến thắng lịch sử ở Leuthen. Chiến thắng vinh quang này còn đánh dấu uy thế của quân lực Phổ hùng dũng với thế lực quân sự chả kém Đế quốc Thụy Điển hồi Thế kỷ 17.[94][23][111][187]

Nhà vua Friedrich Đại Đế - được tôn vinh là bậc đại anh hùng kiệt xuất nhất trong thời đại[81] và hậu thế vinh danh ông như Người thắng trận Roßbach và Leuthen[94] - được mệnh danh là hiện thân cho đỉnh điểm của những chiến công mà người Âu châu có thể đạt được trong thế sự trước cơn bão Cách mạng Pháp.[23] Đối với con người thời đại, ông là một vị anh hùng rất đặc trưng kiểu Hector người thành TroiaAchilles.[36][100] Sau khi ông hành binh thần tốc về tỉnh Schlesien[23] và đọc bài diễn văn Parchwitz hào hùng được xem là một "danh ngôn" về tấn công,[46] đại thắng huy hoàng[21][188] của ông trong trận chiến Leuthen kỳ vĩ - thành quả to lớn của sự cổ võ từ trận đại phá quân Pháp trước đó[61] - là một chiến thắng toàn vẹn của đại binh Phổ, mánh khóe đại quân Áo một cách tài tình và quét sạch quân Áo dưới quyền Karl,[43][36][119] thể hiện qua con số thương vong khủng khiếp của quân Áo cùng với thế thượng phong của quân lực Phổ.[70][189] Đó chính là sự tận diệt đoàn binh chủ lực của nước Áo dưới tay Friedrich Đại đế thiên tài, bằng mưu cơ tuyệt hảo của ông, dù ông chỉ đơn thương độc mã, là đại thắng mỹ mãn cho thấy sự vượt xa chính mình của lực lượng Quân đội Phổ hùng hậu đánh bại cả châu Âu.[114][12][18][59] Với tài cầm quân nhuần nhuyễn của ông[117][190], đây là đại thắng hoàn toàn quyết định thứ hai của ông trong chiến dịch mùa đông mau lẹ và đáng nhớ năm 1757 cuả ông - trong chiến dịch đó vua Phổ đã tung những đòn giáng mạnh bạo và sấm chớp và giành lại những đất đai mà ông dã bị mất về tay liên quân sau một loạt thất bại.[13] Toàn thắng này - tiêu biểu trong loạt đại thắng vũ bão của ông - góp phần lớn cho di sản đồ sộ và tô đậm nhân cách đầy phức tạp của vị vua vĩ đại nước Phổ, và góp phần củng cố ngoại hiệu đẹp đẽ "Đại Đế" cho ông.[25][137],[12][19][191] Nếu không có những trận quyết chiến long trời lở đất như trận Leuthen - một thắng lợi chiến thuật vẻ vang với tầm vóc kinh điển đáng nhớ[114] - thì ông khó thể là "đệ nhất danh nhân của thế kỷ"[25][141]. Chưa kể cả đại quân Áo hoàn toàn vỡ nát, binh sĩ Áo còn phải tháo chạy tứ tung ngay sau khi đại thảm bại, làm nên một trận thua kiêm thảm kịch.[94] Lại một lần nữa (đúng một tháng sau khi đại thắng ở Roßbach[104]), ông đã chiến thắng đối phương, mang lại thảm kịch đổ máu cho họ[73], nên ông trên đà thắng trận đã khởi đầu cực tốt và oanh liệt cho cuộc chiến,[76] lại còn gây chấn động và khiến cho ông cùng với những chiến binh hùng dũng của ông - vốn luôn là công cụ hữu hiệu cho thiên tài quân sự của ông[47] - trở nên đáng khiếp sợ.[192] Với những đòn giáng nối tiếp theo đòn giáng khác (nói cách khác, ông đã phân tán và đánh bại được từng đối phương một để mà giải nguy quốc gia, trong đó có trận thắng lớn ở Leuthen thúc đẩy cuộc giải phóng Schliesen), khiến ông ngập tràn vinh hiển chỉ sau 30 ngày, chưa kể tài cầm binh ông sẽ còn mang lại thêm vinh quang cho Vương quốc sau toàn thắng này.[29][116][193] Bằng chiến công đập tan một cánh quân Áo trước khi cánh kia xuất chiến, ông đã làm trọn được điều mà Napoléon thua lớn trong trận Waterloo (1815).[97] Trận chiến vang lừng này kết hợp với chiến thắng Roßbach - thắng lợi còn ít quan trọng hơn nhiều so với trận Leuthen[88] - đã thể hiện thành công của nỗ lực chiến tranh của Nhà nước phong kiến Phổ với các đạo quân trăm thắng còn vượt hơn cả Anh Quốc khi đó, dù đây không phải là hai thắng lợi cực lớn duy nhất của ông trước liên quân chống Phổ hùng hậu.[85][194] Cả hai chiến thắng của vua Phổ hợp lại đã quyết định đến sự thay đổi hoàn toàn tình hình của chiến tranh[28][193]. Tuy nhiên, trận đánh đẫm máu này không phải là một trận chiến Roßbach nữa: quét sạch được quân đội hùng mạnh của Áo,[85] đại quân Phổ cũng phải chịu không ít thương vong (khoảng 1/6 đội quân của họ, với dũng tướng Rohr hy sinh[57][58]), khiến cho kết thúc chiến dịch năm 1757, tổng số thiệt hại của quân Phổ lên tới hơn 5 vạn binh sĩ, là kết quả của một loạt các trận đánh và giao tranh kịch liệt trong suốt chiến dịch này. Vốn vị minh vương[116] Friedrich Đại đế nắm chắc lợi thế,[23] và ông cũng hiểu rõ ràng để đập nát quân Áo thì các binh sĩ của ông phải hy sinh rất nhiều xương máu. Lực lượng Bộ Binh Áo tinh nhuệ và dũng cảm luôn quyết tâm cố thủ tới cùng, dù phải hứng chịu thảm bại. Mà, thực chất là phần lớn thương vong của Quân đội Phổ đều là do trận huyết chiến tài ngôi làng Leuthen - giai đoạn đẫm máu nhất của cả trận đánh, mà kết thúc là quân Áo bị đánh bật khỏi làng.[82][58][54] Tuy nhiên, dẫu sao chăng nữa thì chiến thắng tại Leuthen cũng có tầm vóc trọng đại như một đòn giáng sấm sét và thẳng tay của ông vua tài ba Friedrich Đại đế vào người Áo.[63][112][78] Rõ ràng, nếu ông không làm nên công tích gì khác thì toàn thắng này vẫn khiến ông trở thành một trong những vị danh tướng lỗi lạc nhất trong quân sử thế giới, và ta có thể thấy để đạt được chiến thắng lừng lẫy và giải phóng cả tỉnh Schliesen như ở trận chiến này là rất khó khăn do quân Áo khổng lồ hơn hẳn quân đội ông.[195] Trong thời kỳ Khai Sáng, các trận đánh thường mang lại tổn thất rất kinh hoàng. Do đó, ngay cả nếu so mới trận thắng oanh liệt tại Roßbach trước kia, thì trận thắng trứ danh tại Leuthen vẫn đem lại tổn thất ít ỏi đáng kể cho Quân đội Phổ, dù có là một trận đánh tàn khốc tiêu biểu trong những cuộc binh đao thời đó. Người Phổ trong khi thu gom được vô số chiến lợi phẩm, thì các Trung đoàn Áo bị tan rã.[91][73][62] Suốt bốn tiếng đồng hồ giao chiến với đoàn quân tinh nhuệ, được huấn luyện và chỉ huy rất tốt của Phổ đã làm cho thương vong của quân Áo cao đến mức gần bằng với toàn thể quân đội của vị Quốc vương nước Phổ, 1/3 đội quân Áo đã bị loại khỏi vòng chiến (sách khác cho rằng số lượng chiếm 1/3 là tù binh Áo) trong cuộc thảm bại này.[37][58][196][75] Cả đoàn binh Áo bị tận diệt, hết Binh đoàn này đến Binh đoàn nọ bị diệt trừ, làm nên một sự tận hủy: họ đông hơn quân đội của Friedrich Đại Đế thì lại bị nhà vua đánh cho tơi tả, cho tan nát thành khói bụi trong một chiến thắng kinh thiên động địa của ông, bị tinh binh của ông dìm chết trong biển máu ngập nơi chiến địa. Thắng lợi vẻ vang này để cho đời sau thấy được sức mạnh của đoàn binh ít ỏi mà rất nhà nghề của ông, chẳng khác chi trận Roßbach thơm lâu.[35][5][192] Sau chiến thắng lẫy lừng, chỉ mỗi một Trung đoàn Phổ của Ziethen mà đã bắt sống được đến 2 nghìn tù binh thì đã cho thấy tình hình quân tồi tệ đến mức nào.[58]

Trong thời đại ấy, sự thiệt hại ít ỏi đến mức hiếm có trong trận thắng quyết định và huy hoàng tại Leuthen này thể hiện một kỳ công của vua Phổ (chưa kể là ông đã 46 tuổi khi đại phá đội quân Áo khổng lồ ở trận này).[19][4] Không những thế, trong thương vong của Quân đội Phổ còn có nhiều binh sĩ chỉ bị thương nhẹ;[70] chiến lược chuẩn xác và mạnh bạo của ông trong trận đánh này, làm cho người Áo "tan tác tro bay" và chung số phận với người Pháp trong trận trước, trở thành một kỳ tích không gì sánh bằng trong suốt chiều dài quân sử thế giới[61][3]. Nhà vua đã biết tận dụng sức chiến đấu của quân mình hơn hẳn người Áo[75]; tổn thất nhẹ nhàng của quân đội ông trong trận này đã khiến ông dễ tiếp tục nghênh chiến với phe Liên minh chống Phổ trong giai đoạn tới của cuộc chiến.[197] Kỳ tích rạng rỡ này là chiến thắng của sự bền chí trước sự hờ hững, là thành quả của sự nghiền ngẫm binh thư của ông trong suốt quãng thái bình thịnh trị trước cuộc binh đao.[41][96] Chưa kể, tầm vóc to lớn của trận chiến quyết liệt này hoàn toàn nằm ngoài tổn thất giữa trận địa - với tư cách là một kiệt tác chiến thuật của cả lịch sử và là chiến thắng vĩ đại nhất của cơ cấu quân sự Phổ hùng hậu dưới triều đại của vua Friedrich II thiên tài, chiến thắng oanh liệt này không những cứu vãn tỉnh Schliesen, củng cố mặt trận Schliesen mà còn thể hiện sự ngày càng sáng suốt của ông sau suốt 16 năm cùng tam quân lăn xả ngoài xa trường cùng với đường lối chiến tranh của ông lúc tốt đẹp nhất.[82][102][23][58][73] Theo chính lời kể của Friedrich Đại Đế thì ông chỉ giành có hơn hai tiếng trong ánh nắng ban ngày mà đạt được chiến thắng quyết định này, và sách khác cũng kể cuộc giao tranh giữa ông và Vương công Karl chỉ kéo dài từ giờ ăn chiều đến lúc Mặt trời tháng 12 lặn, ngắn thế mà thắng lợi thật quyết định.[35][147] Tuyệt tác chiến thuật này có ý nghĩa như một đòn trừng phạt nặng nề vào quân Áo sau chiến thắng của họ ở Breslau.[94] Với giá trị tuyệt mĩ của nó, chiến thắng lịch sử tại Leuthen thể hiện sâu sắc tài nghệ lãnh đạo, dụng binh lỗi lạc của Friedrich Đại Đế.[22][164][198] Ông đã tạo nên một chuyển biến khổng lồ trong chiến dịch ác liệt năm 1757 - một năm sáng rực trong suốt bề dày quân sử thế giới và tràn đầy vinh quang trong lịch sử nước Phổ[83][22]: đầu chiến dịch ấy, ông giành thắng lợi lớn trong trận chiến tại Praha, nhưng lại đại bại trong trận chiến Kolín và chạy khỏi vùng Böhmen làm thất bại "Chiến tranh Chớp nhoáng" (Blitzkrieg),[199] liền đó các kình địch của ông - vốn ngự trị phân nửa châu Âu - xuất quân dồn nước Phổ vào đường cùng. Ấy thế mà trên tinh thần thâm sâu "Anh mà phòng vệ mọi thứ thì chả phòng vệ cái chi cả",[58][200] ông và các chiến tướng trên đường nội tuyến trứ danh[85][191] đã lần lượt đập cho tan nát những đội quân ấy, mà tiêu biểu là quân Pháp và quân Áo, đỉnh điểm là chiến thắng chấn vang tại trận Leuthen của ông.[141] Với đại thắng của sách lược "giữ và đánh" của ông, đây có nhẽ là chiến dịch huy hoàng, oanh liệt[60] nhất trong sự nghiệp trường tồn của Friedrich Đại Đế, là một chiến dịch chóng vánh,[85] kinh điển cứu nguy nước Phổ, đúng kiểu "chiến tranh ngắn và dễ" mà ông hằng mong ước, mang lại một "Phép lạ của Nhà Brandenburg" - mà "Phép lạ" trên hết là nhờ thiên tài quân sự và tinh thần bất diệt của ông, với phép dụng binh kỳ tài của ông là hơn hết cho chiến thắng oai hùng trong trận chiến ở Leuthen.[109][116][84][201][202][203] Chiến dịch ấy đã mang lại sự bền vững và lợi thế rất lớn cho Vương quốc Phổ với một Quân đội lập bao thành tích và thanh thế to lớn của vị vua chiến thắng nổi bật, góp phần khiến cho nước Phổ vươn lên thành quốc gia hùng mạnh nhất châu Âu.[6][21][118][11][3] Theo tác giả Kugler, tài nghệ chiến thuật và chiến lược của ông trong trận này rạng sáng hơn bất kỳ lúc nào, với tài điều binh chẳng kém một kiếm sĩ giỏi luyện kiếm, hay là một nhạc sĩ điêu luyện, đại tài và tinh tế,[50] và thực chất, không lúc nào ông uy vũ hơn hẳn đối phương như sau những trận thắng để đời trong Chiến dịch này.[94][111] Năm 1757 trở thành năm hào hùng hơn cả của ông, với những thắng lợi liên tiếp, chấn vang của ông đánh bại toàn bộ khối Liên minh chống Phổ mà điển hình như trận thắng ở Leuthen "lấy ít địch nhiều" thì năm 1757 ác liệt xứng đáng là "năm của Phổ" nếu năm 1759 là "năm của Anh". Nói như tác giả Britiffe Constable Skottowe, sau khi đè bẹp quân Áo trong trận tấn công ở Leuthen không xa Schweidnitz vào buổi sáng hôm ấy, "…chấm dứt năm 1757 với ánh hào quang ngời sáng không thể phai mờ của Frederic. Một mình ông đã cứu cả quốc gia khỏi sự tàn phá".[25][37][43][58][204] Bên cạnh thực tài chiến lược vĩ đại của nhà vua, sự bền chí và sắt đá của ông cũng quan trọng không kém, chính điều đó đã giải nguy cho Phổ mà quật ngã mọi đối phương trước sự rung động của cả thiên hạ.[25][118] Những tài năng xuất sắc nhất của thiên tài quân sự ấy đã che khuất những sai lầm do ông gây ra, trong một chiến dịch vẻ vang đến mức mà theo Thomas Babington Macaulay, Nam tước Macaulay thứ nhất thì hiếm có chiến tích nào trong lịch sử nổi trội bằng.[170][205] Macaulay cũng viết rằng hiếm có phần đời nào cả Hannibal, Julius Caesar và Napoléon có thể so sánh được với những tháng ngày đại thắng tại Roßbach và Leuthen của nhà vua Friedrich II (trong đó đại thắng ở Leuthen rõ là vĩ đại hơn dù cả hai chiến thắng đều hoán chuyển thế trận theo chiều thuận cho ông[25][94]).[206] Một lợi thế của Nhà nước phong kiến Phổ để đại thắng trận Leuthen là việc Quân vương đích thân làm Tổng tư lệnh Quân đội. Cũng như nhà vua Karl XII của Thụy Điển, ông cho rằng thân chinh lãnh đạo ba quân là điều cần thiết. Nhờ đó, ba quân sẽ hiểu rằng bậc Đế Vương của mình có tầm nhìn xa trông rộng với đất nước, để mà hết mình đấu tranh.[207] Với tư cách là một vị vua - chiến binh, Friedrich Đại Đế mới dễ bề đưa đoàn tinh binh của mình đến chiến thắng trong các trận tranh hùng máu lửa ở Hohenfriedberg, Leuthen với sĩ khí máu lửa[18], hay thoát khỏi thảm họa như sau trận huyết chiến tại Kunersdorf.[208]

Với quyết định tấn công cường địch và với quyết tâm phá vỡ lề lối quy cũ của chiến tranh, vị vua bách thắng Friedrich II đã đại thành công và tỏ ra anh dũng hơn lúc nào hết[192]. Nếu như trận Gettysburg đẫm máu (1863) và trận Gravelotte tàn khốc (1870) là điển hình cho chiến tranh kiểu thế kỷ 19, trận Höchstädt lần thứ hai và trận Leuthen biểu trưng cho nhà vua nước Phổ được coi là nằm trong những trận đánh quyết định tiêu biểu của một thời đại ghi đậm dấu ấn của những nhà dụng binh đại tài như Marlborough và Friedrich Đại Đế chế ngự mọi đạn pháo và hiểm nguy mà khích lệ ba quân tử chiến trên trận tiền, thậm chí là điển hình mẫu mực hơn cả cho chiến tranh kiểu thế kỷ 18.[77] Chiến thắng toàn diện[82] và nổi tiếng "bậc thầy"[77] này trở thành một thắng lợi tiêu biểu của ông và cũng là trong những trận đánh tiêu biểu nhất vào thời kỳ đỉnh cao của các cuộc chiến tranh triều đại trong lịch sử châu Âu.[111][209] Trận thư hùng mãnh liệt này là trận chiến thứ bảy trên con đường võ nghiệp của Friedrich Đại Đế (trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm ông và các tướng soái đánh 16 trận lớn mà chiến thắng Leuthen là một trong số đó[187]), ít ra là một trong hàng loạt đại thắng của ông trước quân Áo và quân Pháp.[99][5] Bằng thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc tấn công vũ dũng như long trời lở đất của ông ở Roßbach và Leuthen - hai chiến thắng giữa cảnh khốn cùng của ông đã trở thành mẫu mực cho các chiến thuật của ông,[6][77] nhà vua nước Phổ đã đưa những cuộc chinh chiến của ông lên tới đỉnh điểm, định hình cho những giai đoạn sau của cuộc chiến.[151][210] Ngày 5 tháng 12 năm 1757, với chiến thắng toàn diện trong trận kịch chiến Leuthen, được coi là cái ngày huy hoàng nhất trong cuộc đời của ông, mà cũng là một đóng góp lớn cho thắng lợi của ông trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm, tiếp tục cho công cuộc Vệ quốc của ông và khiến ông nức tiếng danh thơm.[36][83][141].[12] Trên khắp thế giới, không ai có thể đoán trước những thắng lợi vang dội như vậy, nên thiên hạ ai nấy đều chấn động trước tài nghệ thao lược thiên bẩm cơ mưu của nhà vua nước Phổ, với khả năng lớn về chiến thuật đã được chứng minh, đã được nêu bật bằng thắng lợi tuyệt đỉnh lối "lấy ít thắng nhiều" này.[23][61] Thắng trận quyết định, vị vua hùng tài đại lược này được ca ngợi là một bậc thầy của nghệ thuật quân sự, với bộ óc đại thiên tài và luôn quật cường.[18][211] Là trận thắng to lớn của ông vua lừng danh nhất trong lịch sử Phổ,[25] cuộc thắng lợi ở Leuthen góp phần không nhỏ cho truyền thống huy hoàng của Quân đội Phổ,[75] và trở thành một sự kiện nổi bật,[25] trong những trận đánh được ghi khắc sâu đậm nhất trong lịch sử quân sự Phổ - Đức, cùng với những trận huyết chiến như Kunersdorf, Jena, Leipzig, Waterloo, Sedan, KöniggratzTannenbergGorlice-Tarnów, làm những người lính Đức được cả thế gian ấn tượng vì sự thiện chiến qua từng thế hệ.[212] Lực lượng Quân đội Phổ - là "tác phẩm" của Đại Tuyển hầu Friedrich Wilhelm I xứ Brandenburg năm xưa, sau những chiến thắng quan trọng như các trận Fehrbellin, Roßbach, Leuthen, Leipzig, Waterloo, Königgratz và Sedan, cuối cùng đã hoàn thành quá trình thống nhất nước Đức bằng "Sắt và Máu" vào năm 1871 - mặc dù việc hợp nhất nước Đức là một chuyện mà vị vua thắng trận tại Roßbach và Leuthen cũng khó có thể hoài bão. Cuốn Ludendorff: the tragedy of a military mind của tác giả Karl Tschuppik có so sánh diễn tiến cuộc Chiến tranh Bảy năm và Thế chiến thứ nhất, trong đó hai chiến thắng oanh liệt của vua Phổ ở Roßbach và Leuthen được ví von với các đại thắng ở Gorlice và Vilna. Quân đội Phổ kiên dũng, hừng hực khí thế, thần tốc và chính xác, luôn mang lại thắng lợi cho nhà vua đánh tan mọi cường địch.[7][213] Ngoài ra, chiến thắng Leuthen, là thắng lợi vang dội của ông giữa lúc ông đang chịu áp lực nặng nề và tuyệt vọng - còn nằm trong hàng ngũ những thắng lợi kinh điển của một đội quân ít ỏi - nhưng có một lợi thế nhất định nào đó trước một đội quân đồ sộ, như các Arbela, Agincourt, Austerlitz, Chancellorsville hay trang trại Chinese.[75] Trong những nguyên nhân thắng lợi của Phổ có tài dụng binh lỗi lạc của vị anh chúa Friedrich II, tổ chức xuất sắc của guồng máy quân sự Phổ và hệ thống tuyển mộ binh sĩ của Phổ, và sự liên can của phong kiến Phổ đến cơ cấu ruộng đất miền Đông Elbe, cùng với hệ thống thuế và tài chính quân sự được gầy dựng nên từ đó - đưa trận chiến tại Leuthen trở thành một chiến thắng độc đáo trong nền quân sử thế giới.[36] Vả lại, để đại thắng một đội quân hùng mạnh, mà làm nên một kiệt tác điểm ngoặt lịch sử, Friedrich Đại Đế đã phát huy nhanh chóng[95] và đúng đắn lợi thế lớn của ông là có một đội quân được huấn luyện tốt và tốc độ hành binh nhanh khủng khiếp để mà biểu lộ sở trường làm tướng của ông (chính hiểu biết tường tận của ông về lợi thế của sự nhanh chân đã góp phần làm nên chiến thắng Leuthen lịch sử).[5][121][61][75] Tuy trong sự nghiệp của ông nhà vua đã có những sai lầm nghiêm trọng nhưng ông vẫn có nhiều chiến công lừng lẫy, điển hình là trận đại chiến ở Leuthen này, che lấp cho những sai lầm của ông.[192] Thắng lợi hào hùng này, theo sau chiến công vang dội ở Roßbach (cả hai thắng lợi này đều được xem là quan trọng như nhau[122]), đã khiến ông đánh thắng và đập nát[28] kế hoạch của phe Liên minh chống Phổ[51], chứ không chỉ giúp ông giải phóng toàn cõi Schliesen khỏi tay phong kiến Áo và cải thiện tình hình chiến sự ở Đức[18]. Với chiến thắng rực rỡ mang ý nghĩa trọng đại của vị anh quân - thiên tài nước Phổ, dẫu cho ông hãy còn phải đánh bại nhiều gian nan sau chiến thắng chấn động đất trời ấy[82][214], vận mệnh của Vương quốc vững tồn, các quốc gia Đồng minh chống Phổ chả thể nào chiếm được nước Phổ trước ngày Giáng sinh[23] và biên thùy cũng như "cánh trái" của đất nước đã được vững yên - ông đã thắng được cả một khối Đồng minh hùng hậu.[37][12][18] Ít ra, hai chiến thắng lớn lao nhất của ông tại Roßbach và Leuthen trong ngăn chặn cuộc tấn công nước Phổ của phe liên quân trong một thời gian.[215] Không những thế, chiến thắng Leuthen cùng với các thắng lợi khác của ông còn đặt nền móng cho thành công của chiến lược Châu Âu lục địa của nước Anh dưới Chính phủ William Pitt, Bá tước thứ nhất của Chatham, trong khi sinh khí của Anh Quốc tăng vọt giữa "làn sóng thầm" hâm mộ trí dũng của vị vua Phổ danh tiếng phá tan quân Đồng minh.[76][216] Một Pitt khôn ngoan sáng suốt, cùng với một Friedrich hùng anh đánh đâu thắng đó tại các trận Praha, Roßbach và Leuthen nảy lửa mà giải nguy, đã cùng nhau san sẻ vinh quang thắng lợi trong buổi binh đao.[25][216] Quân Áo trở về còn có chút ít bộ đội[18], trong khi nhân dân Đức mến kính vị quân chủ nước Phổ[94]. Không chỉ giúp cho ông được nước Anh tăng viện, đại thắng Leuthen còn thể hiện sự yếu kém của Liên minh chống Phổ. Ngoài diệt gọn quân Áo và bảo tồn Phổ, chiến thắng kinh điển ở trận Leuthen của ông được xem là góp phần làm nên một loạt thảm kịch bi đát của người Pháp trong chiến tranh, và đã tạo điều kiện cho Anh và quân Liên minh Tây Đức tiếp tục tung đòn như vũ bão, đánh thắng Pháp liên tiếp ở các trận Crefeld, Minden,…,[25][5] trong khi vua Phổ toàn thắng xong liền dễ dàng kén tuyển lính tráng cho chiến cuộc năm sau (năm 1758).[217]

Sự tuyệt hảo của việc Frederick lần lượt đánh lại các đạo quân (Đồng minh) ấy và giành được chiến thắng sau bao thăng trầm được xem là một trong những bản trường ca của lịch sử. Những thắng lợi của ông trước quân Pháp và quân Nga vào năm 1757 đã thiết lập danh tiếng của ông như là một trong những vị tướng vĩ đại nhất của thời đại.

Về cuộc hành binh thần tốc về Leuthen và bài diễn văn Parchwitz[sửa | sửa mã nguồn]

Trước hết, cuộc hành binh của ông từ Sachsen về Schlesien (sau khi đại thắng quân Đồng minh Pháp - Đức và trước khi đập nát quân Áo trong trận thắng ban đầu đáng nhớ ở Leuthen) được đánh giá một kỳ tích mau lẹ của ông trong việc tổ chức hành quân.[100][57][218][219] Không hề làm tổn phí chút thời gian nào,[35] ông đã tiến hành cuộc hành binh thần tốc này rất bài bản và có trật tự tốt, mà cứ trong 1 ngày thì quân ông đi được chừng 10 dặm.[220] Với thái độ kiên nhẫn, ông đã biết khai thác lợi thế của nước Phổ là sử dụng đường nội tuyến, để đánh bại hoàn toàn từng đối phương một là Pháp, Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức và Áo.[100][191][221] Không những Jomini mà Clausewitz cũng rất xem trọng lối đánh sáng suốt này của ông, và sau này phe Liên minh trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ cũng từng áp dụng.[191] Dù trong thời tiết thậm tệ, lực lượng Bộ Binh của ông vẫn không ngừng tiến lên. Khi cần nghỉ, họ dừng chân ngay tại khu dân cư. Bước chân mau lẹ của họ đã xuyên suốt miền Trung Âu và đạt được mục tiêu của nhà vua là tiến về giải phóng Schliesen.[58] Do đó, cuộc hành binh thần tốc về Leuthen của ông được xem là một thành tích bất ngờ[82] và uy lẫm, là khuôn vàng mẫu mực có tầm vóc to lớn ở cấp độ chiến lược mà đặt nền tảng cho chiến thắng của ông.[100][61][133] Cuộc hành quân thần tốc này cũng thể hiện rõ rệt rằng Quân đội Phổ được cai quản tốt và luôn được chăm lo đầy đủ về lương thực, chi phí và trang phục. Giữa cuộc hành quân khẩn cấp, mà có lúc ba quân đã dừng chân tại Torgau để trang bị chu đáo cả bộ quân phục của binh sĩ.[222] Không những thế, do lối nghĩ rằng "giặc Phổ" đã nghỉ đông của các tướng lĩnh Áo, cuộc hành binh thần tốc này đã lay động tinh thần của họ, lại còn làm đảo lộn thế cờ.[35][14] Cuộc hành binh thần tốc đã thể hiện sự năng động phi thường của nhà vua Friedrich Đại Đế, giữa lúc luôn băn khoăn lo âu về vận mệnh của đất nước gắn liền với ông, như vào ngày 28 tháng 11 năm 1757, ông ngự bút: "Ta sẽ được mai táng ở Sans-Souci không với lễ lạc cúng tế hay hùng vĩ lớn lao và trong đêm… Nếu thắng trận, em Ta chí ít là sẽ phải gửi một thông điệp tới Pháp với đầy đủ quyền năng để đàm phán hòa bình". Khi chị gái ông là Wilhelmina của Phổ, Nữ Bá tước xứ Brandenburg-Bayreuth bày tỏ lo âu về sự trả hận của quân Pháp sau thảm họa Roßbach, thì nhà vua cũng bộc lộ nỗi niềm của ông:[2]

Đây là trách nhiệm của chúng ta hiện nay - đánh cho giặc Áo chạy tan tác và lấy lại tất cả những gì chúng ta mất đi, và điều đó không thể bị xem được… Cả Soubise và bọn quân Đế chế (Đức) sẽ không còn trở lại trong năm sau… chúng ta phải mong ước hòa bình… Trẫm bái lạy xin Người hãy kiên nhẫn chờ thực hiện những điều này, cả sự sốt ruột và lo lắng của chúng ta đều không thể thay đổi nó…

—Friedrich Đại Đế

Bản đồ trận quyết chiến tại Leuthen (1757) - nơi Friedrich Đại Đế đánh tan nát đại quân của Karl và Daun sau khi đại thắng quân Đồng minh Pháp - Đức và hành binh trường kỳ.[13] Chiến thắng lịch sử này khiến Quân đội Phổ trở thành một đoàn quân đáng mặt xưng hùng xưng bá giống như Đế quốc Thụy Điển hồi thế kỷ 17.[111]

Và ông vẫn luôn luôn không ngại gian nguy, và đại thắng những khốn khó của ông, trên đường hành quân ông đánh đuổi được các tướng Áo là Marshal, Haddik và Gersdorf.[65] Và, cũng như nhiều vị danh tướng khác trong lịch sử, ông đã lay động mạnh mẽ vào tinh thần ái quốc của toàn thể ba quân, trong khi bản thân ông cũng là "sinh trưởng trong Quân đội Phổ" (Theo như lời của Clausewitz[189]). Ông hiểu rất rõ rằng trận thư hùng quyết liệt ở Leuthen là tuyệt đối cần thiết.[223] Theo tác giả Frederick William Longman, ông đã chọn lựa chính xác những ngôn từ chuẩn mực để kêu gọi quân sĩ chiến đấu chống giặc.[123] Nhà vua nước Phổ vốn không những là một nhà chỉ huy quân sự tài tình mà còn là một nhà triết học, nhà bảo trợ lớn của nghệ thuật, do đó ông đã biểu hiện được sự nhạy bén của một người chiến binh - học giả qua lời hiệu triệu trước toàn bộ quân đội này.[142] Bài hiệu triệu này đã ăn sâu vào con tim của người đương thời, khiến cho họ mãi nhớ như in từng câu từng chữ của bài hiệu triệu ấy, và chính nhờ đó cả đoàn quân mới gắn kết son sắt với nhau để mà làm nên chiến thắng tuyệt đỉnh về mặt chiến thuật.[224] Trước tài năng truyền cảm, Friedrich Đại Đế đã khiến cho lòng nhiệt huyết, trung dũng của ba quân bừng bừng rực cháy, sẵn sàng hết mình vì bậc Đế Vương cao quý của họ.[36] Nói chung, những lời nói có cánh của ông không bao giờ mất đi trong tâm tri người đương thời.[91] Và, có nhiều phiên bản khác nhau về bài hiệu triệu này cũng chính là do người đời sau thường kể về nó theo ký ức của mình.[53] Thực sự thì vị vua nước Phổ giành chiến thắng lừng lẫy ở trận Leuthen cũng là nhờ quân đội ông khi ấy mặc dù rất nhỏ bé nhưng chỉ toàn là các Quân đoàn dân tộc (họ đã mất đi nhiều binh sĩ người nước ngoài trong những thất bại và khó nhọc trước đó), qua đó thể hiện niềm tin của ba quân vào Quốc vương cũng như sự ưu việt của một quân đội quốc gia trước các lính đánh thuê.[149]

Vốn Friedrich Đại Đế thường khắt khe và hay có thái độ châm biếm[147] với các bại tướng nên thái độ ân cần của ông trong lúc này là hiếm có, chứng tỏ ông đã hiểu rõ cách động viên tinh thần ba quân. Tập kết tàn binh rồi[45], ông hiện ra trước mặt các tướng sĩ quân sự với bộ chiến bào cũ kỹ và cái hộp thuốc lá bẩn thỉu, với giọng nói nhỏ nhẹ, chứ không phải là một viên chủ tướng uy nghi như thường thấy. Một đấng Quân vương mà có tinh thần hội họp với binh tướng như vậy là hiếm có.[91] Đối với Vương triều nhà Hohenzollern của nước Phổ quân phiệt, việc đối đãi như vậy cũng là hết sức hiếm thấy.[58] Ngoài ra, theo nhận xét của nhà sử học William Fiddian Reddaway (người Anh), trong mấy giờ phút ấy, hình ảnh một ông vua đam mê văn hóa Pháp đã bị thay thế bằng hình ảnh của Người Cha của cả Dân tộc.[2] Việc ông kể cho những người lính tàn quân nghe về chiến công huy hoàng tại Roßbach đã động viên tinh thần binh sĩ, làm họ có ký ức cao đẹp mà quên đi nỗi đau bại trận tại Breslau.[2][58] Là bậc Đế Vương nhưng ông đàm luận thân mật với các tinh binh, và sĩ tốt cũng dùng tên gọi trìu mến "Fritz", hoặc là Cha Fritz (Vater Fritz) để nói đến ông - hàng hàng lớp lớp quân tướng Phổ đều mến phục ông mà trong đó nổi bật nhất là lực lượng Kỵ Binh Phổ hùng mạnh[147].[6] Một điểm đáng lưu ý là lúc này những binh sĩ Phổ người ngoại quốc đều đã đào ngũ trong những lần bại trận trước kia, do đó quân Phổ chỉ còn có các binh sĩ bản xứ - họ mới nồng nàn trung quân ái quốc và tin tưởng mãnh liệt vào đức tin Kháng Cách như vậy.[123] Hiệu lực của cách đối đãi sáng suốt của vị vua anh minh có sức mạnh thần kỳ trong việc khơi dậy khí phách hào hùng của toàn thể ba quân - sự chăm lo, chăm sóc ba quân của ông, cùng với tinh thần kỷ luật vô cùng nghiêm minh của ông đã làm phá vỡ cách nghĩ truyền thống về một ông vua chuyên chế.[2][143] Trong khi ấy, mọi huấn lệnh ban đầu của ông trước trận huyết chiến đều đúng đắn, sáng suốt.[225] Ở đoạn cuối áng "thiên cổ hùng văn" này, ông đe dọa sẽ lấy đi những gì mà sĩ tốt rất yêu thích nếu họ thất trận, do đó họ đã quyết tâm phải chiến đấu và thành quả chính là thắng lợi quyết định và hùng tráng tại Leuthen góp phần cho loạt thắng lớn không ngừng của ông trong chiến tranh - được xem là sự báo ân vua xứng đáng của họ.[119][27]

Dù ba quân phần lớn đã đuối sức và kiệt quệ nhưng sự động viên vô cùng tận tâm của nhà vua đã khiến cho chiến thắng Leuthen càng thêm quan trọng và còn tạo nên huyền thoại về Ông già Fritz nữa.[119][199] Ông chỉ quyết chiến, quyết thắng[119] chứ tuyệt nhiên không sợ giá rét, để rồi đột kích, quét nát đạo quân Áo khổng lồ mà làm nên đại thắng ở Leuthen.[149] Thành công này của ông là một nhân tố không thể thiếu được đối với "Phép lạ của Nhà Brandenburg" (còn gọi là Phép lạ của Nhà Hohenzollern), nói cách khác là thắng lợi của đất nước Phổ trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm - cuộc chiến mà nước Phổ của ông tranh giành Đức với Áo, "tự lực cánh sinh" đánh bại được liên quân Nga - Áo - Pháp và lên hàng liệt cường.[226][227] Trong cuộc chiến ấy, khi phải đánh lại một liên quân hùng hậu, vị đại anh quân nước Phổ được coi là đã chứng nhận mình như một nhà chiến lược và chỉ huy quân sự vượt trội, biết tận dụng quân đội tinh nhuệ của mình.[12] "Đội Vệ binh thành Potsdam" (Potsdamer Wachtparade) như vậy là đã hết mình chiến đấu và hy sinh vì ông - là "Nhà hiền triết nơi Sans Souci", vị chủ tướng đại tài (Fedherren) của họ, sẵn sàng xông pha và chiến thắng được đại quân Áo ở Leuthen hướng Đông Bắc con sông Oder và vĩnh viên trung thành với ông mãi cho đến khi ông qua đời vào năm 1786.[228] Chính sự vững tin rằng họ không thể bị thua trận, theo sức cuốn hút của Friedrich Đại Đế - tức "Cha Fritz[108]" của họ, đã khiến cho Quân đội Phổ trở thành một đoàn quân bất khả chiến bại[7]. Quyết định tấn công táo bạo của ông được nhà sử học quân sự Đức Hans Delbrück so sánh với quyết định tương tự của vua Gustav II nước Thụy Điển trong trận Breitenfeld (1631)trận Lützen (1632) hồi Chiến tranh Ba Mươi năm cũng như quyết định liều lĩnh của chính Friedrich II trong trận thắng quân Áo ở Torgau tàn khốc vào năm 1760. Không những thế, quân lệnh của nhà vua kêu gọi ba quân chiến đấu ngay cả nếu ông có hy sinh cũng là một đường lối thôi thúc các binh sĩ không thể nản chí mà từ bỏ chiến trận.[229] Thành công của ông trong việc áp dụng nội tuyến mà hành quân từ Sachsen về giải phóng Schliesen cũng thể hiện cái dở của phe Liên minh chống Phổ: Karl Alexander và các tướng tá Pháp - Đức đã không thể hợp tác với nhau, cuối cùng lần lượt bị vua Phổ đánh bại ở hai trận Roßbach và Leuthen.[136] Kỹ năng chiến lược của nhà vua đã khiến tình hình phe Liên minh chống Phổ càng thêm tồi tệ, giúp ông tiếp tục tham chiến và gặt hái thắng lợi sau hai chiến công lẫy lừng tại Roßbach và Leuthen quét nát các đoàn quân khổng lồ của Pháp và Áo Habsburg.[44][74][86] Thắng lợi lớn ở Leuthen - có được đúng lúc vị vua bất bại còn lo chuyện "chết vinh" (song chính sự khắc kỷ và kiên quyết chiến đấu của ông đã mang lại cho ông uy danh quân sự lâu dài trong cuộc Chiến tranh Bảy năm mà trận Leuthen là một phần)[94][100] - đập tan tác, gây thảm họa[45] cho cường địch và mang lại sự hồi sinh mãnh liệt cho nước Phổ (nên có sách nhận định là đại thắng đã đưa nhà vua "về lại đời"[11]), trở nên thành công vang dội cho sự kết đoàn ba quân của ông, với sinh khí của các binh sĩ dưới quyền ông đã tăng vọt đến mức chưa từng thấy xuyên suốt thắng lợi tại trận này. Với hai chiến thắng quan trọng ở Roßbach - Leuthen, thiên hạ chẳng ai dám giễu cợt những vận động cứng nhắc của "Đội Vệ binh thành Potsdam" (Watchparade) - tức lực lượng quân đội mà Friedrich Đại đế kế tục từ vua cha như trước kia nữa.[28][13] Chiến thắng mỹ mãn này cùng với các đại thắng khác khi ấy đã thể hiện mọi tài nghệ đáng phục và sự anh dũng ngoan cường của ông như một bậc Quân vương - chiến binh trong cuộc binh đao kinh thiên động địa.[59]

Về trận quyết chiến ở Leuthen: chiến thắng chuẩn mực của Vương quốc Phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ một ngày hôm ấy thôi cũng đủ để xác nhận Friedrich là một trong những vị chủ tướng quang vinh nhất.

—Christopher Duffy[141]

Trận Leuthen… hoàn toàn có thể ngửng cao đầu lên bên cạnh những chiến thắng của Napoléon hay bất kỳ ai khác. Do hai bên không khác chi ba chọi một; sĩ tốt hai bên đều có kỹ năng không khác chi tương xứng nhau, và chỉ vị Tướng quân là siêu việt tột bực, và chiến bại là sự hủy diệt… có những vị vua vĩ đại trước Napoléon…

—Thomas Carlyle[230]

Một trong những trận đánh vĩ đại nhất của thế kỷ.

Đại tướng David Fraser - nhà sử học quân sự Anh[93]

những chiến thắng này (Roßbach, Leuthen) nhờ vào sự kết hợp chính xác của các đội hình trận tuyến và cơ động trên trận địa, đều đòi hỏi phải có kỷ cương nghiêm ngặt.

—Đại Từ điển Bách khoa Toàn thư Liên Xô[5]

Trong vòng một tháng, quân Phổ liên tiếp giành được hai trận đại thắng, điều đó thể hiện một cách hùng hồn nghệ thuật chỉ huy siêu việt cũng như kỹ xảo dụng binh nhuần nhuyễn của Friedrich.

—Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học (Cuốn Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới)[164]

Thất bại này là một đòn giáng vững mạnh[25], mãnh liệt và đau đớn về tinh thần cho người Áo, là thảm kịch chứ không phải là chiến bại nữa, nghiền nát thế thượng phong của người Áo khi ấy và chuyển hẳn nó sang Phổ.[92][78][60][231] Được coi là cuộc đại chiến tuyệt vời của thiên tài của ông,[119] chiến thắng mỹ mãn của vị vua Phổ trong trận chiến này được coi là một bài học quý giá về chước thuật (ở đây là đánh úp, thực chất chiến thuật trứ danh "đánh xiên" đã khiến cho chước thuật của ông đại thắng trong trận này[121]), điều binh và nâng cao sĩ khí.[12] Sáng hôm sau thất bại thảm hại tại Leuthen thì Vương công Ligny phát hiện ra Karl và Daun lâm vào tình trạng tuyệt vọng tới mức trầm trọng tại đại bản doanh Grabischen. Nói chuyện với nhau, Karl thốt lên: "Tôi không thể tin tưởng được vào chuyện ấy". Trong khi đó, với tư cách là một mưu sĩ thì Daun có nhẽ đã nói; "Tôi đã bảo với Ngài như vậy".[26][60] Một tác giả khi miêu tả về tình cảnh bi đát của đoàn quân Áo hùng hậu thậm chí còn viết rằng không một binh sĩ nào không trận vong hoặc bị bắt sống trong trận Leuthen.[92] Đối với, Daun và Karl xứ Lothringen, chiến bại này cũng thảm hại không kém thất bại của họ tại Praha ngày 6 tháng 5 năm 1757. Tài năng của Friedrich Đại Đế, cùng với các binh sĩ nổi tiếng dũng cảm và bất bại của ông, đột kích[92] và đánh bại những đội quân đông hơn hẳn đã được thể hiện, qua lần đại thắng trên đống gỗ phủ đầy tuyết này - một đại thắng chấn vang kinh điển theo lối "lấy ít thắng nhiều", lại hết sức hiếm có trong thời ấy, giống như đại thắng của quân Thụy Điển dưới quyền vua Karl XII trong trận Narva hồi năm 1700, đập tan tác đại binh Nga.[51][13][73][232] Trận Leuthen, với phép dụng binh phi thường của vị vua - chiến sĩ và sức mạnh quân sự vô song của nước Phổ, đã thẳng tay đập nát cái mộng "gieo roi" của đại binh Áo - tưởng chừng đã thu hồi được Schlesien thì họ lại bị quân Phổ ít hơn đánh bại hoàn toàn và giành lại tỉnh Schliesen, chấm dứt huy hoàng chiến dịch năm 1757 trên nội tuyến - hoàn toàn là sáng kiến bậc thầy của ông.[85][27][72][73] Hiệu quả to lớn của nội tuyến giúp cho người đời có thêm những nét chấm phá về tài binh lược trác tuyệt của ông.[85] Đáng lý ra một chỉ huy thắng trận nếu có đông quân hơn sẽ thường đi vòng để tránh thọc và sườn địch hoặc là buộc địa phải chuyển tầm nhìn chính diện, do đó trận chiến Leuthen là một chiến thắng tương phản với nguyên tắc này, do vị chỉ huy thắng trận có quân số ít ỏi hơn hẳn kẻ đại bại.[233] Trận đánh này cũng được coi là điển mẫu cho chiến thuật "tuyến" thời đó, và nhà thiên tài - bậc thầy Friedrich Đại Đế đã bố trận một cách độc đáo: đặt một cánh quân ở một góc của phần còn lại[45]. Như thế, chiến thắng quyết định[15] tại Leuthen - trận đánh ngoạn mục[8], điển hình nhất của ông và đường lối chiến đấu sáng suốt của ông - đã trở thành một tách trà tuyệt ngon cho giới sử học quân sự cuối thế kỷ thứ 18, và sẽ còn được nghiên cứu ở những Học viện quân sự quan trọng hàng đầu trên thế giới như một điển hình về tài làm tướng siêu phàm.[39][85][234] Trong lá thư gửi cho nhà văn hào Pháp Voltaire để báo tin về trận thư hùng quyết liệt tại Leuthen, Nữ Bá tước Wilhelmina đã bày tỏ niềm nhiệt liệt hân hoan trước chiến thắng của vua em kỳ tài, dù sau khi biết tin này thì Voltaire chỉ có thêm suy ngẫm về sự hiếu chiến của phong kiến quân phiệt Phổ:[66]

Tôi có thể tưởng tượng sự kiên nhẫn của ông khi nghe được những tin mà ông hứng thú. Một trận chiến đã thắng lợi và Breslau đã rơi vào tay Đức Vua. Ngài đã bắt giữ 33 nghìn tên tù binh, trong số đó có 100 tên Sĩ quan và 14 tên tướng cùng với 150 cỗ pháo và 4 nghìn chiếc xe ngựa chở quân lương, tràn trề lương thực và đạn dược, đó là tin của Tôi gửi ông. Tuy nhiên, Tôi còn chưa nói xong. … Trận đánh ấy thật là độc đáo và xem ra khó thể tin được: người Áo có đến 8 vạn quân và người Phổ chỉ có 3 vạn quân … Tôi xin bổ sung thêm một giai thoại nữa: trước đó, đại quân do đích thân Đức Vua thống lĩnh đã hành quân trên suốt 42 dặm Đức trong một ngày, rồi họ chỉ có nghỉ ngơi trong một ngày trước khi xông pha trong trận đánh đáng nhớ ấy. Thao tác của Đức Vua chẳng khác gì Caesar: "Ta tới, Ta thấy, Ta thắng"!!.

—Wilhelmina xứ Brandenburg-Bayreuth

Dẫu sao đi chăng nữa thì Voltaire, khi tóm tắt về chiến dịch lừng lẫy năm 1757 của đoàn binh Phổ (trong đó có đại thắng Leuthen), có lời bàn về nhà vua nước Phổ:[102][235]

Quốc vương nước Phổ đã đè bẹp quân ta tại Thüringen, ở Roßbach, điều binh về đánh quân Áo cách đó 6 vạn dặm … Một tháng sau, và trong cái ngày danh tiếng của tháng ấy, Friedrich còn làm nên một chiến tích uy vũ hơn, và quyết liệt hơn, đánh bại Quân đội Áo gần Breslau. Ông ta chiếm cứ Breslau, tóm gọn cả 15 nghìn tù binh, và cả phần còn lại của Schliesen đều phải quy phục ông ta. Ngay cả Gustav cũng không thể lập nên những kỳ tích lớn đến thế. Chúng ta có thể thông cảm cho ông ta về những vầng thơ con cóc, lời lẽ châm biếm và chút gian trá của ông ta. Những lệch lạc của con người này đã tan biến trước hình ảnh một vị anh hùng.

—Voltaire

Nỗ lực khổng lồ của nhà vua tài lược Friedrich Đại Đế khiến ông chỉ trong vòng có 30 ngày đã đọat lại mọi vinh hiển, toàn thắng cường địch trong một trong những toàn thắng vẻ vang và uy dũng thời Chiến tranh Bảy Năm.[25][61][73][236][237] Thậm chí, nối tiếp chiến thắng Roßbach,[54] đại thắng Leuthen còn được coi là thắng lợi lớn nhất của cuộc chiến, mang lại chiến quả đầy ấn tượng cho ông và được coi là một thắng lợi biểu hiện cho tài cầm binh, trong khi kỹ nghệ quân sự Phổ đã khiến họ tiêu diệt cả một đạo quân Áo khổng lồ ở trận này.[89][72] Với binh lược cổ điển và đúng đắn của ông[25][236], chiến thắng mạnh mẽ[183] và nhanh gọn[38] tại Leuthen được đánh giá là một đại thắng kinh điển, một trong những chiến thắng to lớn nhất của ông nói riêng và Nhà nước phong kiến quân sự Phổ hào hùng nói chung, trở thành huyền thoại trong lịch sử quân sự thế giới, có tâm vóc đáng sánh với đại thắng vang lừng của ông trước quân Liên minh Áo - Sachsen trong trận huyết chiến ở Hohenfriedberg hồi năm 1745.[79] Tất cả những trận thắng ấy đều thể hiện tính toán sáng suốt của ông đánh bại các địch thủ mạnh hơn ông[79]. Vốn đã từng "sinh ra" thần Odin, hào khí của nước Phổ dưới triều vua Friedrich II đã được tái sinh với các trận chiến tại Hohenfriedberg và Leuthen.[54] Chiến thắng ở Leuthen được ca ngợi là một toàn thắng có một không hai trong lịch sử, không có một toàn thắng nào được lập kế hoạch chuẩn xác và thực thi hiển hách như trận đánh này - thắng lợi của nhà chiến thuật lớn nhất của thế giới, thậm chí còn được xem là thắng lợi lớn nhất trong suốt chiều dài lịch sử nước Phổ, và là ý tưởng độc đáo hơn cả của thời đại.[101][54][238] Chiến thắng huy hoàng của ông trong trận Leuthen giáng cho quân Áo một đòn ác hiểm, cùng với đại thắng ở trận Roßbach trước đó khiến cuộc chiến đấu trường kỳ anh dũng, kiên cường[239] của ông trong suốt bảy năm - một thắng lợi quan trọng trong lịch sử[211] - được tác giả Ngài Nathaniel William Wraxall, trong cuốn The history of France, from the accession of Henry the Third, in 1574, to the death of Henry the Fourth, in 1610: Preceded by a view of the civil, military and political state of Europe, between the middle, and the close of the sixteenth century; and followed by a view of the state of Europe at the accession of Louis the Thirteenth, xem là một cuộc tranh đấu không gì bằng trong lịch sử thế giới cận đại. Tác giả Louis Leger của cuốn Austria-Hungary: based on the work of Paul Louis Leger cũng khen ngợi ông như một "con sư tử giữa vòng vây" luôn sẵn sàng cào xé từng đối phương.[211][239] Kế hoạch của ông trong trận chiến này tỏ ra chu đáo, chuẩn mực hơn cả[119]. Trong suốt thời kỳ này thì trận đại thắng mỹ mãn và rất nổi bật[37][112] ở Leuthen - trận đánh được Friedrich Đại Đế thực hiện tài tình nhất[240] - còn được xem là là chiến thắng vĩ đại và vinh hiển[51] nhất của Nhà nước phong kiến quân sự Phổ, cùng với chiến thắng Roßbach trở thành những Trận chiến vĩ đại, là Niềm huy hoàng của Phổ.[241] Có sách còn khen trận dẹp sạch Áo ở Leuthen vĩ đại hơn trận phá Pháp - Đức gấp bội lần, xét ý nghĩa là ông đã triệt tiêu đoàn binh hùng mạnh nhất của Đại Công nương Áo - là một quả đắng rất lớn đối với bà, lại giành ưu thế để rồi giải phóng toàn tỉnh Schlesien và vinh hiển.[24][78][59][236] Không những thế, quân lực của ông còn loại được toàn quân Württemberg ra khỏi vòng chiến, giáng sập cả họ[242] và gây hậu quả nghiêm trọng đến lãnh địa phong kiến này. Ngoài thì bị quân Phổ đập tan nát, trong thì khủng hoảng tài chính, là khó khăn lớn cho lãnh chúa xứ này.[5][243] Bản thân Friedrich Đại Đế thì cho rằng trận Leuthen có thể vĩ đại hơn trận Roßbach nhưng không hẳn là rực sáng hơn; dầu sao chăng nữa thì hai chiến thắng này cũng chóng vánh như nhau, chỉ trong có vài tiếng đồng hồ mà thôi.[167][184] Thậm chí, dù đều là minh chứng cho tài thao lược tuyệt vời của nhà vua,[65] trận đại thắng vẻ vang chưa từng thấy[28] ở Leuthen còn mang tính quyết định,[43] tuyệt đối thuộc về nhà vua hơn so với chiến tích hiển hách ở Roßbach - nơi Trung tướng Kỵ binh Friedrich Wilhelm von Seydlitz đánh tan nát quân Pháp mang lại thắng lợi quyết định.[167] Như sách Soldiers and Sailors: Great Men and Famo (Phần 2) của tác giả Charles F. Horne cho biết, phép điều binh khiển tướng của ông trong trận hội chiến kịch liệt tại Leuthen là "không thể bị vượt qua".[43] Cho dầu đại thắng ở trận Roßbach được đánh giá là "cái nôi của chủ nghĩa dân tộc Đức", chiến thắng vĩ đại tại Leuthen phá đại binh Áo đã nêu rõ hơn tài dụng binh của ông và được coi là một trận đánh quan trọng trong lịch sử nước Phổ.[90][240] Chiến thắng quyết định tại trận Leuthen này đã khắc họa Friedrich Đại Đế là một vị tướng lĩnh mạnh bạo nhất của thế kỷ 18, biểu lộ tinh thần "Quân đội Phổ luôn luôn tấn công" cùng với cách lấy thế mạnh của ông.[244] Sau này Nhà nước ấy sẽ còn có những chiến thắng vang dội để lại ý nghĩa to lớn hơn cho nhân loại như là đại thắng tại Leipzig (1813) và Waterloo (1815), nhưng trong trận kịch chiến ở Leipzig thì nước Phổ cùng vinh quang với người Áo trong khi ở trận đại chiến Waterloo thì với người Anh, chứ trận chiến Leuthen thì hoàn toàn là chiến tích của người Phổ.[205] Ít ra thì chiến thắng lớn ở Leuthen của Đại Đế Friedrich II cũng được đánh giá là chiến tích lẫm liệt và hào hùng nhất trong những trang sử Phổ trước khi Đức hoàng (Kaiser) Wilhelm I đập nát nước Pháp trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ (1870 - 1871).[74] Cho dầu chỉ có đại thắng ở trận Roßbach thì nhà vua mới có thể chuyển sang đánh thắng quân Áo trong trận Leuthen,[245] và tuy xét về mặt ấn tượng và quyết định thì cả hai trận vang danh này đều như nhau (cũng đều là những trận "lấy ít thắng nhiều" rất tiêu biểu của ông)[74][240], nhiều nhà phân tích đúng đắn cho rằng chiến thắng này còn rạng rỡ hơn[83][188], vang lừng hơn,[45] vĩ đại hơn chiến thắng vừa qua tại trận Roßbach, do khác với quân Liên minh Pháp - Đức vô kỷ cương, Lục quân Áo là một đội quân hết sức tinh nhuệ; nhờ có sự truyền cảm đầy cuốn hút của các Sĩ quan cùng với lòng vững tin vào quân số đầy ắp, người Áo đã có đến ba lần chiến đấu anh dũng[102]. Một người Phổ quan sát chiến trận đã lưu ý "giặc Áo phòng vệ cho chúng với lòng dũng cảm vĩ đại, nhưng cuối cùng bị đánh lui… quân địch… không lúc nào chiến đấu dũng mãnh hơn lúc này" - điều đó khiến cho chiến thắng Leuthen quang vinh trở nên rạng rỡ đến chưa từng thấy, và oanh liệt hơn cả trên suốt con đường võ nghiệp của vua Friedrich II hùng tài.[228][236][246] Như một toàn thắng hùng tráng của nhà thiên tài quân sự này, chiến thắng vĩ đại tại Leuthen không phải là một đại thắng thình lình như trận chiến Roßbach, dù là một "điển cố" huyền thoại cho khả năng diệt mọi cường binh của ông.[82][247] Chỉ huy quân Áo - Vương công Karl - tuy đã nhiều lần bị Friedrich Đại Đế đánh bại nhưng ông vẫn cương quyết bằng mọi giá thắng trận, chứ không hề hèn hạ.[2] Thế mà, với sự thất bại thê lương của Quân đội Áo dưới quyền ông trong trận Leuthen và nhiều trận đánh khác, vị dũng tướng này đã trở thành một địch thủ không đồng đều bậc nhất của ông. Và, một yếu tố nữa, đoàn quân hùng hậu của Áo đã ba lần đánh thắng đoàn quân của ông ngay trong năm 1757 của hai chiến thắng tại Roßbach và Leuthen, trước khi trận đại chiến tại Leuthen bùng nổ.[173][248] Thế nhưng, ông đã tiêu diệt được họ ngay cả khi họ chiếm cứ điểm kiên cố.[81] Nói sao thì nói, dẫu trận đánh đã cho thấy oai khí của Trung đoàn Áo dưới quyền Vương công De Ligne, nhà vua nước Phổ đã ghi thêm một bàn thắng đẹp mắt,[159] và sự lề mề của quân Áo trong vận động đã tạo điều kiện cho quân Phổ thắng to. Sức mạnh uy dũng của quân Áo cho thấy điều người ta thường tin rằng quân Phổ đại thắng ở trận đánh Leuthen nhờ sự hiếu chiến của dân tộc Phổ là không hợp lý, và Friedrich Đại Đế đã phải chiến đấu hết sức gian khổ để thắng lợi vẻ vang chứ không đại thắng dễ dàng như ở trận chiến Roßbach, dù chiến công hiển hách diệt Áo này cũng tái hiện vận động của chiến thắng Roßbach.[141][241][249] (Hoàng đế Napoléon Bonaparte sau khi viết qua các trận chiến ở Kolín và Breslau thì ghi: "Nhưng Friedrich đã trở nên bất hủ và đoạt lại mọi thứ nhờ chiến thắng trận Leuthen vào ngày 5 tháng 12 năm 1757"[250]). Do đó, chiến thắng này rõ là một tuyệt tác (Meisterstück), một tác phẩm đỉnh cao (chef-d'oeuvre) của ông.[200][251] Dầu sao chăng nữa thì hai công tích lừng vang của ông tại Roßbach và Leuthen đều được xem là những thắng lợi độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại, cùng với chiến thắng Praha thể hiện lòng dũng cảm và thiên tài của vị vua nước Phổ vĩ đại trong cuộc kháng chiến thành công chống lại khối Đồng minh hùng mạnh.[252] Ít ra, đại thắng tại Leuthen mang tầm cỡ của chiến dịch Ý của Napoléon và đại thắng của Wellington ở trận Waterloo.[107] Bằng lòng can trường của quân thần nước Phổ, hai chiến thắng to lớn và quan trọng tại Roßbach và Leuthen trở thành hai "Phép lạ" của Vương triều Hohenzollern chỉ trong vòng có chút thời gian ngắn, khiến nước Phổ nhanh chóng phục hưng.[13][203][253] Điều này khiến cho thế thắng của người Áo bị tan vỡ hoàn toàn,[254] và chiến bại tại Kolín cũ, do đã bị xóa tan bởi các thắng lợi vinh quang của ông[51], chỉ có tạo tiền đề cho danh thơm của ông càng thêm huy hoàng, uy chấn khắp trần gian, chứ không hề tàn lụi.[205] Chưa kể là hai chiến thắng vẻ vang của nhà vua Friedrich Đại Đế cũng diễn ra sau chiến bại của Quân đội Phổ trong trận Gross-Jägersdorf với Quân đội Nga.[131] Với mọi Kolín ông đều có một Roßbach và Leuthen thắng lợi rực rỡ hoàn toàn trở cờ[100][13], cũng như Caesar trăm thắng và Napoléon Bonaparte có một Austerlitz và một Wagram với mỗi Aspern-Essling. Là một đối thủ về uy danh của nhà vua-kỳ tướng Friedrich Đại Đế,[99][107] chính Napoléon sau này cũng phải hết sức đam mê kế sách và tài làm tướng của ông, và ghi nhận bằng lòng thán phục nồng nàn:[17][16][157][251]

Friedrich Đại Đế táo bạo hơn Ta nhiều lắm. Trận Leuthen là một kiệt tác về hành quân, cơ động và quả đoán. Chỉ duy trận đánh này cũng đủ để lưu danh bất hủ của Friedrich và đặt ông vào hàng ngũ những bậc danh tướng lỗi lạc nhất. Ông tiến công một đội quân lớn hơn hẳn quân ông, trong cứ điểm và chiến thắng, bằng một đội quân mà một phần trong số đó là những tàn binh bại tướng vừa qua, và ông đã đạt được một chiến thắng hoàn hảo với thiệt hại không trái ngược với chiến quả. Những chuyển động của ông trong trận đánh ấy đều đồng nhất với các nguyên lý chiến tranh… Ông vĩ đại hơn cả trong những lúc nguy kịch nhất.

—Napoléon Bonaparte

Bãi trận địa Leuthen ngày nay (Lutynia, Ba Lan, chụp vào năm 2004) - nơi một trận đánh tuyệt mĩ của lối tấn công bên sườn đã bùng nổ vào năm 1757, khi Friedrich Đại Đế xuất binh đập cho quân Áo tơi tả. Trong quân sử, nhiều đoàn quân đã tiến hành tấn công bên sườn, từ buổi vua nước Hatti thân chinh đánh quân Ai Cập trong trận Kadesh (1288 trước Công Nguyên).[65] Chiến thắng Leuthen là một trong hai chiến công giữ nước của vị vua nước Phổ - một nhà chinh phạt oanh liệt[38] - buổi năm 1757.[17]

Bản thân Napoléon luôn phải chiến đấu chống các Liên minh phong kiến châu Âu hùng hậu nên ông xem chiến thắng rạng rỡ của Friedrich Đại Đế tại Leuthen là một "tuyệt tác" mẫu mực điển hình để mà noi theo.[17][255] Nhận định nêu trên khắc họa sâu sắc chất Friedrich II mang đậm trong trận đánh kinh điển ở Leuthen - ít ra cũng là một trong những thắng lợi quan trọng liệt ông vào hàng ngũ các Nhà chỉ huy vĩ đại và là nền tảng cho sự đánh giá tích cực về ông. Không phải ông chế ra máy móc gì để chiến thắng, mà ông biết huấn luyện quân sĩ tinh nhuệ, và luôn luôn nắm chắc và vượt qua gian nan, đương khi ấy hồi ức về trận thua to ở Breslau của quan quân Phổ cũng bị xóa tan nhờ có chiến thắng Leuthen.[82][63][113] Quả thật, nói theo nhà binh pháp đại tài nước Phổ là Karl von Clausewitz thì quyết định tấn công đại quân Áo của Friedrich Đại Đế là để đánh được "một trận chiến huy hoàng" - điều này biểu lộ tinh thần quyết đoán, làm chủ tình hình và trách nhiệm với đất nước của nhà vua - điều mà đến cả một người con của Cách mạng Pháp là Napoléon cũng không thể có được. Chính vì tinh thần quả quyết đến thế của nhà vua Phổ mà Napoléon phải nể phục ông hơn cả trong tất cả các Nhà chỉ huy vĩ đại trong thời kỳ Cận đại.[192] Không những là ông vua có tầm nhìn xa trông rộng, nồng nàn yêu nước và quyết không chờn bước, ông trở thành một bậc thầy quân sự uy chấn vang thiên địa.[100][50][193] Phải cương quyết và uy mãnh lắm thì ông mới dám cả gan đương đầu với một đoàn quân địch hùng mạnh và đông hơn, dám làm trái nguyên lý mà nghiền nát địch trên bãi chiến địa ghê rợn kia.[20][50][256] Ngay từ khi còn là một Đại úy, vào ngày 29 tháng 9 năm 1806 chỉ ba tuần trước khi quân Phổ bị Napoléon đánh tan nát trong trận Jena thì ông đã viết thư gửi cô tình nhân sắp cưới của ông bàn về tình hình chiến tranh và đề cao vị vua anh dũng Friedrich Đại Đế sau khi đại phá quân Pháp liền hành binh về đánh thắng trận Leuthen.[61][257] Trong cuộc Chiến tranh Giải phóng (1812 - 1814) của dân tộc Đức phá tan xiềng xích áp bức của Pháp thời Napoléon, Clausewitz đã hăng hái kể cho Đông cung Thái tử nước Phổ là Friedrich Wilhelm nghe về cái oai khí của bậc tiên quân Friedrich Đại Đế luôn luôn quả đoán sẵn sàng đánh một trận vang danh, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước của vị Thái tử.[258] Vốn Friedrich Đại Đế thường được xem là nhà chiến thuật kiệt xuất nhất trong lịch sử thế giới thì theo Dupuy, trận chiến tại Leuthen được xem là chiến thắng tuyệt vời nhất của ông.[259] Chính đại tài lược thao và sự quả đoán không những mang lại cho vua Phổ đại thắng ở Leuthen mà còn mang lại cho ông chiến thắng toàn diện trong cả cuộc chiến.[193] Tuy Napoléon ca ngợi đến vậy nhưng chưa bao giờ ông làm nên được một thắng lợi nào cỡ như trận thư hùng Leuthen:[252] chiến thắng này rạng rỡ hơn hẳn chiến thắng to lớn nhất của Napoléon trong trận Austerlitz (1805), và lại càng vượt xa thắng lợi của vị Hoàng đế nước Pháp trong trận Jena.[99] Trong khi nhà vua Friedrich Đại Đế được ca ngợi là càng thêm gắn bó với lực lượng Quân đội Phổ và thể hiện thiên tài quân sự của mình khi tình hình quân đội của ông càng thêm nguy khốn trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm - cuộc chiến đã trở nên nổi tiếng vì những chiến dịch của ông, chiến dịch nước Pháp năm 1813 đã chứng tỏ Napoléon không thể nào dùng 3 vạn quân mà tấn công và đánh tan tác 9 vạn địch được bố phòng kiên cố như nhà vua nước Phổ ở trận Leuthen.[85] Dó đó, hai chiến công lừng lẫy của Friedrich Đại Đế tại Roßbach và Leuthen đã trở thành những chiến thắng uy chấn, lớn lao hơn cả của thiên tài quân sự trong suốt chiều dài lịch sử thế giới.[252] Theo đánh giá của nhà sử học quân sự Dodge, với tài nghệ chiến thuật đến mức không ai sánh bằng của ông, ông đã tuyệt đối thành công trong việc tập hợp cả ba binh chủng Phổ trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ tại Leuthen.[260] Sự tập hợp ba binh chủng là một tài năng còn hệ trọng hơn cả chiến thuật "Đánh xiên" dù chiến thuật này nổi lên như cồn nhờ đại thắng Leuthen.[37][261] Để lập nên kỳ công quân sự này, ông hiểu rõ rằng việc kết hợp chiến đấu giữa ba binh chủng là rất cần thiết, cũng như việc nắm giữa thế chủ động trên chiến trường, vì qua đó những chiến thuật kiểu thế kỷ 18 mới trở nên tuyệt hảo, cũng giống như danh tướng Anh Quốc là John Churchill, Quận công Marlborough thứ nhất trong trận Oudenarde (1708).[180] Nhưng ngoài đầu óc chiến lược hết mực anh minh của ông thì ông còn thể hiện trí dũng xuất sắc trong cả chiến dịch vang danh Roßbach - Leuthen quét sạch cường địch, vốn bản thân đây là một chiến dịch phòng thủ thì ông đã đại thắng một trận thủ và một trận công (Chính là Leuthen), đưa chiến dịch của ông trở thành một tuyệt tác quân sự, là cái năm muôn thắng lợi, huy hoàng nhất trong suốt bề dày lịch sử của lực lượng Quân đội Phổ cùng với năm 16751813.[90][31][23][262] Không những trận đánh khốc liệt này được xem là chiến thắng trọn vẹn nhất của Friedrich II mà còn là chiến thắng quyết định nhất, vĩ đại nhất của thập kỷ 1750, và còn là của cả thế kỷ 18.[141] Trận chiến này được ca ngợi là một chiến thắng tiêu hao sinh lực:[263] Đó là kiểu mẫu bài bản cho vận động chiến,[21] là sự sụp đổ của một đội quân đông đến hơn 8 vạn binh sĩ trước một sức tấn công của một đội quân chỉ có 3 vạn binh sĩ, làm hoàn toàn tiêu tan hy vọng của người Áo về việc tái chiếm tỉnh Schliesen, chấm dứt 6 tháng chiến tranh năm 1757 với vinh quang của Friedrich Đại Đế.[262] Làm chủ được Schliesen tức là con đường đã rộng mở cho ông từ Breslau cho đến Böhmen.[264] Điều đó khiến cho chiến thắng lừng lẫy tại Leuthen trở thành trận đánh vĩ đại nhất trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm, là một cuộc tranh giành bá quyền kịch liệt giữa các triều đại phong kiến xưa.[46] Trận chiến máu lửa tại Leuthen, cùng với trận vây hãm Breslau cuối năm 1757, buộc Breslau phải đầu hàng,[78] và trận vây hãm Schweidnitz vào năm 1758 đã làm mất đi hoàn toàn uy quyền của Hoàng hậu La Mã Thần thánh - Đại Công nương Áo là Maria Theresia tại tỉnh Schliesen.[179] Trước khi trận đánh đẫm máu bùng nổ, chính Theresia đã tin rằng cuộc chiến đã kết thúc và Schliesen đã được lấy về, nhưng chiến thắng của Friedrich Đại Đế đã đập tan tác những hy vọng của bà, thẳng thừng lăng nhục mạ lị đại quân của bà.[170][265] Bà tuôn trào nước mắt trước thảm cảnh ấy của tướng sĩ.[52] Triều đình Viên gập tràn thái độ hết mực sủng sốt, tức điên lên và không thể tin nổi.[179] Như một nhà sử học thời đại Adolf Hitler có viết vào năm 1942 giữa cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, rằng trận Leuthen là một chiến thắng "mẫu mực và lý tưởng cho mọi trận chiến tiêu hao trong tương lai". Tuy nhà sử học này không nêu ra rằng Friedrich Đại Đế đã chịu ảnh hưởng từ chiến công của danh tướng Hannibal nước Carthage đại phá quân La Mã trong trận Cannae thời Chiến tranh Punic lần thứ hai, nhưng phần lớn là sự thật: mọi nhà sáng lập của nền quân sự Phổ - Đức đều coi Friedrich Đại Đế là vị sáng tổ của họ, và noi theo tấm gương ngời sáng của ông.[157] Ngay từ khi ông đại thắng trận Leuthen thì người đương thời đã ấn tượng chiến thuật bài bản này của ông, đến mức một bình luận viên nhiệt liệt tán dương:[266]

Lối đánh này thật khoa học, điêu luyện và tuyệt hảo hơn bất cứ cái gì khác. Trong mọi vị tướng hiện đại, Friedrich Đại Đế đã nghiên cứu rành mạch nhất về các nguyên lý và lợi thế của chiến thuật đánh xiên. Trong những đại đồn quân, trong những buổi duyệt binh và trong thời bình, Ngài đã dạy chiến thuật này cho Quân đội Phổ.

—Nhà văn quân sự Jean-Charles, Hiệp sĩ Folard

Sau khi phát xít Đức thua lớn ở trận Stalingrad (1943), trong cuộc Chiến tranh Xô-Đức, Bộ Tuyên truyền Đức có truyền đơn như sau:[267]

Giờ đây, chúng ta có lẽ bước thời đại Friedrich của cuộc chiến khốc liệt và quyết định này. Friedrich II từng bị đánh bại thảm hại trong các trận Kolín, Hochkirch và Kunersdorf. Hậu quả của những trận đánh này là những thảm họa kinh khủng, còn tệ hại hơn hẳn những trận đánh mấy tuần nay trên mặt trận phía Đông. Tuy nhiên, sau trận Kolín là chiến thắng Leuthen, sau các trận Hochkirch và Kunersdorf là những chiến thắng tại Liegnitz, Torgau và Burkersdorf - và cuối cùng là thắng lợi quyết định của Quân đội Phổ trong bảy năm chinh chiến…

Với thắng lợi tận diệt và chấn vang[183].[12] này, Friedrich Đại Đế đã đem lại cho chiến sử thế giới một trong những điển hình về chiến thắng qua việc đánh tạt sườn quân địch.[183] Tên tuổi của ngôi làng Leuthen đã nổi lên như cồn vì trận chiến đẫm máu giữa người Phổ và người Áo diễn ra tại đây mà trong đó người Phổ thắng lớn. Đại thắng trong trận kịch chiến tại Leuthen vang dội thể hiện sự quyết đoán của Bộ Tư lệnh Quân đội nước Phổ luôn bẻ gãy được mục tiêu của đối phương, và đặc biệt là Friedrich Đại Đế - một vị anh quân và còn là một trong những nhà mưu lược lớn nhất trong lịch sử thế giới.[31][78][68][201][221] Sự triệt hạ hoàn toàn quân Áo của ông, bất chấp kích cỡ khổng lồ của họ, đã khiến cho ông không phải là một vị vua vĩ đại, mà là một vị vua vĩ đại nhất mà người đời ghi nhận.[99][121] Tài lãnh đạo là yếu tố quyết định đến chiến thắng này - được xem là một mẫu mực cao chót vót trên tận đỉnh Everest về chiến lược thực tiễn do nhà vua đã hủy diệt cường thù,[41] trong khi tài cầm quân cùng với cách sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên của ông được xem là nguyên do ông đánh thắng cường thù.[61] Kỳ tích oai hùng của nhà vua đã thể hiện đóng góp to lớn của ông đối với đường lối Chiến tranh Chớp nhoáng ("Blitzkrieg") của Nhà nước Phổ - Đức năm xưa - đó là lối kết hợp các lực lượng Không quânLục quân của người Đức để tiến thẳng về một vị trí trọng yếu, tính chất chớp nhoáng của cả chiến dịch năm 1757 của ông.[199][268][269] Trận tấn công Leuthen kết thúc bằng một chiến thắng "hoàn hảo" và chớp nhoáng ngay trong cuộc chiến đấu bảo vệ Schlesien, khắc họa tài năng của ông như một bậc thầy về chiến lược vệ quốc (thực chất cuộc Chiến tranh Bảy năm được xem là minh chứng rõ nhất về tài thao lược của ông.[51][78][216] Thậm chí theo lời kể của vị tướng lĩnh cũ của Đức Quốc Xã là Hermann Balck thì với chiến thắng toàn diện tại trận Leuthen, Friedrich II trở thành vị tướng soái Đức đầu tiên áp dụng Chiến tranh Chớp nhoáng - đường lối rất phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của nước Phổ.[199][270] Như Balck cho biết, chiến thắng Leuthen của nhà vua nước Phổ đánh bại hoàn toàn đạo quân Áo khổng lồ đã mở ra yêu cầu người Đức phải khéo léo và nhanh chóng hơn địch thủ của họ. Chưa kể, người Phổ còn phải tổng động viên quân đội nhanh hơn các đối phương.[5] Hay đúng hơn, chiến thắng của vị vua - chiến binh đã thể hiện phương thức Chiến Tranh chớp nhoáng trong chế độ cũ.[202] Đường lối Vận động chiến ("Bewegungskrieg"), mà thắng lợi oanh liệt tại trận Leuthen là điển hình, trở nên một học thuyết quân sự Phổ trong chiến dịch, có tầm vóc quan trọng hàng đầu của nền quân sự Đức.[147][271] Chiến dịch năm 1757 được xem như một điển hình cho tài năng đáng kể trong sáng tạo[79] và vận dụng thành công nội tuyến đặc trưng của ông, cho khả năng của ông chủ động lấy hẳn một vị trí trung tâm và theo đó hành binh thần tốc để mà tìm diệt từng địch thủ đang vây khốn ông,[83][85] hội quân mau lẹ và lần lượt đánh bật quân Nga, Pháp và Áo bằng sức càn quét rất khủng khiếp (trong đó có chiến thắng Leuthen), mà ông tiếp tục phát huy trong năm sau (1758) bằng tài mưu lược của mình - đáp ứng tư tưởng tiêu diệt sinh lực địch của ông. Qua thành công đó, ông mãi mãi tồn vững,[89][85][5][78][122][80] bảo toàn được binh lực cùng với khả năng tác chiến của toàn thể quân đội và nhanh chóng toàn thắng cường địch, giữ vững sơn hà, làm cho mong ước đánh "một cuộc chiến ngắn và dễ" của ông trở thành hiện thực.[85][78] Thắng lợi hoàn toàn của ông và các chiến binh tinh nhuệ của ông trên nội tuyến nổi danh đánh lui cường địch qua đó được coi là chuẩn mực.[78] Với nội tuyến tiêu biểu của Friedrich Đại Đế trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm trở nên một "đặc sản" của người Phổ,[272] sau này, nước Đức cũng áp dụng lối này.[126] Mà một yếu tố khác mang lại chiến thắng quyết định cho ông là nhờ tinh thần chủ động tấn công của ông, và niềm tin sâu sắc của ông vào sự hùng hậu của ba quân. Dù ông hiểu rõ rằng đội quân của ông không có đông người, nhưng đây là một đội quân tinh nhuệ nhất cả châu Âu, được huấn luyện không đâu sánh bằng.[136][221] Ông hết mực tín nhiệm tinh thần kỷ cương của cỗ máy chiến tranh của ông.[147] Trận chiến Leuthen rực rỡ đã thể hiện rực rỡ niềm kiêu hãnh của ông trong việc áp dụng đường lối tấn công táo bạo của mình và trong việc dùng mưu kế siêu việt, "lấy ít đánh nhiều" để lập nên tiếng tăm hiển hách, giải phóng tỉnh Schliesen cũng như biên giới phía Đông và toàn bộ non sông.[95][121][26][231] Việc Karl sẵn sàng giao chiến với Friedrich Đại Đế là một sai lầm, là điều mà danh tướng Đông La Mã năm xưa là Belisarius phải tránh. Tuy điều ấy buộc vị vua Phổ phải đối phó với một đội quân đông hơn để mà giải cứu tỉnh Schliesen - một trong những nền tảng không thể nào mà thiếu được của nước Phổ trên vai trò là liệt cường quân sự - thực chất Karl vẫn có thể đánh trận ở một nơi thuận lợi.[136] Vương công Karl đã tỏ ra chủ quan dù hoàng huynh Franz I của ông đã cảnh báo về lối "đánh xiên" của vua Phổ, và do đó, kết hợp với một quan điểm chết người là vua Phổ đã nghỉ đông (giống như ở trận huyết chiến Lützen hồi năm 1632), ông đã không ngờ được về sự dũng cảm của vua Phổ.[41] Bộ Tư lệnh quân Áo còn mắc sai lầm nghiêm trọng là không dụng Khinh Kỵ Binh hữu hiệu để ngăn cách quân Phổ, như chính vua Phổ nói: "Chỉ một đám thám sát… đã có thể phát hiện ra bí mật của sự thật ngay lập tức". Nadasty - một tướng Khinh Kỵ Binh có kinh nghiệm, ít ra cũng phải biết người Phổ sẽ tiến đánh từ một hướng bất ngờ, lại thất bại trong việc đặt phòng vệ ở cánh bị hở của mình. Những điều này góp phần không nhỏ đến chiến thắng oanh liệt của người Phổ đột chiếm làng Leuthen và đập tan nát quân Kỵ binh Áo.[32] Và chúng ta cũng nên biết rằng những vấn đề của chiến tranh thế kỷ thứ 18 không khiến cho một đội quân lớn hơn cầm chắc 100% thắng lợi trong tay, nhờ đó Friedrich Đại Đế đại phá các đoàn quân khổng lồ trong hai trận thắng được xem là rền vang nhất của ông ở Roßbach và Leuthen (tại đây ông cứ mất 1 người Phổ là tiêu diệt 5 người Áo).[36][16]

Rốt cuộc, chiến thắng vang dội của ông là một đòn giáng chí mạng vào đến giới lãnh đạo quân sự Áo, mang lại quyền chủ động vững vàng cho đạo quân thắng trận. Được xem là một "cuộc đổ máu tuyệt tác", đại thắng Leuthen chứng tỏ vị vua Phổ toàn tài không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào tuyên truyền trong chiến tranh.[16][227] Ngoài ra, chiến thắng này phần lớn chính là do nhờ kiến thức rành rọt của vua tôi nước Phổ về địa hình của chiến trường qua kinh nghiệm trong những năm tháng thái bình thịnh trị: điều ấy khiến cho ông trở nên càng vững tin nắm chắc tình hình hơn và ông đã áp dụng được hiểu biết của mình một cách thiện nghệ, thâm thúy, mang lại lợi thế cho đoàn quân Phổ làm nên tuyệt tác. Ông đã xem xét địa hình kỹ lưỡng đến mức chẳng khác gì một Jägermeister.[147][201][221][225][232][273] Cũng giống như Marlborough trong trận Ramilies (1706), Friedrich Đại Đế đã giành chiến thắng trong trận Leuthen (1757) nhờ việc tiếp cận nhanh chóng các lợi thế về địa hình.[274] Ông thậm chí từng nói rằng, các chiến binh Phổ sở dĩ thắng lợi là do "địa thế thuận lợi cho họ"[55], song trước thắng lợi này ông đã dựa vào nhân tố ấy trong trận Roßbach vẻ vang.[188] Được đánh giá là là một trong những vị chủ tướng vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, ông đã vạch đồ trận, và tỉ mĩ xem xét thế trận, từ đầu ngày chiến sự cho đến tận khi phi ngựa qua cầu Lissa.[114]

Những cuộc hành binh nổi danh ở Ulm và Jena đều thực sự là những vận động bọc sườn… và thắng lợi của chúng thì đã quá rõ. Một vận động chiến thuật trước mặt thì có kết quả khác hẳn. Ney đã hứng chịu thất bại tại Dennewitz, cũng như… Friedrich tại Kolín. Tuy vậy, cuộc di chuyển vang lừng của Friedrich ở Leuthen là một vận động bọc sườn đúng đắn, nhưng nó được che khuất bởi các đội Kỵ Binh trên các đỉnh đồi, và được áp dụng chống một kẻ địch không hề chuyển động trong doanh trại của mình; và nó thắng lợi rất lớn vì trong khoảng khắc tung đòn giáng quyết định thì Daun bị đánh bọc sườn chứ không phải là Friedrich.

—Karl von Clausewitz[275]

Chiến thắng Leuthen là đại thắng quang vinh nhất cuả Friedrich Đại Đế, thể hiện xuất sắc chiến thuật tuyến đương thời.[32] Bùng nổ sau khi Friedrich Đại Đế phá tan quân Đồng minh Pháp - Đức rồi Đông tiến thần tốc về Schlesien, trận chiến này là thất bại toàn diện của người Áo.[51] Chiến thắng lớn lao này được ngợi ca vì sự thực thi "đánh xiên" chuẩn xác của vị vua nước Phổ.[38] Chiến thắng vinh hiển ấy cũng thể hiện tài cầm binh nhuần nhuyễn của ông - nhân tố quyết định cho sự sống còn của sơn hà nước Phổ.[111]

Cuộc Chiến tranh Bảy năm, và đặc biệt là chiến thắng hùng tráng, lớn nhất của vua Phổ trong trận Leuthen đẫm máu mà rất rực rỡ - một "cú giáng thiên tài", rất được ca ngợi[82][78][45] và được coi là đỉnh cao thắng lợi của ông ngoài xa trường [72] - là một điển hình rất chuẩn của khả năng một phe yếu tiến công phe yếu trong quân sử thế giới: giống như xứ Sparta tiến công Liên minh Athena - Corinth - Argos thưở năm 394 trước Công Nguyên, hay Đế quốc Nhật Bản tấn công Nga vào năm 1904.[276] Một lối đánh trứ danh gắn liền với trận đại chiến này là chiến thuật "đánh xiên", đã được hồi sinh nhờ có thắng lợi chiến thuật này.[47] Đánh bại cường địch,[28] trận đánh này là một trong những thắng lợi quyết định nhất,[61] lại còn tuyệt mĩ hơn cả, có một không hai của chiến thuật này, ít ra là chiến thắng vĩ đại nhất của chiến thuật ấy cùng với tài năng áp dụng nó trong thời kỳ Cận đại,[61][18] và chủ yếu làm nên tiếng tăm cho nó[61]; Friedrich Đại Đế đã áp dụng nó từ chiến thắng của Epaminondas trong trận Leuctra thưở xưa mà làm nên cuộc tập kích vô cùng nổi danh và thắng lợi huy hoàng này.[12][45][277][278] Theo nhà sử học quân sự nổi tiếng Theodore Ayrault Dodge (Hoa Kỳ), Friedrich Đại Đế đã thuộc nằm lòng chiến công của Epaminondas tại Leuctra, song, chiến thuật của Epaminondas là rất khó, và chính nhờ thiên tài quân sự của vị vua - chiến binh Friedrich Đại Đế mà ông mới áp dụng được nó, để mà đại thắng quân Áo,[134] cùng với sự lành nghề của các chiến binh của ông.[246][279] Thế nhưng, không những thâm hiểu về Epaminondas và áp dụng thành công chiến thuật "đánh xiên" mà nhà vua còn bày binh bố trận bậc thầy đến mức vượt xa cả Epaminondas[16].[38] Ngay 14 năm trước khi ông thắng trận quyết định này quân Liên minh Áo - Sardinia đã áp dụng chiến thuật ấy trong trận Campo Santo (1743) với quân Tây Ban Nha, nhưng không mấy thành công.[180] Vị vua nước Phổ, vừa giỏi chiến trận lại vừa mưu lược, đã làm nên một cuộc "Cách mạng" về phương thức chiến tranh bằng trận toàn thắng bất hủ của ông ở Leuthen.[38] Sự khôi phục chiến thuật kinh điển này được xem là một di sản quân sự đồ sộ của Quốc vương,[147] chính nhờ đó mà người Phổ có thể đánh bại được quân đối phương đông gấp bội.[280] Ông đã khôn khéo chọn đánh đúng cánh quân yếu của Áo bao gồm binh lính Trợ chiến Đức không thể đáng tin cậy[97]. Là nhà kiến trúc gầy dựng nên học thuyết chiến dịch của lục địa châu Âu, đặc biệt là của các dân tộc German khi ấy, ông vốn đã nghiên cứu sâu sa về chiến thuật "đánh xiên" trong nhiều năm trời trước khi cuộc Chiến tranh Bảy năm bùng nổ[281], mà đóng góp lớn lao của ông cho việc tác chiến là đề cao sự cơ động của binh sĩ trên trận tiền - cái mà quân đội ông đã tỏ ra vượt trội trong chiến tích tại Leuthen là một trận đủ để ông trở nên bất diệt (nói như Napoléon).[12][147][180][282] Ông vừa là bậc Quân vương, vừa là vị Thống soái của quân đội, và việc ông cứu sống một Sĩ quan đang tiến công mà bị địch vây bắt chỉ là một yếu tố thể hiện tài nghệ thao lược của ông.[114] T. A. Dodge cũng cho rằng không có trận đánh nào lừng lẫy như vậy kể từ chiến thắng ở Cannae của Hannibal Barca.[283] Cụ thể, Friedrich Đại Đế trong trận chiến kinh điển này đã triển khai chiến thuật một cách chuyên nghiệp,[227] nghi binh và hành quân đánh tạt sườn (nghi binh để kích động địch tấn công trực diện, sau đó đội chính binh bao gồm lực lượng Bộ Binh với sự hậu thuẫn của đội Pháo Binh đi vòng về hướng Nam theo hàng dọc để lâp nên tuyến quân và đánh úp tả quân địch, Daun chi viện sang cánh tả muộn nên thua to[109][284]) - một trong lối chiến thuật nổi tiếng nhất trong lịch sử quân sự thế giới.[280][282][285] Một trong những nét đặc trưng của chiến thắng lớn này là đội hình hàng dọc đã được Friedrich Đại Đế tổ chức rất chuẩn, được sử gia T. A. Dodge coi là hoàn mỹ và cũng có sách xem trận Leuthen là một điển mẫu cho việc dàn quân Bộ binh theo hàng dọc[38],[261] đặt nền tảng cho sự hiển hách và đúng đắn của cuộc tấn công này[17]. Thậm chí trận này là chiến thắng hoàn mỹ nhất của các đội hình hàng dọc dưới quyền ông.[51] Theo một tư liệu, các chiến dịch của Đại Nguyên soái Aleksandr Vasilyevich Suvorov của Nga vào năm 1799 đã cho thấy sự tiếp thụ của ông đối với các vận động mạnh mẽ đã mang lại thành công "thần kỳ" cho vua nước Phổ trong chiến cuộc năm 1757 mà một phần là chiến thắng "gần như là lạ thường" ở Leuthen đại phá đạo quân Áo đông gấp ba lần quân đội ông. Và sau này, trong cuộc Chiến tranh Bán đảo, Quận công Wellington - một kiệt tướng Anh Quốc, đã áp dụng chính chiến thuật của Friedrich Đại Đế trong trận hủy diệt quân Áo ở Leuthen và đại phá quân Pháp trong trận Salamanca trứ danh (1812).[286] Trận quyết chiến ở Leuthen trở thành một điển hình của kế nghi binh trong thế kỷ 18 (với thành công rất mực to lớn kết hợp những đòn tấn công nhỏ[13] đã làm nên toàn thắng của vua Phổ), giống như mưu kế của Marlborough trong trận Ramilies (1706) và sau này cũng trở thành một phần quan trọng của chiến lược của Napoléon Bonaparte.[287] Như Thống chế Helmuth Karl Bernhard von Moltke (Moltke Lớn) sau này đã chỉ ra, đoàn quân Áo chọn cứ điểm đằng trước một con sông, mở quá rộng trận tuyến, do đó dễ dàng bị Friedrich Đại Đế nghi binh và đánh cho tan tác thành mây khói. Qua đó, trận đánh máu lửa này khắc họa sự yếu thế của người Áo trong chủ trương phòng vệ.[10] Thời Thế chiến thứ hai, Thống tướng Lục quân Hoa Kỳ -- Dwight D. Eisenhower có phân tích rằng sự tinh nhạy của hai đội hình hàng dọc Phổ là nhân tố quyết định cho đại thắng Leuthen của nhà vua.[287] Với chiến thắng có một không hai tại Leuthen - bố trí tuyệt hảo của quân ông trong trận này được đánh giá là một cuốn sách vàng son giảng dạy chiến thuật này,[225] Dần dà, chiến thắng này được xem là một cuộc chớp nhoáng lớn nhất của thời đại.[106] Vua Friedrich Đại Đế đã trở thành người thực hiện chiến thuật "đánh xiên" thành công nhất trong thế kỷ thứ 18, và cho đến nay chiến thuật này vẫn luôn luôn gắn liền với tên tuổi của ông.[288] Trong các trận giao tranh của Friedrich Đại Đế, không có một trận nào mà vị Quân vương tuyệt đối thành công chiến thuật này như ở trận Leuthen.[207] Sau này, sử sách của Bộ Tổng tham mưu Đức ghi chép rằng trận huyết chiến ở Leuthen là "lần đầu tiên và duy nhất" mà chiến thuật "đánh xiên" của Friedrich Đại Đế "hoàn toàn được tiến hành ngay trước mặt quân thù".[251] Còn theo Delbrück, chính điều ấy với thành công tuyệt đối của nhà vua đã dẫn đến thắng lợi quyết định duy nhất của cuộc hành binh bằng đội hình dọc.[281] Để thực hiện chiến thuật đánh xiên trong cuộc ác chiến này, chính Friedrich Đại Đế cũng kể rằng ông quyết tâm "tránh những lỗi lầm mắc phải trong trận Praha và gây ra chiến bại trong trận Kolín" (theo cuốn Lịch sử cuộc Chiến tranh Bảy Năm của ông sau này).[246] Chiến thắng lẫy lừng ở trận Leuthen không những thể hiện sự rút ra bài học rất chuẩn của ông mà còn thể hiện ông chủ trương tận dụng sự bố trí tuyến quân quá dài của quân Áo để mà xuất binh, làm người Áo không thể chuyển thế trận một khi đã bại, Daun và Karl đã bị đánh úp thì tiêu tan luôn.[63] Song, dù thua to ở các trận như Leuthen và Torgau nhưng Daun kỳ thực là không thể thành công hơn vì Friedrich Đại Đế là một vị thủ lĩnh tối cao luôn táo bạo với ý niệm rằng ông chỉ có thể đánh bại liên quân chống Phổ bằng một loạt đợt hành binh và thắng lợi nhanh chóng. Chính bản thân ông cũng bất ngờ với chiến thắng toàn diện của chiến thuật "đánh xiên" trong trận đánh Leuthen, và từ đây Bộ Tư lệnh Quân đội Phổ mà điển hình là chính ông trở nên tin cậy vào chiến thuật này.[180] Thực chất, ngay trước khi người Áo chịu nếm mùi chiến thuật này ở trận Leuthen thì người Pháp đã phải nếm mùi nó ở trận Roßbach.[121] Nhà sử học, lý luận tài tình J. F. C. Fuller khi so sánh giữa hai trận đánh Roßbach và Leuthen thì ghi nhận:[251]

… chúng thể hiện chiến thuật tấn công dọc sườn lúc tệ nhất và lúc tốt nhất. Tại Roßbach không có Bộ Thống soái; các tướng chỉ huy đều không có kế hoạch … họ chỉ mới học cơ học … chỉ là những người nhái theo cái cơ cấu mà họ không hề hay biết … tại Leuthen, Friedrich di chuyển, tập trung, đột kích và đánh. Sự hợp tác, cũng như sự bố trí giữa ba binh chủng đều hoàn hảo.

—J. F. C. Fuller

Để có được thành công tuyệt đối trong trận Leuthen thì nhà vua đã tổ chức cuộc di chuyển với trật tự thật xuất sắc của lực lượng Bộ Binh - như "những Khẩu đội pháo" di động của ông, chính lực lượng này đã áp đảo quân Áo.[43][224] Vốn bản chất của cuộc chuyển động đã thật táo bạo mà gắn bó son sắt với trí khôn ngoan của nhà vua trong việc bày mưu dẹp địch,[280] và ba quân vẫn hừng hực khí thế hào hùng. Qua đó, quân lực của Friedrich Đại Đế trở thành đội quân duy nhất trên thế giới đã thành công trong cuộc di chuyển đầy gian nan như vậy.[52] Điều này cũng thể hiện khả năng của ông biết dựa vào tiết trời u ám mà hành binh bí mật, qua những lùng cây và đồi núi.[147][289] Cuộc xuất kích này rất mực quan trọng, chứ tung toàn lực đánh vào một cánh không thôi thì chưa đủ để đại thắng[268] - và đây được xem là một cuộc tiến quân quan trọng bậc nhất trong quân sử Phổ - Đức.[290] Với lực lượng quá ít ỏi của nhà vua Friedrich II thì đại thắng tại Leuthen trước người Áo trở nên còn khó thắng hơn trận Cannae, vốn quân Carthage trong trận này còn có hai hàng Kỵ binh hùng mạnh mà quân Phổ không có.[20][16] Đúng hai mươi năm sau chiến thắng Leuthen, Đô đốc Hải quân Hoàng gia AnhGeorge Brydges Rodney, Nam tước Rodney thứ nhất cũng đã áp dụng theo đồ trận Leuthen của nhà vua nước Phổ trong trận thủy chiến Dominica vào năm 1782: vận động khéo léo hơn là tiến công trực diện.[268] Vốn ngay từ trước đó ông đã đột kích và đánh thắng cực nhanh đội Kỵ Binh Áo - Sachsen của Nostitz, điều đó thể hiện đúng đắn tinh thần tiến hành một "cuộc chiến ngắn và dễ" (kurtz und vives) của ông, nhưng cũng rất bạo dạn.[147][236] Thắng lợi này chính là một nhân tố không thể thiếu cho chiến thắng vĩ đại của ông ở trận Leuthen, vì đây là trận thắng báo thù đội Kỵ binh của Nostiz - đạo quân đã đánh bại đội Kỵ Binh Phổ do Tướng Hülsen chỉ huy trong trận Kolín trước kia, và - cùng với hoạt động khôn khéo của ông dựa vào ngọn đồi Schön-Berg[123] - mở đường cho Friedrich Đại Đế chiếm được vị trí thuận lợi không nằm trong tầm mắt của đối phương[53][157], qua đó ông dễ dàng hành quân bí mật.[147] Thành thử tạo nên một sự thật là đối phương ở ngay phía trước ông mà vẫn không biết là vị vua Phổ có tài nghệ thao lược đang hành binh hừng hực khí thế về đánh mình.[123] Chính nhờ học hỏi về chiến thắng tại Leuthen, là việc Friedrich Đại Đế dùng nội tuyến nổi tiếng để đánh bại đối phương,[79] dốc toàn thể quân lực tập trung vào một cánh quân địch, mà Napoléon đã áp dụng thành công nội tuyến để chống lại ngoại tuyến của quân địch đông hơn trong chiến dịch năm 1796 của cuộc Cách mạng Pháp.[291] Tướng Antoine-Henri, Nam tước Jomini của Pháp - vốn hết mực khâm phục chiến thắng Leuthen của Friedrich Đại Đế, xem Napoléon là người thừa kế lối đánh tuyệt hảo của nhà vua nước Phổ trong trận thắng này.[292] Đối với ông, Friedrich Đại đế với lối "đánh xiên" chuẩn như trong trận thắng Leuthen đã mở ra một cơ cấu quân sự mới.[84] Mặc dù Jomini phụng sự cho Quân đội Pháp của Napoléon và ghi chép về các hoạt động quân sự của họ, ông không thể nào từ bỏ ảnh hưởng của sự hiệp đồng binh chủng cần thiết và đặc thù cho Quân đội Phổ dưới thời kỳ vua Friedrich Đại đế. Các binh đoàn của Jomini luôn đồng nhất và ông không hề chủ trương thực hiện một vận động bọc sườn nào khác ngoài việc triển khai toàn thể quân đội ở một cánh theo kiểu Đại Đế Friedrich II tại trận Leuthen. Chiến thắng lớn ở Leuthen đã trở thành một trận đánh tiêu biểu nhất của chiến thuật tuyến vào thế kỷ thứ 18, được ghi nhận là dấu ấn cho sự thành công vô song trong lịch sử của các chiến thuật nổi tiếng của vua Phổ.[108][12][40] Vốn chiến thuật "đánh xiên" là một việc thật khó do đó đòi hỏi quân sĩ phải thực sự kỷ cương mới có thể đạt được thành công rực rỡ như thế[123]. Và, ông cùng đoàn quân tinh nhuệ của ông đã đáp ứng được tất cả những tài năng điêu luyện mà chiến thuật này yêu cầu, làm nên thành công to lớn trong việc áp dụng chiến thuật phức tạp và nổi tiếng này ở Leuthen.[10]

Thật vậy, đại quân Phổ (có tiếng tăm lớn ở châu Âu buổi ấy[12]) nhất là những binh sĩ người xứ Pommern không những có lòng can trường đã thực hiện nề nếp kỷ luật rất nghiêm minh trong trận huyết chiến này, nhờ đó họ đánh thắng đại quân Áo (vốn thật hùng mạnh[30] và đã chiến đấu xuất sắc nhưng tổ chức chiến dịch kém hiệu quả hơn quân đội Phổ), đáp ứng mạnh mẽ tài thao lược của vị vua - chiến binh chỉ huy họ để mà giải cứu giang sơn và giải cứu cả chính ông[37], gây khó địch quân[20] trong thời khắc quyết định.[28][75][201] Mãnh khí sục sôi cùng với kỷ cương xuất sắc đã khiến cho họ đáp ứng xuất sắc được các kế hoạch đầy tham vọng dù chỉ trong một trận[238] thắng "tuyệt tác" [72] của Friedrich Đại Đế và Bộ Chỉ huy - điều mà không đội quân nào trên thế gian có thể làm được, mặc dù dưới chế độ phong kiến ở châu Âu khi ấy những người lính Phổ cùng với nhà vua giành chiến thắng tại các trận Leuthen và Zorndorf cũng như những người lính Áo và Nga thua các trận đánh tàn khốc này đều chỉ là "phận nô tỳ" như nhau mà thôi.[41][114][293] Nhà vua đã dễ dàng tiến các đội hình dọc thẳng về trung quân Áo và chờ đến sát giây phút quyết định, và quân Phổ đã xoay chuyển nhanh đến mức Áo choáng váng chưa thể tung ra đòn nào - chẳng quân đội nước nào khác thi hành được điều này, để rồi đoàn quân Áo đã bị diệt gọn trên chiến trường Leuthen[41][294]. Quân đội Phổ tiến công rất nhanh nhưng không vội vã, và tất tần tật mọi cấp chỉ huy quân Phổ thì vị Trung tướng Driesen cho tới anh Đại úy Möllendorf đều luôn luôn quả quyết thế trận - sự quyết đoán rất đáng nể ấy thể hiện sự tuân thủ tuyệt đối của họ với những lời răn của vị Quân vương, là luôn làm chủ tỉnh thế - mà họ xét đoán chính xác, đúng đắn hơn bất kỳ ai khác.[114][141] Dưới sự thống suất của vị vua - chiến binh hào hùng của mình, quân lính Phổ ào lên tấn công như long trời lở đất và quét tan cường địch mặc dù chiến địa đầy sương mù và băng giá, làm nên chiến thắng vang dội nối tiếp đại thắng Roßbach "trở cờ" sau thảm bại Kolín.[25][45][202] Trung tướng Wedell cũng trở thành sủng thần của Quốc vương nhờ lòng dũng cảm trong cuộc chiến đấu cam go mà thắng lớn tại Leuthen.[240][295] Trong khi đó, Vương công Moritz xứ Anhalt-Dessau được xem là vị tướng phù tá đắc lực nhất cho nhà vua trong trận hội chiến Leuthen.[43] Nhờ công huấn luyện chặt chẽ của Friedrich Đại đế và vua cha Friedrich Wilhelm I, quân Bộ binh kết hợp với quân Pháo binh của ông đã tiến quân một cách tuyệt mực, kinh điển, với trật tực cực cao độ; dù nhiều người lính Bộ binh Phổ đã bắn vô cùng nhanh,[82] đến hơn 180 phát đạn thế mà vẫn cứ xông pha, không vì thiếu hụt đạn dược mà làm mất sự vững mạnh của tuyến quân Phổ - một viên đạn của họ có thể hạ gục đến ba binh sĩ Áo.[91][104][123][224][296] Vốn người Phổ còn có một ưu điểm vượt trội Áo là họ biết dùng que thông nòng sắt, 180 phát đạn liên tiếp của quân Pháo thủ Phổ là một minh chứng cho thấy chiến thắng Leuthen là thành công của họ trong việc áp dụng cây thông nòng sắt vào chiến tranh, cũng như là một chiến thắng điển mẫu về khả năng bắn nhanh và chuyển động nhanh của các Trung đoàn Phổ thời Friedrich Đại Đế[25][104]. Họ đã triển khai que thông nòng sắt hơn 40 năm trước kia và đây là một lợi thế mang tính quyết định của họ.[297] Những chiến thắng ở Mollwitz, Praha, Roßbach và Leuthen đều chứng tỏ rằng quân sĩ dưới quyền Friedrich Đại đế tiếp thu rất tốt bài học mà họ rút ra từ các cuộc diễn tập trên đất kinh kỳ Berlin và Potsdam trong thời bình.[54] Tiểu đoàn Đại Vệ Binh hùng mạnh - một đơn vị Bộ Binh vốn đã được tiên vương Friedrich Wilhelm I năm xưa dày công gầy dựng, đã chiến đấu vinh quang, phá vỡ quân Áo.[298][299] Do đó, vua Friedrich Wilhelm I cũng được xem là người mở đường cho hai trận chiến huy hoàng tại Roßbach và Leuthen, do đó hai trận đánh này phần nào là hai chiến tích của ông.[300] Trận chiến Leuthen cũng như trận Lobositz (1756) và trận Praha (1757) đã thể hiện sức mạnh uy chấn của lực lượng Bộ binh nước Phổ, với khả năng cơ động và chất lượng cao[6], đã chiến đấu quyết liệt và thắng lợi.[147][301] Bên cạnh đó, trận chiến của các binh chủng này không chỉ được xem là một chiến thắng lẫy lừng của kiểu "đánh xiên" (vận độngđột kích) mà Friedrich Đại Đế áp dùng từ Epaminondas[82] mà cũng là một chiến công hết sức hiển hách của lực lượng Kỵ Binh Phổ: chính Kỵ Binh (trong đó có cả những người lính Khinh Kỵ binh đằng sau đội Bộ binh[302]) là lực lượng mở đầu của trận chiến và đã toàn thắng trận này - đóng vai trò quyết định cho đại thắng, với hai cuộc tiến công chiến thuật tràn ngập vinh quang, đầu tiên là chiến công hiển hách của Ziethen đánh bại hoàn toàn cuộc phản công của Kỵ binh Áo từ hướng Bắc, lấy lại cực nhanh vinh quang của đạo quân của ông ngay sau thất bại trong trận Breslau.[24][91][114][147][176] Vốn lực lượng Kỵ Binh Phổ là một đội quân yếu ớt khi tiên vương qua đời vào năm 1740, nhưng nhờ có sự dày công, tận tâm đào luyện và cải tổ[12] của vua Friedrich Đại Đế, đòan Kỵ binh của ông đã trở nên vô cùng hùng mạnh và chiến đấu rất xuất sắc,[201] luôn luôn đập tan tác đối phương trong những trận thắng tiêu biểu nhất như Hohenfriedberg, Lobositz, Leuthen, Zorndorf,…[301][303] Trận Leuthen cũng được xem là một trong những trận chiến quan trọng nhất của Trung đoàn Thiết Kỵ binh dưới quyền Tướng Gustav Albrecht von Schlabrendorff, thể hiện khả năng của họ.[13] Qua đó, không chỉ đem lại vinh quang vô cùng to lớn cho vua Phổ mà toàn thắng Leuthen đã trở thành một đại chiến công táo bạo khẳng định niềm tin của ông vào đội Kỵ binh Phổ hùng hậu[61]. Nếu trong trận thắng quân Nga ở Zorndorf (1758) thì danh tướng Friedrich Wilhelm von Seydlitz đã chỉ huy xuất sắc lực lượng Kỵ Binh thì trong trận Leuthen vị lão tướng Driesen tài ba, với đội hình Kỵ binh thiện chiến đã đập tan nát cánh quân Áo mà quyết định cho chiến công tuyệt đối đè bẹp người Áo của Friedrich Đại Đế.[12][168] Những chiến công hiển hách ở Hohenfriedberg, Kesselsdorf, Roßbach, Leuthen và Zorndorf cũng như các tướng lĩnh tài năng đã làm nên giai đoạn huy hoàng hơn cả trong lịch sử của lực lượng Kỵ binh Phổ - đó là thời đại của Friedrich II. Thanh danh của vị các danh tướng Kỵ binh Phổ như Ziethen - người đã đóng vai trò quyết định cho các trận thắng tại Leuthen và Torgau[131] - đã tăng vọt một phần là nhờ trận đại thắng lịch sử này.[20] Những vị tướng như ông đã góp phần lớn cho niềm tự hào và sự ổn định của xã hội phong kiến Phổ dưới thời kỳ vua Friedrich Đại Đế.[293] Cuộc phản công của ông - với tư cách là chỉ huy đội Kỵ Binh tả quân - là một thắng lợi mang tính quyết định, là bước ngoặt trong suốt cuộc giao chiến long trời lở đất,[43] là đòn sấm vang hoàn toàn phá vỡ tình thế khốn cùng cho Phổ,[57] quét sạch hoàn toàn đội Kỵ binh Áo vốn dĩ khét tiếng hùng cường, mang lại tiếng vang cho ông.[91][141][147] Đã có khi người ta phải khen ngợi lực lượng Kỵ Binh Phổ là "tấn công như một bức trường thành". Chiến thắng rạng rỡ ấy thể hiện tinh thần thực hiện trọng trách của ông với Quốc vương - là một tiêu chuẩn rất đúng mực của tinh thần can đảm và sự huấn luyện ba quân tốt đẹp, qua đó đại quân Phổ đã dùng ưu thế vượt trội của mình về huấn luyện, trật tự, và tinh thần mà báo thù hoàn toàn cho các thất bại trước của mình bằng một chiến thắng quyết định, chứ không hề chần chừ dù có nhiều lý do cho việc này.[114]

Ngoài ra, những cỗ trọng pháo của các khẩu đội pháo mạnh mẽ cũng đóng góp rất lớn cho đại thắng của Quân đội Phổ trong trận Leuthen. Đây là những cỗ đại bác vây hãm nặng khoảng 25 pao, giúp xé lẻ cứ điểm quân Áo, hủy diệt Bộ binh Áo làm nên những chiến thắng vàng son của quân lực Phổ như Hohenfriedberg, Leuthen và Burkersdorf (1762).[284][304] Sự hùng hậu của các cỗ pháo là nhân tố quan trọng hơn cả cho thảm bại của quân Áo trong trận huyết chiến ở khu Giáo đường Leuthen và sự sụp đổ hoàn toàn của "trường thành" này.[32] Kế thừa truyền thống huy hoàng của mình trong trận Roßbach, đội Pháo Binh dưới sự lãnh đạo của Friedrich Đại Đế đã chuyển mình thật nhanh mà tấn công vào cánh bên của đối phương (họ đã có đến ba lần chuyển vị trí[304]) - cuộc tiến công dồn dập của đội Pháo binh Phổ trở thành một trong những điển hình tiêu biểu hơn cả về sức mạnh của Pháo Binh trong thế kỷ thứ 18.[305] Chính nhờ có chiến thuật "đánh xiên" trứ danh của nhà vua khiến đội Pháo binh đã dồn toàn sức mạnh khủng khiếp của mình vào tả quân Áo, băm vỡ các tuyến quân Áo.[282][304] Với cuộc chọc thủng đội tả quân Áo trong đại thắng ở trận Leuthen - được coi là một đệ nhất võ công trong quân sử nhân loại, ông đã đóng góp một mẫu hình kinh điển cho vận động bước ngoặt, cùng với đại thắng của Đại tướng Robert E. Lee của phe Liên minh miền Nam trong trận Chancellorsville (1863) thời Nội chiến Hoa Kỳ, trong khi có ý kiến coi thắng lợi hoàn toàn và quyết định này chẳng kém công tích của Alexandros Đại đế năm xưa (thực chất các đổi mới và chiến thuật của vua nước Phổ ở trận Leuthen có điểm tương đồng rất lớn với chiến thuật của vua Macedonia ở trận Gaugamela).[94][249][306] Và, như một trận đánh kinh điển của tiêu hao đối phương, trận Leuthen cũng được xem là chứng tỏ vận động bọc sườn chỉ gặt hái thành công khi các binh sĩ thực thụ am hiểu nó.[27] Lần Khẩu đội pháo Phổ phá vỡ đống cây chướng ngại và chuyển hướng đã góp phần lớn cho chiến thắng vĩ đại của nhà vua.[61] Không những Pháo Binh đã làm nên vinh quang cho chính mình mà cũng nhờ có sự yểm hộ đắc lực đến mức đó của họ mà lực lượng Bộ Binh - "những bức tường biết đi" và Kỵ Binh[299] đã làm nên kiệt tác xuất sắc này, và làm nên chiến thắng về mặt tinh thần cho ba quân: các chiến binh càng thêm khí chiến đấu khi nghe tiếng đạn pháo diệt địch.[91][32][282] Chính ra, tuy người Áo đã sai lầm khi nghĩ rằng người Phổ sẽ đánh vào hữu quân mình, song khi đại quân Phổ ào lên[43] đánh thốc vào tả quân thì Áo vẫn còn thời gian để chuyển hướng Schwenkung mà đánh bại quân Phổ ít hơn, nhưng cũng nhờ quân Pháo Binh Phổ đã phá tan các tuyến địch mà quân Áo đã rối loạn mà thua đau.[307] Thành thử việc chuyển tầm hướng của người Áo đã hoàn toàn thất bại, được so sánh với hành động tương tự của quan Tổng tài La Mã là Terentius Varro trong trận Cannae (cả hai trận đánh nổi tiếng ấy đều là điển mẫu về thần tốc xuất binh của các bậc danh tướng).[20][125] Ngoài ra, chiến công tiêu diệt quân Áo tại Leuthen đã chấm dứt thái đổ quên lãng Pháo binh của nhà vua Friedrich Đại Đế: vốn trước lúc cơn binh lửa bùng nổ vào năm 1756, Áo và Nga đã cải tổ Pháo Binh, và rồi quyết định sai lầm của Quốc vương là tấn công không có Pháo Binh hậu thuẫn đã dẫn tới chiến bại ở Kolín, thì ông đã quyết tâm củng cố Pháo Binh, và giờ đây chiến thắng rạng rỡ đã khiến cho ông càng xem trọng lực lượng Pháo Binh hơn và sang năm 1758, ông còn bảo rằng tiến đánh mà không có đội Pháo Binh yểm trợ thì không thể nào làm gì được cả.[227][308] Trên đà chiến thắng Leuthen huy hoàng, Friedrich Đại Đế anh tài đã trở thành một vị danh tướng chuyên sử dụng Pháo Binh, theo như một chỉ thị của ông là phải để cho các cỗ pháo "liên tục tiến về phía trước như ở Leuthen" vậy - điều này chứng tỏ đầu óc nhìn xa trông rộng của ông biết thay đổi lối đánh, là một nhân tố hệ trọng giúp nước Phổ giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh. Mãi về sau này, âm vang của những cơn pháo kích dữ dội của quân đội vua Friedrich Đại Đế tại Roßbach và Leuthen hãy còn dội khắp thế giới, như minh chứng cho tầm vóc to lớn của các sự kiện lịch sử này.[63][28][304]

Thực chất, không những là những bước ngoặt quan trọng đầu tiên cho chiến tranh, hai toàn thắng vô cùng ấn tượng ở Roßbach - Leuthen được xem là nằm trong số ít những trận chiến mà thượng lệnh của nhà vua được thực thi hoàn hảo.[74][72][45] Một điểm nữa, với điều kiện khó khăn của chiến tranh thời đó thì một cuộc truy kích sau chiến thắng là rất khó.[32] Nếu như Ziethen và Fouqué truy đuổi sát sao hơn thì hẳn là họ sẽ còn bắt thêm nhiều binh sĩ Áo nữa.[20] Tuy nhiên, cuộc truy sát của họ đã diễn ra thật mạnh mẽ và so với thời đó thì đây được đánh giá là một ngoại lệ: Quân đội Phổ rượt đuổi đối phương với tinh thần kỷ luật nghiêm minh và tiêu diệt quân Áo đến mức mà chưa đầy 1/4 binh lực Áo trở về được an toàn.[31][303] Thậm chí các chiến binh Phổ tinh nhuệ trong trận chiến này còn được đánh giá là dũng mãnh hơn cả danh thơm vốn có của họ.[42] Thực chất, sau đại thắng ở trận Leuthen thì nếu nhà vua nước Phổ có kỹ nghệ chiến tranh hiện đại, có đường sắt, chứ không phải là một đội quân kiểu thế kỷ thứ 18, thì ông còn có thể cất quân tràn như vũ bão vào đất Áo và chiếm đóng cả kinh kỳ Viên[63]. Rốt cuộc, như một trận chiến "tuyệt tác cho thiên tài của ông", trận đại thắng tại Leuthen coi vậy nhưng thể hiện cách dàn trận rất mới mẻ của Friedrich Đại Đế.[309] Và cuối cùng, chí khí trung kiên của Quân đội Phổ thể hiện qua việc sau đại thắng trong trận kịch chiến này, họ đã vang ca khúc hát "Leuthen" trứ danh. Dù có là tín đồ Kháng Cách, dù có là tín đồ phái Phúc Âm, dù có là tín đồ Công giáo, dù có là Ki-tô hữu và dù có là người vô thần đi chăng nữa, khí phách của họ đều dâng trào khi tiếng ca ngân lên.[32] Qua đó, họ tôn vinh ơn huệ của Thiên Chúa, đã ban lại quyền năng cho Quân vương.[32] Sau này, sĩ tốt Phổ sẽ còn hát vang lên bài ca ấy trên bãi chiến trường Kunersdorf đẫm máu (1759), khiến cho bài ca trở nên gắn bó với truyền thống quân sự Phổ.[310] Cũng giống như trận Gettysburg trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, trận đánh khốc liệt tại Leuthen đã mang lại cho Nhà vua và Quân đội Phổ một chiến thắng quang vinh và uy dũng về mặt tinh thần (thực chất quân sĩ Phổ đã thể hiện tiến bộ vượt bậc bằng sự tận diệt đạo quân Áo khổng lồ trong trận thắng "tuyệt tác" của vua Phổ tại Leuthen đưa ông lên hàng Nhà chỉ huy vĩ đại thế giới[16]). Cũng giống như Binh đoàn Potomac trong trận huyết chiến tại Gettysburg, Quân đội Phổ đã chiến đấu hết mình và kể từ đây, Friedrich Đại Đế cùng các võ tướng của ông luôn tin tưởng rằng một ngày nào đó mình có thể đại thắng một trận lớn hơn cả Leuthen để hoàn toàn chấm dứt chiến tranh.[13][32] Như vậy là thế mạnh tinh thần của nhà vua, vốn có từ cuộc chinh phạt Schlesien lần đầu tiên hồi năm 1740, đã được gia tăng nhờ hai trận thắng lớn thật uy lẫm và áp đảo tại Roßbach - Leuthen - thực sự là hai thắng lợi duy nhất có thể chặn đứng quân Đồng minh chống Phổ khi ấy và cũng là hai đại thắng gây cho các địch thủ của ông phải choáng ngợp.[25][256] Mặc dù hai thắng lợi lớn lao của vị vua nước Phổ hoàn toàn chưa thể quyết định cuộc chiến tranh với lợi thế của ông, đó là những chiến thắng đã giữ vững hoàn toàn ngôi vị cường quốc của nước Phổ bé nhỏ. Trong trận thư hùng Leuthen toàn thắng, cũng như trong cả cuộc "Chiến tranh thế giới" Bảy năm này, không chỉ nhà vua được xác nhận là nhà quân sự thiên tài mà Quân đội Phổ đã thể hiện uy dũng sức mạnh đánh tan tác các đoàn quân địch có quân số áp đảo và vượt qua mọi trở ngại, đó là nhờ sự dày công của các vua nước Phổ gầy dựng đoàn quân hùng mạnh đứng thứ tư ở châu Âu, dù dân số Phổ chỉ đứng thứ 13.[28][16][189] Có thể thấy, họ đã đột chiếm được khu nghĩa trang Nhà thờ làng Leuthen và giành chiến thắng lẫy lừng trước đoàn quân Áo khổng lồ kia ngay trên đất Hạ Schliesen. Vua Friedrich II với chiến thắng này vẫn tiếp tục tìm kiếm một thắng lợi mang tính chính trị trên trận tiền. Trong suốt cả cuộc Thế chiến Bảy Năm này, ông vẫn mãi mãi là Tổng tư lệnh tối cao của ba quân, và đối với ông giờ đây không có một thất bại quân sự với chả ngoại giao nào có thể hạ được người Phổ, và sau thắng lợi quyết định ở Leuthen ông không những tiếp tục cuộc chiến chinh của mình mà cũng củng cố chính sách ngoại giao thành công của ông.[110][32][311] Sự kiên cường của ông đã "vô hiệu hóa" mọi chiến bại có thể làm hại đến vinh quang của những thắng lợi quân sự quan trọng ở Roßbach và Leuthen (chẳng hạn như ông đã từng bị quân Áo đánh bại trong trận Hochkirch sau hai thắng lợi quân sự này và chính hai chiến thắng huy hoàng này cũng đã giải cứu ông khỏi tình thế "ngàn cân treo sợi tóc")[16][312]. Những chiến thắng của ông sau thắng lợi quan trọng[61] ở trận Leuthen đã khiến cho chiến thắng ấy - vốn dĩ là một thắng lợi tiêu biểu của ông trong chiến tranh - càng thêm mỹ mãn.[59]

Sự hợp tác thật tuyệt hảo… Vậy nhưng, trên hết mọi thứ, cái đã mang lại chiến thắng cho Friedrich là niềm tin của các võ tướng vào phép cầm binh của ông. Cho dầu sau đại thắng này cuộc chiến tranh vẫn tiếp diễn trong vòng 5 nữa, bất chấp những thảm kịch mà Friedrich phải hứng chịu trong thời gian đó ông đã vươn lên từ cuộc tranh đấu Bảy Năm như một vị tướng vĩ đại nhất của thời đại của ông, và là một trong số ít những Nhà chỉ huy vĩ đại của mọi thời đại.

—J. F. C. Fuller[150]

Những hệ quả khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến thắng huy hoàng, nhà vua nước Phổ đã lệnh cho Vương đệ Heinrich đem tin thắng lợi tới Trung tướng Friedrich Wilhelm von Seydlitz - vị công thần của trận Roßbach trước đó. Seydlitz, bấy giờ đang nghỉ dưỡng ở Sachsen, tỏ ra rất hoan hỉ trước đại thắng của nhà vua tại Schlesien.[313] Trên thực tế, trận đại thắng máu lửa và oanh liệt[78] tại Leuthen chẳng những đại phá quân tướng Áo mà còn khiến cho nhà vua Friedrich Đại Đế làm chủ trọn vẹn được mọi đất đai mà ông nắm giữ trong năm 1756, và mang lại đầy hy vọng cho ông tiếp tục cuộc chinh chiến[105][10]. Thực chất, chỉ mỗi loạt đại thắng Roßbach - Leuthen được xem là đã cải thiện tình hình khối Đồng minh của người Phổ trong giai đoạn này. Sau chiến thắng vinh quang này, nước Phổ vững an,[97] thì kết cái năm vàng son 1757 với đại thắng của nước Phổ, tiếng tăm của vua Friedrich Đại Đế trở nên lẫy lừng hơn bao giờ hết với cả bạn lẫn thù.[88][123] Thiếu tá Grant Dungulas - một Sĩ quan tài năng người Scotland đã chiến đấu mãnh liệt cho vua Phổ trong trận đánh ở Kolín, chính là người mang tin chiến thắng tại Leuthen đến nước Anh.[314] Không những nước Phổ đã được giải phóng khỏi nguy cơ thất bại chóng vánh và làm chủ toàn tỉnh Schliesen,[30] chiến thắng kỳ diệu này đã gây bất lợi cho đồng minh của Áo là Pháp, qua đó quyết định Canada sẽ trở thành thuộc địa của Đế quốc Anh trong cuộc Chiến tranh Pháp và người Da đỏBắc Mỹ. Nếu như không có chiến thắng này, có nhẽ người Pháp sẽ chiếm được xứ Hanover ở Tây Đức và Canada ở Bắc Mỹ, dễ dàng hỗ trợ sớm cho cuộc Cách mạng Mỹ về sau:[315] Số là, được sự cỗ vũ của hai chiến thắng hoành tá tràng của Quân đội Phổ trước quân Liên minh Pháp - Đức và đại binh Áo (nhất là chiến thắng rực rỡ tại Leuthen trước quân Áo), Anh Quốc không những đã từng xé bỏ thỏa ước Kloster-Zeven ký với Pháp sau chiến bại trong trận Hastenbeck hồi tháng 7 năm 1757 mà sẽ còn leo thang chiến tranh.[30] Quân Áo tan tác rồi, nước Phổ hùng hậu, thắng trận, trở thành một đàn anh trong các nước châu Âu, với vinh hiển rất lớn. Và, một khi vinh quang của nước Phổ đã được phục hưng sau một loạt chiến bại bằng hai chiến thắng vẻ vang tại Roßbach và Leuthen, người Anh đã có thể tập trung binh lực và tổ chức các chiến dịch tấn công Canada với không chút âu phiền.[78][18][289] Ngoài ra, Chính phủ Thụy Điển - đồng minh của Áo - cũng vô cùng thất vọng, theo như người em gái yêu dấu của Friedrich Đại Đế là Hoàng hậu Ulkira Eleonora của Thụy Điển kể lại cho ông.[316] Pháp cũng thế: loạt thảm bại ở chiến trường châu Âu đặc biệt là trận thua to tại Roßbach nhanh chóng được nối tiếp bằng trận thua lớn của người Áo ở Leuthen chứng tỏ cuộc chiến tranh hãy còn dài và tốn kém về nhân lực và ngân sách, và thậm chí Bộ trưởng Bộ Ngoại giao - Hồng y François-Joachim de Pierre de Bernis còn cảm thấy rằng người Pháp nên rời khỏi cuộc chiến.[317] Nhưng, bất chấp hai chiến thắng của vua nước Phổ tại Roßbach và Leuthen, "ái phi" của vua Louis XV của PhápNữ Hầu tước Pompadour cả giận đã huyền chức Bernis và thay thế ông bằng Étienne François de Choiseul, Quận công Choiseul - có lẽ là nhân tài duy nhất mà bà trọng dụng. Thanh danh của Friedrich Đại Đế nổi vang như cồn, với danh dự nhờ có chí lớn, với một loạt đợt tiến quân thần tốc và huy hoàng (mà trong đó có cả chiến thắng vĩ đại tại Leuthen được coi là chiến tích oai lẫm hơn cả dưới triều ông[116]), đã chiến thắng cả khối Liên minh chống Phổ, làm nên bước tiến thắng lợi từ hai thắng lợi quân sự ấy.[25][83][18]

Tuy Hoàng hậu Maria Theresia có lời cầu nguyện trước tình cảnh thảm bại thê lương của đạo quân khổng lồ của bà: "Mong Chúa sẽ có lòng trắc ẩn cho chúng ta và tiêu diệt thằng quỷ sứ ấy", các đoàn quân dũng mãnh của vị vua Phổ hùng anh đã vượt tất mọi nguy nan và toàn thắng giai đoạn đầu cuộc chiến sau chiến thắng lừng vang này, lại còn nắm trọn thế mạnh trên đà thắng to, với đất nước sạch bóng ngoại bang và đồng minh của Phổ đạt lợi ích lớn.[100][30][116] Như một trận thắng lớn mang ý nghĩa trở cờ, trận thư hùng ác liệt ở Leuthen là một đóng góp xuất sắc cho danh tiếng uy chấn vốn có của Friedrich Đại Đế,[289][318] củng cố hoàn toàn rằng ông là vị lãnh đạo quân sự xuất sắc nhất trên toàn cõi Âu châu, khiến cho tiếng tăm của ông còn nức tiếng hơn trước,[319] bao trùm toàn thể thế giới.[205][319] Chí ít, với hai trận đại thắng[12] Roßbach và Leuthen hoàn toàn nhục mạ cường địch, ông trở nên vị tài tướng số một của châu Âu kể từ sau thời Marlborough.[237] Hai chiến thắng vẻ vang này cũng mang lại danh tiếng cho lực lượng Quân đội Phổ như một đội quân thiện chiến nhất của châu Âu.[320] Với hai chiến thắng rạng rỡ của ông trong chiến dịch năm 1757 mà nhất là thắng lợi vang dội trước quân Áo tại Leuthen, cả thế giới đều phải chấn động, và hâm mộ, vì quá bất ngờ hơn hẳn những gì họ nghĩ. Trên khắp thế giới, ai nấy đều kinh ngạc ông hơn bất kỳ lúc nào hết, do tuy trước năm 1757 họ xem ông như một vị chủ tướng xuất sắc và nắm trong tay một đoàn nhuệ binh, họ chưa hề nghĩ rằng ông có thể đánh lại được cả châu Âu như vậy. Chiến dịch năm 1757 trở nên rực rỡ và không thể nào quên trong lịch sử, gắn liền với ba thắng lợi to tát của nhà vua Phổ bất bại cùng với các đạo quân trăm thắng tại Praha, Roßbach và Leuthen.[88][100][102][194] Ai ai cũng thừa nhận rằng thế giới thời cận đại không hề có một nhà cầm quân nào xuất sắc, nhạy bén hơn ông cả.[179] Giờ đây, ông là danh nhân lớn nhất trên khắp cõi Âu châu.[321] Sĩ quan tất cả các quân đội ở châu Âu đều lần mò, học hỏi về trận chiến kinh điển của ông, về tính bất ngờ, tốc độ nhanh chóng và chiến thuật đánh xiên của lực lượng Quân đội Phổ trong trận này.[13] Ngay từ trận thắng lừng lẫy ở Roßbach thì làn sóng hâm mộ ông đã lan tràn mãnh liệt trên toàn cõi nước Anh, lan truyền ra đến tận thuộc địa của Đế quốc Thực dân Anh ở Bắc Mỹ. Tại Pennsylvania, người ta dự định lập nên một quán rượu mang tên "Đức Vua nước Phổ" (King of Prussia), nhưng nhân dân Anh còn mến mộ ông như thể ông là vua nước Anh.[23][62] Chiến thắng này lại tiếp lửa cho trận Leuthen khốc liệt.[322] Lãnh đạo của Hội Giám lýGeorge Whitefield làm tạ ơn Thiên Chúa vì hai chiến thắng vẻ vang của nhà vua nước Phổ. Giới tăng lữ nước Anh kính yêu ông tới mức luôn thuyết giáo rằng vị anh hùng của nước Anh - vua Friedrich Đại Đế của nước Phổ, đã chiến thắng trong cuộc chiến đấu bảo vệ đức tin Kháng Cách.[116][149] Các chân dung của Friedrich Đại Đế cũng được treo đầy ở nhà cửa và tiệm bán tại thủ đô Luân ĐônWestminster. Thậm chí cứ mỗi 20 bức tranh chân dung ông mới có được một bức tranh vua George II của Anh khi ấy, và người ta đã bán được đến hàng trăm bản thảo chân dung của vị vua nước Phổ mà họ yêu quý.[78][210] Dân chúng Luân Đôn thán phục thiên tài xuất sắc của ông.[116] Người Anh cũng nhiệt huyết chẳng kém người Đức tị nào và lễ mừng thọ vua Phổ được tổ chức trang trọng, hân hoan chẳng kém gì lễ mừng thọ vua Anh vậy, và vô vàn ngưỡng mộ lực lượng Quân đội Phổ đã đánh tan tành quân Pháp cùng với quân Áo và giành thắng lợi trong cả chiến dịch.[61][210] Giờ đây lịch sử Anh Quốc đã có thêm một vị anh hùng nữa[196]. Qua đó, Quân đội Phổ trở nên oai danh lừng lẫy trên khắp cõi Âu châu vì đại thắng của họ[323]. Nhiều người lính Anh trẻ tuổi cũng tình nguyện sang Đức để xin được "thọ giáo" vua Phổ về binh cách, dù đây là điều khó học do kỷ cương chặt chẽ của người Phổ.[205] Dù sao đây nữa, bên cạnh mọi ý nghĩa trọng đại của chiến công hiển hách tại Leuthen, vị vua lớn của nước Phổ qua chiến thắng này đã hình thành một "ngôi trường" cho giới quân nhân đương khi ấy.[110] Phần lớn sự mừng rỡ này mang nặng màu sắc tôn giáo hơn là chính trị: người Anh tôn vinh ông là vị anh hùng của đức tin Kháng Cách, đã chiến đấu và chiến thắng các cường quốc Công giáo như Áo và Pháp.[210] Điều đáng lưu ý ở đây là thực chất ông là một vị vua khuyển nho mang nặng tư tưởng bất khả tri (Agnostizismus), vậy mà đã trở thành bậc anh hùng của Kháng Cách, như có người nói sau hai trận đại phá Pháp và Áo: "Và mọi người Kháng Cách đều nguyện cầu - Đức Vua nước Phổ vạn tuế".[149] Có nhẽ, vị vua nước Phổ - "Nhà chinh phạt của Roßbach và Leuthen" vô thần này sẽ mỉm cười khi "dân đảo" Anh vô cùng mến mộ ông đến mức phải ca tụng ông là người anh hùng Kháng Cách. Và, hình ảnh cao đẹp của vị Quân vương anh hùng nước Phổ - được xem là một bậc anh quân thánh chúa[196] và thiên tài chuẩn mực hơn cả trong lịch sử Cận đại - sẽ luôn được Anh Quốc mến mộ, yêu dấu không kém gì người Đức, mãi cho đến khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ vào năm 1914 (lúc ấy người Anh lại đề cao hình ảnh của vua George V và Thống chế Horatia Herbert Kitchener).[324][325] Rốt cuộc, người Anh không những hậu thuẫn cho ông chiến thắng về mặt tài chính mà còn về tinh thần, sau chiến thắng oai hùng của ông ở trận Leuthen.[83] Cuộc chinh phạt quân Áo tại Leuthen đã giành thắng to, khiến cho vị vua - đại anh hùng nước Phổ giữa ánh hào quang hùng tráng, được nhiều quốc gia Kháng Cách ủng hộ nồng nhiệt, dẫu cho họ đều là kẻ cựu thù của ông.[326] Không những tinh thần "Ái Phổ" lan rộng trên khắp cõi Âu châu, mà còn ngay tại Vương quốc Phổ. Thần dân Berlin rộn ràng mừng vui, hân hoan những chiến công rực rỡ của nhà vua - giờ đây là vị anh hùng lớn của quân đội Phổ. Trên mọi nẻo đường phố kinh thành, vẻ tưng bừng sướng sung hiện lên trên từng nét mặt; phụ nữ và trẻ em Phổ nức nở ngợi khen Quân vương.[173][8]

Nhân dân Đức hào khí lên cao, họ tôn vinh ông như một bậc đại anh hùng dân tộc, kế thừa những năm tháng hào hùng của Arminius (Hermann), CharlemagneFriedrich I Barbarossa. Như có sách ghi nhận, ông không chỉ là người anh hùng của hai trận chiến tại Roßbach và Leuthen, mà còn là vị "bán thần" của vùng đất xuyên suốt từ sông Rhine cho đến sông Wesek trong thế kỷ ấy.ref name="russell147"/> Trong khi toàn thể nước Đức tự hào vì ông là vị vua đã quét sạch quân Croatia tại trận Leuthen và quân Pháp tại trận Roßbach, lần đầu tiên sau hàng thế kỷ người Đức lại có thêm một vị "Quốc phụ Teuton" (Teutonica Patrica), do đó dù khi ấy một quốc gia của người Đức chưa thể được hình thành nhưng Phổ đã có thể được xem là Đức và gắn liền với vận mệnh của Đức. Đến cả kinh đô Constantinopolis của Đế quốc Ottoman, trên khắp phố phường tràn ngập niềm hâm mộ đại thắng của Quốc vương nước Phổ. Thị dân khắp Constantinopolis hô to "Brandenburg ! Brandenburg".[8] Mọi nhà nghiên cứu binh thư khắp nơi trên thế giới phải ngạc nhiên rất cao độ và thán phục vị vua Phổ mưu lược với những chiến công hiển hách.[51][23]

Lại nói, trong khi đem lại vinh dự và xóa tan mọi khó khăn ban đầu của ông vua dũng lược đầy thành đạt Friedrich Đại Đế,[25][63][116] chiến công giải phóng nước Phổ này cho thấy khó khăn vô vàn của Nhà nước phong kiến Áo trong cuộc chiến tranh.[327] Sự kém cỏi của nước Áo trong việc liên kết với các nước đồng minh và bất lực trước nội tuyến điển mẫu của vua Phổ đã mang lại cho họ những đại thảm họa như thế[78]. Đây không phải là lần duy nhất mà ông mau chóng thừa cơ, áp dụng nội tuyến xuất sắc để mà phá tan cường địch trong hàng loạt thắng lợi lớn mà giữ nước[78][27][12][325][328]; sức mạnh vô biên của Liên minh chống Phổ đã bị gần như bị hủy diệt hoàn toàn bởi tài thao lược của vị vua anh tài Friedrich Đại Đế vượt trội đối phương.[102][2] Thất bại ê chề, là đại bại trước một đoàn quân bé nhỏ hơn,[13] mang theo sự cay đắng khủng khiếp ở thành Viên đã khiến cho Triều đình Áo phải tiến hành một công cuộc hết sức gian khó là tái xây dựng Quân đội Áo: vốn tài dụng binh lỗi lạc của nhà vua cùng với lầm lỗi trầm trọng của Bộ Chỉ huy quân Áo đã khiến cho quân Phổ giành thắng lợi lớn, nên người Áo cần phải cải cách mạnh tay.[329] Vốn đã thua nặng, nhuệ khí ba quân đã hoàn toàn suy sụp.[103] Trong khi ấy, vua Phổ nhờ thắng trận vang danh mà làm vang động lòng người, nên có thêm hàng loạt binh sĩ tình nguyện gia nhập tam quân. Chưa kể, ông cũng phát lệnh cho tù binh các nước chống Phổ nhập ngũ trong toàn quân. Toàn dân Áo đều đau lòng, quân Áo đã phải trả giá cho sự chủ quan của họ bằng máu.[252] Vốn đã có tiếng vang khắp thế giới làm cho cả kẻ thù và bạn hữu đều nồng nhiệt vinh danh ông, hai chiến thắng oai hùng ở Roßbach và Leuthen đã mang lại thêm thời gian cho nhà vua nước Phổ.[32] Nhưng, những gian truân đó là dịp để Maria Theresia bộc lộ hào khí cùng với lòng kiên dũng của bà: sau khi vị Hoàng hậu hùng cường ấy bị ông vua hùng mạnh kia đánh cho đại bại trên đất Phổ của ông, bà vẫn rắp tâm theo đuổi cuộc chiến tranh, không chịu thua hay làm hòa với ông đồng thời bắt đầu cuộc cải tổ lớn trong Quân đội Áo.[2][141][329] Thảm bại ở Leuthen của quân Áo tiếp ngay sau đại bại tại Roßbach của quân Pháp chỉ tạm thời làm suy giảm sự cuồng nhiệt của bà với chiến tranh. Một Bộ Tổng Tham mưu "hàng đầu" của quân Áo được thiết lập, trong khi Karl, người đã bị Friedrich Đại Đế đánh cho tơi bời tại Leuthen ngay sau khi thắng trận tại Breslau, bị huyền chức và phải nhường toàn bộ quyền Tư lệnh cho Bá tước Daun - làm tiêu tùng sự nghiệp đáng nể của Karl, trong khi chính Daun là vị tướng thắng trận Kolín và đã phải chịu đòn phục hận của vua nước Phổ tại Leuthen.[41][63][329] Tuy là một viên tướng khá giỏi nhưng Karl đã quá nhiều lần bị nhà quân sự thiên tài Friedrich Đại Đế đánh bại (rõ ràng, thất bại thê lương ở trận Leuthen là một lầm lỗi không thể tha thứ đối với ông[330]), và ông đành phải lui về xứ Bỉ.[179] Được phong làm Tổng đốc vùng này, vị bại tướng nhục nhã này đã sinh sống thầm lặng trong suốt quãng đời con lại của ông.[63] Nadasty - một tướng giỏi của Áo, sau chiến bại ở Leuthen cũng phải bỏ về.[103] Đồng thời, người Nga cũng tham chiến tích cực hơn trước.[331]

Nhưng trước khó khăn đó thì thắng lợi định đoạt rõ ràng của ông trong trận thư hùng tại Leuthen đã trở thành một điểm ngoặt hệ trọng cho chiến cuộc, và cũng là thắng lợi hiển hách về mặt ngoại giao của Friedrich Đại Đế, khẳng định đường lối vệ quốc đúng đắn của ông luôn luôn giữ yên non sông và phá tan quân xâm lược đông mạnh.[51][63][17][11][304] Trước các chiến tích rạng rỡ và lòng can trường bất khuất của ông,[116][18] người đời truyền miệng nhau các giai thoại về bậc Đại Đế bất khả chiến bại này.[23] Không chỉ người Phổ mới mến trọng ông vua chiến thắng, lãnh đạo Hạ Nghị viện AnhWilliam Pitt, Bá tước thứ nhất của Chatham rất ngưỡng mộ ông và coi ông là bậc thầy chiến sự, do đó Pitt đã hỗ trợ tận tình cho nước Phổ đến không ngờ.[309][326] Ông tin chắc rằng những thắng lợi định đoạt như vậy của Friedrich Đại Đế đã khiến cho thực dân Pháp bị suy kiệt đến mức chỉ có thể kháng cự yếu ớt tại Bắc Mỹ.[231] Khi bất ngờ trước chiến thắng lừng lẫy của vua Phổ, Pitt đã thốt lên:[43]

William Pitt, Bá tước thứ nhất của Chatham, sau là Thủ tướng Anh. Lòng thán phục nhiệt liệt của ông đối với những chiến công oanh liệt của vua Phổ là một yếu tố quan trọng cho việc thắt chặt Liên minh Anh - Phổ của ông.[18][64]
Rồi châu Mỹ sẽ được chinh phạt qua Đức.

—William Pitt Già, ý nói thiên tài quân sự Friedrich Đại Đế sẽ đẩy Pháp và Đồng minh vào thế cù cưa trên lục địa châu Âu, giúp Đế quốc Anh toàn thắng thực dân Pháp ở Mỹ châu trong khi quân Pháp bị khánh kiệt ở nước Đức[43][325]

Tôi có niềm chân thành để ngưỡng mộ nhiệt tâm và tôn vinh vị Quân vương bảo vệ một bức tường thành bất diệt của Âu châu, đánh lại cả một Liên minh lớn nhất đã từng đe dọa tới nền độc lập của nhân loại.

—William Pitt Già[94]

Tóm lại, người Anh đã vững tin và hình thành sách lược tấn công Bắc Mỹ trong khi vị minh quân Phổ với năng lực phi thường đánh bại cả Liên minh các liệt cường ở lục địa châu Âu, dùng thiên tài của ông và sự tinh nhuệ của quân đội ông để mà đánh những trận kinh hoàng mang tầm cỡ Leuthen (có sách nói, các đại thắng Roßbach - Leuthen là câu trả lời của vua Phổ với niềm tin của Chính phủ Anh vào khả năng ấy của ông).[24] Pitt Già đã khẳng định tài dụng quân và thắng lợi chắc chắn của Friedrich Đại Đế với các cấp chính quyền và nhân dân Anh, họ lại khẳng định điều ấy với ông.[45][257] Loạt thắng lợi quan trọng tại Roßbach - Leuthen cùng những vận động khéo léo của nhà vua tài năng và hùng binh mãnh tướng Phổ mang ý nghĩa định đoạt không chỉ phá tan vòng vây của phe Liên minh, mà còn cùng với chiến thắng của thực dân Anh trong trận Plassey tại Ấn Độ là những tin tốt nhất cho khối Liên minh Anh-Phổ trong năm ấy.[25][100][108][111] Ba chiến thắng ấy qua đó đã khiến cho năm 1757 trở nên chói lọi đối với Liên minh Anh - Phổ. Đại thắng vinh quang của người Phổ trong trận Leuthen đánh tan quân Áo không những mang lại dồi dào chiến lợi phẩm cho vị vua lớn - kiệt tướng Phổ.[51][11][12] Được cỗ võ bởi hai chiến thắng lừng lẫy của người Phổ ở Roßbach và Leuthen,[332] nước Anh ký kết với Phổ một Thỏa ước vào ngày 11 tháng 4 năm 1758 theo đó họ viện trợ cho họ một khoản tiền rất lớn đồng thời khối Liên minh các bang Tây Đức được hình thành, cùng với một Tiểu đoàn Anh giúp nước Phổ đánh đuổi quân Pháp.[333] Niềm tin của người Anh vào tài điều binh của vị quốc trưởng Phổ đã trở thành hiện thực, khiến cho giá trị của khoản viện trợ và quân trợ chiến của họ được gia tăng.[43] Quân Đồng minh Tây Đức do một vị Thống chế Phổ là Vương công Ferdinand xứ Brunswick thống suất đánh đâu thắng đó. Friedrich Đại Đế trên thế thượng phong cũng hạ nốt được thành Schweidnitz mà nối tiếp toàn thắng.[100][141] Khoản viện trợ của Anh là một yếu tố quan trọng để Phổ tiếp tục chiến đấu sau trận thắng ở Leuthen.[78] Nhưng khi ông tiến đánh xứ Mähren (vốn Daun đã kéo binh về đây sau khi vua Phổ giành thắng lợi quyết định tại Leuthen[63]) thì không thành do Daun đã rút kinh nghiệm đúng đắn từ trận Leuthen: ông không đánh trực diện với vua Phổ mà chỉ dùng các đội Khinh binh để phá hoại tiếp tế của quân lực Phổ.[28] Ngoài ra, vào đầu năm 1758, quân đội của Friedrich Đại đế cũng không còn có những người lính thiện chiến từng vào sinh ra tử trong các trận chiến tại Praha, Roßbach và Leuthen. Do đó, tình hình cũng cho thấy là ông khó thể gặt hái thành công tầm cỡ năm ngoái được nữa - điều đó luôn luôn là tình trạng của một nước nhỏ phải gánh chịu một cuộc chiến tranh trong vòng nhiều năm, giống như vua Pyrros của Ipiros trong cuộc chiến tranh cùng tên năm xưa vậy[23]. Tuy nhiên, sau thành công điển hình tại Leuthen, chiến thuật "đánh xiên" đặc trưng của Friedrich Đại đế một lần nữa mang lại đại thắng cứu nguy nước Phổ cho ông trong trận huyết chiến kế tiếp ở Zorndorf đánh đuổi quân Nga vào cuối tháng 8 năm 1758, một lần nữa ông phá tan cường binh và mở rộng thành quả quân sự vô cùng huy hoàng của ông buổi ấy khiến cả châu Âu phải công nhận ông là một trong những vị tướng giỏi nhất trên thế gian.[74][20][21][12] Chiến thắng lớn này khơi mào từ việc Nữ hoàng Elizaveta của Nga can thiệp mạnh hơn vào cuộc chiến khi thấy nước Phổ uy dũng đã hạ đo ván được Pháp, Áo,… và làm nên tiếng tăm rất lớn của ông vua-thiên tài, và chính quyết định đó của bà đã khơi dậy tinh thần của người Áo và Pháp sau khi bị nhà vua Friedrich II đánh cho tơi tả trong hai trận chiến tại Roßbach và Leuthen.[12][183] Rõ ràng, trận thắng to ở Zorndorf là sự tiếp nối vinh quang cho loạt toàn thắng tại Roßbach - Leuthen của ông[333], hoàn tất hàng loạt đại thắng huy hoàng và nhanh gọn của ông trong các năm 1757 – 1758 quét sạch hoàn toàn quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi nước Phổ[12][80]. Không những phấn khích sinh khí của thần dân nước Phổ và khiến cho người Anh nồng nhiệt ngưỡng mộ ông, ba chiến thắng lớn này của ông với các đợt hành chinh thần tốc đã khiến cho quân Liên minh chống Phổ không thể nào hợp nhất. Nhưng ngay chiến thắng to lớn này đã thể hiện một đặc điểm của nhà vua-danh tướng[78] Friedrich Đại Đế là quá cả tin vào chiến thuật "đánh xiên", sau chiến thắng Leuthen vang dội.[223][80] Dù sao chăng nữa thì nhờ có đại thắng vinh hiển trong trận chiến Leuthen mà ông nắm quyền chủ động trong suốt chiến dịch năm 1758.[246] Và, những thắng lợi của phe Đồng minh Anh - Phổ trong đó có những đòn giáng mạnh bạo của vua Phổ với tài dụng binh lỗi lạc của ông mà tiêu biểu là hai đại thắng ở Roßbach và Leuthen đã khiến cho việc xâm lược nước Anh trở thành một cơ hội cuối cùng của Triều đình Pháp. Nhưng càng về sau này, người Áo đã học hỏi được chiến thuật "đánh xiên" của ông và qua đó nó dễ dàng bị ngăn ngừa, giữa lúc quân Bộ binh siêu hạng của ông đều đã ngã xuống trên cả chiến địa Praha, Kolín, Leuthen, Kunersdorf và Torgau. Song, cũng thay đổi chiến thuật, trong đó ông xem trọng những đội hình phân tán - đã mang lại chiến thắng quyết định cho ông trong trận Burkersdorf vào năm 1762.[196][334] Với sự tồn vững và toàn thắng của nước Phổ vào năm 1763 thì Vương quốc mạnh mẽ này đã giữ nguyên lãnh thổ trong đó có Schliesen, củng cố vai trò liệt cường hàng đầu của Âu châu và trở nên nổi tiếng như cồn, định đoạt rất lớn cho nước Đức giữa lúc Đế quốc La Mã Thần thánh suy yếu:[91][85][12][335] chính đại tài lược thao của nhà vua Friedrich Đại Đế là một nhân tố quyết định chiến thắng "thần kỳ" của nước Phổ trong cuộc Thế chiến này, mà đại thắng ở trận Leuthen đã thể hiện rõ rệt nhất.[63][336][337] Chiến thắng ấy góp phần khiến cho tiếng thơm của ông lan khắp thế giới khi chiến tranh kết thúc, trong khi thắng lợi của ông trong cuộc chiến góp phần khẳng định ông không chỉ là một chiến binh kỳ cựu mà còn là một Tư lệnh giỏi giang, sáng suốt và bền bỉ.[27][337][337] Thiên tài quân sự của ông khi ấy được xem là độc nhất vô nhị. Những trận thắng quan trọng, hay chiến dịch ngoạn mục của ông trong Chiến tranh Bảy Năm tranh bá nước Đức - một cuộc "Chiến tranh thế giới" hồi đó - mà điển hình là trận thắng lớn tại Leuthen với ảnh hưởng không nhỏ về cả chiến thuật lẫn chiến lược đã xác nhận ông là một trong những vị chủ tướng và nhà chiến lược xuất sắc, vĩ đại hơn cả trong suốt chiều dài lịch sử quân sự của thế kỷ thứ 18 nói riêng và của cả thế giới nói chung, thể hiện sức mạnh của ông và nước Phổ địch lại được nhiều cường quốc châu Âu.[85][11][187][338] Tài dụng binh như thần cùng với sự kiên quyết và thắng lợi của ông trong Chiến tranh Bảy năm được xem là những yếu tố đưa Phổ lên thành đại quốc sánh vai với các nước mạnh hơn. Ông trở thành một vị anh hùng huyền thoại, bách thắng của dân tộc Teuton, là danh nhân đầu tiên của thời cận đại, là "Người thắng trận Leuthen" vang dội thức tỉnh cả dân tộc.[82][119][125]

Sau khi đánh tan tành đại binh Áo ở Leuthen và giành lại Schliesen như một "phần thưởng của hòa bình", Friedrich Đại Đế bắt tay vào công cuộc tái tổ chức toàn tỉnh.[9] Trong thập niên 1780, tân Hoàng đế La Mã Thần thánh - Đại Công tước Áo là Joseph II đã tổ chức cuộc canh tân lớn, dựa theo yêu cầu cấp thiết đối với việc cải cách nước Áo sau thảm bại ở Leuthen trước một láng giềng hùng mạnh có nguồn nguyên liệu (kể cả về mặt quân sự) ít hơn dù trước đó Áo đã có nhiều đổi thay[25]. Khác với những trận chiến khác trong lịch sử, hai chiến thắng rực rỡ của ông tại trận Roßbach và Leuthen - hai đại thắng cứu quốc của một đoàn binh nhỏ bé chấn vang toàn cầu và được coi là hai thắng lợi vĩ đaị nhất trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm đã gắn bó chặt chẽ với niềm vinh dự to lớn của ông và thể hiện quyết định sức mạnh của toàn quân và tài nghệ của các chủ tướng Phổ,[110][339] đã ăn sâu vào tâm trí của dân tộc Đức. Họ luôn ghi nhớ như in hai chiến tích vang dội này. Là những chiến công giải phóng đất nước, hai trận đại thắng ở Roßbach và Leuthen đã khơi dậy niềm kiêu hãnh và tinh thần tự hào dân tộc Đức, từ đây người Đức nhận thấy họ là một dân tộc thượng đẳng và "Nước Đức đánh lại cả thế giới", "Một người Đức siêu hơn ba người Pháp".[11][280] Thực chất, Friedrich II là bậc Quân vương hết mình phục vụ quyền lợi của nước Phổ chỉ không phải là nước Đức, nhưng chiến thắng rực rỡ của ông trong trận Leuthen đã cấy sâu vào tâm trí người Đức tinh thần thượng võ cao cường, góp phần lớn cho việc gây dựng truyền thống quân sự hào hùng lâu dài của họ. Ông trở thành người đầu tiên đã mang lại cho toàn dân Phổ ý thức về niềm tự hào dân tộc của mình.[120][338] Trong trào lưu dân tộc chủ nghĩa Đức, những trận thắng như Leuthen được coi là nằm trong vô số cống hiến quý báu của "Tổ quốc" cho tiến trình lịch sử nhân loại.[55] Không chỉ giải phóng mà chiến công táo bạo lẫy lừng tại Leuthen của nhà vua và đoàn tinh binh luôn "lấy ít thắng nhiều" được khen ngợi là đã định hình cho quân đội[334] và vận mệnh của nước Đức.[29][125] Qua đó, cả thế giới có thể đổ tội cho ông là vị vua đã tạo nên một nước Phổ quân phiệt, với những Binh đoàn hùng hậu - vốn dĩ là "những con đại bàng của Hohenfriedberg và Leuthen" - trở thành "Ngọn roi của Âu châu".[340] Di sản đồ sộ của trận thư hùng vinh quang tại Leuthen là sự chuyên dùng lực lượng Kỵ binh của ông có ý nghĩa hết sức to lớn, mang lại chiến thắng lừng lẫy cho Quân đội Phổ - Đức sau này trong trận Mars-la-Tour trứ danh của cuộc Chiến tranh Pháp - Đức năm 1870, trong khi ngay sau đại thắng vẻ vang ở Leuthen thì những người lính Kỵ binh của ông đã tràn ngập tỉnh Schlesien và "làm cỏ",[61] đánh đuổi hoàn toàn quân Áo xâm lược ra khỏi vùng Hạ Schliesen[12]. Ngoài ra, trong một lần thắng to hồi chiến tranh thống nhất nước Đức, những người lính Phổ đã vang ca "khúc hát Leuthen" gợi nhớ chiến công của ông vua dũng lược và đoàn binh khải hoàn - được xem là một chiến thắng lừng vang gây lôi cuốn trong lịch sử.[341]. Là Niềm Huy hoàng của nước Phổ, chiến thắng ở Leuthen không chỉ góp phần làm nên một Friedrich Đại Đế bách thắng với vô số chiến công rực rỡ,[25] mà đã khắc sâu vào tinh thần người Đức trước năm 1945 cái huyền thoại về vị vua kiêu hùng đã xuất binh trong mùa đông lạnh giá để cứu nguy cho đất nước, cho dầu chính ông vẫn không thể tin nổi sự lừng danh của thắng lợi của mình.[241] Sau thắng lợi của ông trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm, ngay từ thập niên 1770 ông đã trở thành hiện thân của quang vinh trong quá khứ và triển vọng trong tương lại của Vương quốc Phổ, cũng giống như Đại tướng Lee đối với Liên minh miền Nam Hoa Kỳ cuối năm 1862.[119] Trong thời điểm trước Chiến tranh Liên minh thứ tư với nước Pháp Napoléon, Quốc vương Friedrich Wilhelm III vẫn luôn luôn tự hào về lực lượng Quân đội Phổ - mà ông cho là lực lượng quân đội bách chiến bách thắng của Friedrich Đại Đế trong các trận chiến tại Roßbach, Leuthen và Liegnitz. Ngay khi Napoléon đại phá quân Phổ ở trận Jena vào năm 1806, nhân dân Đức vẫn ghi nhớ những chiến công vẻ vang của vị vua Phổ xuất chúng đã đánh bại cả châu Âu trong một loạt trận thắng lẫy lừng[34]. Sau đó, các chiến thắng hiển hách của ông như trận Leuthen này hãy còn trong tâm trí người Phổ, thôi thúc họ chiến đấu lật đổ ách đô hộ của người Pháp.[59] Sau khi quân Đồng minh Anh - Phổ - Hà Lan đại thắng Napoléon, những người lính Phổ sướng vui đã ngân lên khúc ca Leuthen - như một di sản quý báu của thắng lợi quyết định tại Leuthen của vị anh quân nước Phổ.[118] Sau khi khối Liên minh Phổ và các bang Đức toàn thắng cuộc Chiến tranh Pháp - Phổ và nền Đệ nhị Đế chế Đức được thành lập, Bộ Tổng Tham mưu Đức đề cao Friedrich Đại Đế là một vị tướng Đức điển hình chủ trương hủy diệt toàn bộ quân đội địch mà không chút xót thương.[342] Chính nền Đệ nhị Đế chế Đức khi ấy cũng được đặt tiền đề vững chãi từ những chiến công vẻ vang của Friedrich II như trận thắng oanh liệt ở Leuthen.[90] Nhiều người Mỹ khi ấy cũng ví von đại thắng của quân miền Bắc dưới quyền Thiếu tướng Ulysses S. Grant trong cuộc vây hãm Vicksburg (1863) với hai chiến thắng vang dội của Đại đế Friedrich II năm xưa tại trận Roßbach và trận Leuthen khiến cho ông trở nên hết sức lừng lẫy.[98] Như một chiến thắng mẫu mực thể hiện tài nghệ thao lược của ông với những đợt thần tốc quân hành và thẳng tay diệt địch một cách không thương tiếc, trận thắng lớn ở Leuthen luôn được dạy cho các Thiếu Sinh Quân dưới thời Tổng Tham mưu trưởng Moltke Lớn - một người chưa bao giờ nhận thấy các trận đánh của mình tại Gravelotte và Sedan là những chiến công mẫu mực có thể so sanh với hai trận chiến ở Roßbach và Leuthen của Friedrich Đại đế năm xưa.[44][342] Dưới triều Đức hoàng Wilhelm II, Tổng Tham mưu trưởng lừng danh Alfred Schlieffen có răn dạy các Sĩ quan Quân đội Đế quốc Đức: "Trải nghiệm là một thứ vô dụng trừ phi ta học hỏi nó". Ông kể rằng Friedrich Đại Đế nhờ dũng khí rất kiên cường của ông đã xoay chuyển đại bại ở Kolín sang đại thắng ở trận Leuthen - là một trận đánh hủy diệt và là một trong những chiến công vẻ vang "lấy ít thắng nhiều" quyết định mà "sấm vang chớp dật" tiêu biểu nhờ vào vận động bọc sườn[12][15] của Friedrich Đại Đế nói riêng và lịch sử nói chung (giống như trận Cannae). Dĩ nhiên, chính chiến thắng lớn nhất của ông[28] trong trận Leuthen đã ảnh hưởng sâu sắc đến "Kế hoạch Schlieffen" của ông trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Theo kế hoạch ấy, rút ra từ chiến tích tiền nhân này gắn bó với chiến thuật "đánh xiên", ông muốn áp dụng một trận Leuthen quy mô còn lớn hơn để triệt hạ hoàn toàn quân Pháp.[93][84] Bên cạnh đó, Friedrich Đại Đế chưa từng nghĩ đến chuyện tận diệt quân đội địch như Schlieffen nghĩ: thực chất ông chỉ chăm lo trăm họ, lập nước mở cõi và đánh cho quân địch khánh kiệt để bảo vệ phần lợi của mình mà thôi - do đó chiến thuật của ông mang tính chất của Fabius.[93] Bản thân Kaiser Wilhelm II cũng coi trận Leuthen cũng như các trận Gravelotte, Sedan,… là những nền giáo dục rất quan trọng trong nền giáo dục Đức. Lúc mới lên ngôi, vị Hoàng đế này đã từng cho duyệt binh tại di tích lịch sử chiến địa Leuthen ở tỉnh Schliesen vào năm 1890. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ (1914), ông có lời hiệu triệu quân sĩ, bày tỏ niềm hy vọng đội Cận vệ và Trung đoàn Bộ binh Cận vệ Phổ thứ nhất sẽ lập nên chiến tích huy hoàng như hồi Friedrich Đại Đế đập tan tành quân Áo ở trận Leuthen. Sau này, trong thập niên 1930, khúc ca Leuthen - mà toàn quân Phổ đại thắng đã vang ca lên sau khi phá nát và thẳng thừng lăng nhục quân Áo, đã được trình diễn trong cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Paul von HindenburgThủ tướng Adolf Hitler.[95][9][343] Nhưng đó cũng chỉ là một sự kiện cho thấy sau chiến thắng của nhà vua Friedrich Đại Đế tại Leuthen, bài ca này luôn luôn được hát lên trong những dịp đại lễ của Nhà nước Đức. Bản thân Hindenburg cũng rất thán phục sự đấu tranh tới cùng của vị vua vĩ đại xưa, mà chiến quả chính là trận đánh tại Leuthen này.[29]

Sau khi nước Đức bại trận trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất vào năm 1918, Wilhelm II vẫn mãi tin tưởng rằng Thiên Chúa là "đồng minh" của dân tộc Phổ - Đức, trong suốt những trận thắng huy hoàng như Leuthen. Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, khi Quân đội Đức Quốc Xã toàn thắng trong Trận chiến nước Pháp vào năm 1940, ông gửi thư cho Lãnh tụ (Führer) Adolf Hitler: "Khúc ca khải hoàn Leuthen đã vang lên trong những con tim người Đức" - thể hiện lòng vui sướng trước thắng lợi rực rỡ của Quân đội Đức trong năm 1940.[344] Bài Thánh ca ấy - chính là khúc ca Leuthen khải hoàng mà các chiến binh của vị vua vĩ đại đã hát vang lên - khi ấy in sâu trong xiết bao con tim người Đức.[345] Điều này thể hiện sự ăn sâu vào lòng tự hào, niềm kiêu hãnh của người Đức vì chiến thắng vĩ đại của ông tại trận Leuthen. Vị cựu Hoàng đế Đức đã rơi lệ khi nhớ đến thời khắc huy hoàng của liệt tổ Friedrich II hủy diệt đại quân Áo - mà ông tự hào xem là một trong ba thắng lợi lớn nhất của dân tộc Đức cùng với cuộc Chiến tranh Pháp - Phổ và Trận chiến nước Pháp vừa qua.[95] Ông nghĩ, một loại những thắng lợi huy hoàng của các thế hệ Phổ - Đức từ thời Friedrich Đại Đế toàn thắng ở Leuthen đến khi quân Đức chiếm đóng Pháp là sự sắp đặt của Thiên Chúa.[75] Có ý kiến rút ra từ lời khen ngợi của cựu Hoàng đế nước Đức giành cho Hitler, theo đó "vị vua vĩ đại" đã thắng lớn tại Leuthen cũng là một người có khát vọng quyền lực như Führer, đã chiếm đoạt vùng Schliesen giữa nền thái bình và được mọi người ca ngợi vì chiến tích này. Qua những chiến công hiển hách như ở trận Leuthen, cựu Hoàng đế cũng coi Friedrich Đại Đế là vị anh hùng được Thiên Chúa quan phòng. Ngoài ra, Thống chế xuất sắc của Đức Quốc Xã là Erwin Rommel đã dùng chiến thuật "đánh xiên", vận động theo kiểu của Friedrich Đại Đế trong trận thắng tại Leuthen để mà đánh tan nát quân Anh trong trận Gazala (1942).[43][34] Ngoài ra, nhà sử học quân sự John Laffin (người Úc) đã từng so sánh chiến công của Friedrich Đại Đế tại trận Leuthen với chiến tích của Trung tướng Bernard Montgomery của Anh tại trận El Alamein thứ hai vào năm 1942.[346]

Vào năm 1943, trong Trận chiến Đại Tây Dương (1939–1945) vào thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, Thủy sư đô đốc Hải quân Đức Quốc xã (Großadmiral) là Karl Dönitz đã thiết lập một đội tàu là "bầy sói" (Rudeltaktik) LEUTHEN, theo tên ngôi làng nên Friedrich Đại Đế đã đại phá đạo quân Áo khổng lồ, nhằm tiếp bước vị vua nước Phổ năm xưa.[116] Và, khi nước Đức thất thế trước quân lực Đồng Minh trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, Führer đã ghi nhớ Friedrich Đại Đế đánh tan cường địch trong loạt trận Roßbach - Leuthen lừng lẫy, đập nát khối Liên minh chống Phổ. Qua đó, Hitler mong muốn noi theo tấm gương của vị vua-anh hùng gìn giữ non sông.[289] Hitler vốn dĩ đã thường hay thể hiện mình là người thừa kế của truyền thống mà các trận chiến tại Kolín và Kunersdorf, Roßbach và Leuthen khởi tạo nên.[347] Cũng trong giai đoạn 1944 - 1945, khi Hồng quân Liên Xô tiến chiếm Schliesen, người Đức đã gợi nhớ về bãi chiến trường Leuthen nơi 188 năm trước, 34 nghìn quân Phổ do vua Friedrich Đại Đế thống suất đã kéo đến tỉnh này và đại phá 7 vạn quân xâm lược Áo (lưu ý sự áp đảo quân số 1 chọi 2), với mong muốn phát huy chiến thắng ấy - một đại thắng giúp cho nhà vua giành lại được tỉnh Schliesen - mà đánh bại sự xâm lấn của "tụi Ivan" vào Schliesen và "toàn bộ châu Âu".[95][348] Và, trước khi tổ chức cuộc phản công Ardennes vào ngày 16 tháng 12 năm 1944, Hitler cũng triệu tập các tướng lĩnh tại Ziegenberg, trong đó Lãnh tụ kêu gọi họ hãy nhằm thẳng địch mà bắn để noi theo hào khí của nhà vua Friedrich Đại Đế, và gợi nhớ lại chiến thắng của nhà vua trước người Áo trong trận Leuthen cũng bùng nổ trong một buổi sớm sương mù giày đặc.[34]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Được coi là một trang sử huy hoàng của dân tộc Đức, chiến công hiển hách của nhà vua Friedrich Đại Đế tại Leuthen đã được kể đến trong nhiều tác phẩm văn học - nghệ thuật Phổ - Đức, chẳng hạn như bản trường ca Borussia của thi sĩ Daniel Jenisch của nước Phổ cuối thế kỷ thứ 18 cùng với nhiều bộ phim lịch sử của Đức Quốc Xã sau này.[242][349]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê Spencer Tucker, A global chronology of conflict: from the ancient world to the modern Middle East, Tập 2, các trang 773-774. Frederick II biography
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l William Fiddian Reddaway, Frederick the Great and the rise of Prussia, các trang 242-244. Paul K. Davis, 100 decisive battles: from ancient times to the present, trang 283.
  3. ^ a ă â b Jules Isaac, Everyone's history of France, trang 151. Mrs. Jameson (Anna), Memoirs of Celebrated Female Sovereigns: Christina. Anne, queen of Great Britain. Maria Theresa, empress of Germany, and queen of Hungary. Catherine II, trang 157.
  4. ^ a ă Dr. Rory Muir, Tactics and the Experience of Battle in the Age of Napoleon, trang 239. Richard S. Peale, Peale's popular compendium of useful knowledge, embracing science, history, biography and industrial statistics arranged in the most attractive and instructive form: Illustrated with a large number of colored charts and diagrams, constituting a complete cyclopedia of reference, trang 259. The Atlantic Monthly, A Magazine of Literature, Art And Politics. VOL. XIII.—APRIL, 1864.—NO. LXXVIII.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h Freeman Dyson, Freeman J. Dyson, Weapons and hope, trang 152. Aleksandr Mikhaĭlovich Prokhorov, Great Soviet encyclopedia, Tập 28, các trang 356-357. Albert Ellery Berg, Annette Kar Baxter, The Universal self-instructor and manual of general reference, trang 431. Sir Tresham Lever (bart.), The house of Pitt: a family chronicle, trang 122. Graeme Mercer Adam, The students' reference work: a cyclopaedia for teachers, students, and families, trang 1312.
  6. ^ a ă â b c d đ e Peter Young, The fighting man: from Alexander the Great's army to the present day, trang 115. John Keegan, Richard Holmes, John Gau, Soldiers: a history of men in battle, trang 66. B.p. Hughes, Firepower: Weapons Effectiveness On The Battlefield, 1630- 1750, trang 96. Alexander Hunter, Johnny Reb and Billy Yank, trang 423.
  7. ^ a ă â b c d đ Reader's Digest Association, How was it done?: the story of human ingenuity through the ages, trang 348. Karl Tschuppik, Ludendorff: the tragedy of a military mind, trang 138. Peter Quennell, History today, Tập 10, trang 83.
  8. ^ a ă â b The contemporary review, Tập 64, các trang 244-245. Virginia H. Aksan, An Ottoman statesman in war and peace: Ahmed Resmi Efendi, 1700-1783, trang 65. BRILL, 1995. ISBN 9004101160. Francis Russell, The Horizon concise history of Germany, trang 147. Stewart E. Fraser, William W. Brickman, A history of international and comparative education: nineteenth-century documents, trang 33. William Rutherford Hayes Trowbridge, That little Marquis of Brandenburg, trang 229.
  9. ^ a ă â Joachim C. Fest, Hitler, trang 404. Henri de Noussanne, The kaiser as he is: or, The real William II., trang 200. Perry M. Rogers, Aspects of Western Civilizations, trang 288. Daniel B Shepp, Shepp's giant library: eight great books in a single volume, an unrivalled compilation of the world's best literature, music and art ..., trang 511. American Numismatic Society, Proceedings of the annual meeting, Số phát hành 39-43, trang 53.
  10. ^ a ă â b c d đ Christophe Koch, Maximillian Samson Friedrich Schoell, The revolutions of Europe: being an historical view of the European nations from the subversion of the Roman empire in the west to the abdication of Napoleon, trang 246. C.T. Atkinson, A history of Germany, 1715-1815, các trang 226-228. The Newbery house magazine, Tập 9. Robert S. Bevier, History of the First and Second Missouri Confederate Brigades, 1861-1865: and, From Wakarusa to Appomattox : a military anagraph, trang 424.
  11. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Richard Wagner, Prose Works: Art and politics, trang 213. Great Men and Famous Women. Vol. 2. Hermann Stegemann, The mirage of Versailles, trang 92. James Grant Wilson, John Fiske, Appleton's cyclopædia of American biography, Tập 1, trang 595. Charles George Herbermann, The Catholic encyclopedia: an international work of reference on the constitution, doctrine, discipline, and history of the Catholic church, Tập 12, trang 523. Franz Josef Hirt, Stringed keyboard instruments, 1440-1880, trang XIII. Chetham Society, Remains, historical and literary, connected with the palatine counties of Lancaster and Chester, Tập 30, trang 459.
  12. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x Barry Bergdoll, European Architecture 1750-1890, trang 286. Harvey Chisick, Historical Dictionary of the Enlightenment, trang 178. Germany and the Germans from an American point of view của Price Collier (Dự án Gutenberg). Cathal J. Nolan, The Greenwood Encyclopedia of International Relations: F-L, trang 576. Charles Raymond Beazley, Nevill Forbes, George Arthur Birkett, Russia from the Varangians to the Bolsheviks, trang 291, Clarendon press, 1918. Mary McArthur Thompson Tuttle, International ties, Tập 1-2. Reginald Hargreaves, The bloodybacks: the British serviceman in North America and the Caribbean, 1655-1783, trang 144. Walter James Wyatt, Hungarian celebrities, trang 251. Samuel Whelpley, A compend of history: from the earliest times, trang 84. Rinaldo Stroppa-Quaglia, The European War, the powers, trang 143. Uri Milstein, The general theory of security: the survival principle, trang 123. Robert W. Tucker, David C. Hendrickson, The fall of the first British Empire: origins of the War of American Independence, trang 12. Stephen W. Richey, Joan of Arc: The Warrior Saint, nguyên văn : "a complete lesson in tactics-deception...". John Mackinnon Robertson, Patriotism and empire, trang 121. McLeod Innes, Lucknow and Oude in the mutiny: a narrative and a study, trang 91. Hew Strachan, The First World War: Volume I: To Arms. Frank W. Thackeray, John E. Findling, Events that changed the world in the eighteenth century. Kraft Karl August Eduard Friedrich Hohenlohe-Ingelfingen (Prinz zu), Letters on infantry, trang 92. Ernest John Knapton, France; an interpretive history, trang 245. A.J. Johnson Company, Johnson's universal cyclopedia: a new edition, các trang 550, 750. Sir George Forrest, A history of the Indian mutiny: reviewed and illustrated from original documents, các trang 385. The Nation, Tập 52, trang 987.
  13. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Lesley Sharpe, The Cambridge Companion to Goethe, trang 10. Henry Malden, Distinguished men of modern times, Tập 3, trang 373. Joachim von Kürenberg, The Kaiser: a life of Wilhelm II, last Emperor of Germany, trang 12. Mary Lindemann, Liaisons Dangereuses: Sex, Law, And Diplomacy in the Age of Frederick the Great. John Lukacs, The Hitler of History, trang 158. Clarence Perkins, A history of European peoples, Tập 2, trang 528. John Erskine, Sketches and hints of church history, and theological controversy: Chiefly translated or abridged from modern foreign writers. By John Erskine, ..., các trang 108, 111. François Paul Émile Boisnormand de Bonnechose, France, trang 245. Christon I. Archer, World history on warfare, trang 337. François Paul Émile Boisnormand de Bonnechose, Histoire d'Angleterre: jusqu'à l'époque de la Révolution française, avec un resumé chronologique des évenements jusqu'à nos jours, Tập 4, trang 425. John G. Gagliardo, Germany under the old regime, 1600-1790, trang 326. T. C. W. Blanning, Joseph II and enlightened despotism, trang 26. Julian Stafford Corbett, England in the Seven Years' War: A study in combined strategy. Volume 1, trang 126. Emil Reich, Foundations of modern Europe: twelve lectures delivered in the University of London, trang 91. Sir John William Kaye, A History of the Sepoy War in India, 1857-1858, Tập 2, trang 37.
  14. ^ a ă â b c d đ Bevin Alexander, How wars are won: the 13 rules of war-- from ancient Greece to the war on terror, các trang 237-247.
  15. ^ a ă â Encyclopedia Americana, Tập 6, trang 318. Matthew Cooper, The German Army, 1933-1945: its political and military failure, trang 134.
  16. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Jean Isobel Esther Cooke Ann Kramer, Theodore Rowland-Entwistle, History's timeline, trang 148. The Edinburgh review, Tập 123-124, các trang 51, 286. Ronald S. Love, The Enlightenment, trang 140. Denis William Brogan, Is innocence enough?: Some reflections on foreign affairs, trang 17. Alfred de Vigny, Roger Gard, Servitude and grandeur of arms, trang 166. Friedrich Schiller, Selections from Schiller's lyrical poems, trang X. The Spectator, Tập 66-67, trang 535. Patrick J. Speelman, Henry Lloyd and the military enlightenment of eighteenth-century Europe, các trang 51-53, các trang 55, 102. United States Military Academy. Association of Graduates, West Point Alumni Association, Inc, Assembly, Tập 48. Frederick Britten Austin, A Saga of the Sword, trang 55. Norman F. Cantor, Western Civilization: Its Genesis and Destiny: From 1650 to the present day, trang 550. Uri Milstein, The general theory of security: the survival principle, trang 123.
  17. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Walter Henry Nelson, The soldier kings: the house of Hohenzollern, các trang 192-194. Indian armed forces yearbook, Tập 8, trang 180. Eugene Stock McCartney, Warfare by land and sea, trang 69. Vincent Arthur Smith, The Oxford history of England for Indian students, trnag 258. Brian Bond, The pursuit of victory: from Napoleon to Saddam Hussein, các trang 16-23. Francis Joseph Tschan, Harold John Grimm, Walter Consuelo Langsam, James Duane Squires, Western civilization since 1500, trang 881.
  18. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Sir John Alexander Hammerton, Peoples of All Nations: Russsia to Sin-Kiang, trang 4368. Stanley Sandler, Ground warfare: an international encyclopedia, Tập 1, trang 510. Jonathan R. Dull, The French Navy and the Seven Years' War, các trang 96-103. M. John Cardwell, Arts and arms: literature, politics and patriotism during the Seven Years War, trang 222. France James Soady, Lessons of war as taught by the great masters, trang 362. Hajo Holborn, A History of Modern Germany: 1648-1840, trang 244.
  19. ^ a ă â b c Park College, The Park review, Tập 1-3, trang 87. Simon Millar, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 87. Gerhard Engel, Hildegard von Kotze, At the heart of the Reich: the secret diary of Hitler's army adjutant, nguyên văn: "In all German hearts resounds the chorale of Leuthen, which the victors of Leuthen, the soldiers of that great king, sang"...
  20. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Alfred Schlieffen (Graf von), United States. Command and General Staff School, Fort Leavenworth, Cannae, Tập 1, các trang 5-10. Sir Basil Henry Liddell Hart, Strategy, trang 110. Christopher Hibbert, The Great Mutiny: India, 1857, trang 207. Daniel Coit Gilman, Harry Thurston Peck, Frank Moore Colby, The New international encyclopaedia, Tập 4, trang 370. Peter Biegel, Booted and spurred: an anthology of riding, trang 134.
  21. ^ a ă â b c d đ Germany, trang 65. Gregory D. Foster, Alan Ned Sabrosky, William Jesse Taylor, Georgetown University. Center for Strategic and International Studies, The Strategic dimension of military manpower, trang 38. Park College, The Park review, Tập 1-3, trang 72.
  22. ^ a ă â b Peeps at History - Germany
  23. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Edward N. Marks, Men of deed and daring, trang 74. J. O. Lindsay, The New Cambridge Modern History: The old regime, 1713-63, edited by J. O. Lindsay, trang 171. Harold Nicolson, Adam Nicolson, The Age of Reason: (1700-1789), các trang 122-123. Albert Hyma, Europe from the renaissance to 1815, Tập 4, trang 373. Montagu Burrows, The life of Edward Lord Hawke: admiral of the fleet, vice-admiral of Great Britain, and first lord of the admiralty from 1766 to 1771, trang 163. Michael Tierney, Martin Tierney, A classicist's outlook: Michael Tierney, 1894-1975 : a life and essays. Men in arms, 1962. George Burton Adams, European History: An Outline of Its Development, trang 398. Barthold Georg Niebuhr, Marcus Carsten Nicolaus von Niebuhr, Lectures on ancient history: from the earliest times to the taking of Alexandria by Octavianus. Comprising the history of the Asiatic nationsm the Egyptians, Greks, Macedonians and Carthaginians, trang 155.
  24. ^ a ă â b c Sir John George Bourinot, Canada, trang 241. Henry Boynton Smith, James Manning Sherwood, The American Presbyterian and theological review, Tập 4, trang 184. Hoàng Lê Minh, Những sự kiện lịch sử nổi tiếng thế giới, các trang 149-153. Williamson Murray, War, Strategy, and Military Effectiveness, trang 108. Wallace Collection (London, England), Sculpture: marbles, terra-cottas, and bronzes, carvings in ivory and wood, plaquettes, medals, coins, and wax-reliefs : with supplement, trang 182
  25. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x Charles H. Haskins, The expansion of Europe; a history of the foundations of the modern world, trang 252. Prussian grenadiers of the Frederick II. Britiffe Constable Skottowe, Our Hanoverian kings: a short history of the four Georges, embracing the period, 1714-1830, trang 180. R. W. Egerton Eastwick, The Oracle encyclopaedia: profusely illus., containing the most accurate information in the most readable form, Tập 5, trang 229. Charles C. Savage, Illustrated biography; or, Memoirs of the great and the good of all nations and all times: comprising sketches of eminent statesmen, philosophers, heroes, artists, reformers, philanthropists, mechanics, navigators, authors, poets, divines, soldiers, savans, etc, trang 272. "Distinguished men of modern times. In four volumes'", trang 373. Gilbert Parker, Claude G. Bryan, Old Quebec, trang 262. Public school series, Primer First (-Fourth, Sixth) reader, trang 360. Francis Lützow (hrabě), Bohemia: an historical sketch, trang 322. James Van Horn Melton, Absolutism and the Eighteenth-Century Origins of Compulsory Schooling in Prussia and Austria, trang 184. Marcus Cheke (Sir.), The Cardinal de Bernis, trang 120. R. Chambers, Modern history, trang 133."Old world steps to American history", trang 281. Sir Charles Grant Robertson, England under the Hanoverians, các trang 14-148. Anne Commire, Deborah Klezmer. Women in world history: a biographical encyclopedia, Tập 10, trang 351. Ivo Omrčanin, Military history of Croatia, trang 117. Nīlakaṇṭha Mimaṃsakabhaṭṭa (son of Ṣaṇkara.), England, trang 430. Theodor Fontane, Peter Demetz, Delusions, confusions ; and, The Poggenpuhl family, trang 273. Louis Crompton, Homosexuality and Civilization, trang 512. The illustrated London news, Tập 227, Số phát hành 6063-6075, trang 58. Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang XII. Lord Alexander Fraser Tytler Woodhouselee, Edward Nares, Elements of general history, ancient and modern, trang 284. Hermann Wendel, Oliver Baty Cunningham Memorial Publication Fund, Danton, trang 156. Jackson J. Spielvogel, Western Civilization: Alternate Volume: Since 1300.
  26. ^ a ă â b c Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, các trang 84-89. Philip Guedalla, The partition of Europe: a textbook of European history, 1715-1815, trang 55. Charles A. Endress, History of Europe, 1500-1848.
  27. ^ a ă â b c d đ e ê g Edmund Hodgson Yates, Mrs. Ellen Mary (Abdy-Williams) Whishaw, Walter Sydney Sichel, Ernest Belfort Bax, Time: a monthly magazine, Tập 6;Tập 17, trang 693. Simon Millar, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 73. Frederick John Partington Veale, Advance to barbarism: how the reversion to barbarism in warfare and war-trials menaces our future, trang 69. George Peabody Gooch, Annals of politics and culture (1492-1899), trang 240. B. N. Sharma, What they don't teach you at army school: a critique of Indian military thought, các trang 61, 73. Heroes of Modern Europe by Alice Birkhead : Frederick II – The Royal Robber
  28. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Studies, Tập 32, trang 183. Samuel S. Wylie, History of the Rocky Spring Church: and addresses delivered at the centennial anniversary of the present church edifice, August 23, 1894, trang 62. Emma Willard, Universal history: in perspective, trang 416. Henry H. Lancaster, Essays and reviews, các trang 266, 271. Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, các trang 115-116, các trang 126, 133. Raymond Bin, Crisis, absolutism, revolution: Europe and the world, 1648-1789, trang 441. Harrison Bird, Battle for a continent, trang 169. Rainer Jerosch, The Rani of Jhansi, rebel against will: a biography of the legendary Indian freedom fighter in the mutiny of 1857-1858, trang 103.
  29. ^ a ă â b c d đ e ê Anthony Cave Brown, Charles Brown MacDonald, On a field of red: the Communist International and the coming of World War II, trang 308. Graeme Mercer Adam, The students' reference work: a cyclopaedia for teachers, students, and families, trang 1342. Thomas Russell Ybarra, Hindenburg, the man with three lives, trang 146. Paul von Hindenburg, Out of my life, Tập 2, trang 47. Ferdinand Schevill, A history of Europe from the Reformation to the present day, trang 335.
  30. ^ a ă â b c d Hamish M. Scott, The birth of a great power system, 1740-1815, các trang 101-104. Cyrus Leo Sulzberger, Fathers and children, trang 35. Gorton Carruth, The encyclopedia of world facts and dates, trang 328. Arthur Hassall, European history chronologically arranged, 476-1920, trang 226.
  31. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Robert A. Doughty, Warfare in the Western World: Military operations from 1600 to 1871, các trang 94-96.
  32. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t Dennis E. Showalter, The wars of Frederick the Great, các trang 200-207. Edmond Walker, Military elements: Notes from lectures addressed to the gentlemen cadets, R.M. College Sandhurst, trang 188. John Duncan Quackenbos, Illustrated school history of the world: from the earliest ages to the present time: accompanied with numerous maps and engravings, trang 383. Johann Wolfgang von Goethe, Wilhelm Wägner (.), Goethe's Boyhood, trang 131
  33. ^ Nigel Cawthorne, The Immortals: History's Fighting Elites, trang 71.
  34. ^ a ă â b Robert Michael Citino, Death of the Wehrmacht: the German campaigns of 1942, trang 130. The Fortnightly, Tập 104; Tập 110, trang 650. Encyclopaedia Britannica, inc, The Britannica book of the war, trang 31. Walter Bedell Smith, Eisenhower's six great decisions: Europe, 1944-1945, trang 112. Maurice Paléologue, The enigmatic czar: the life of Alexander I of Russia, trang 36. Roland Fakler, About Persecutors and Persecuted People, trang 282.
  35. ^ a ă â b c d đ e ê g h Henry Woldmar Ruoff, The Century Book of Facts: A Handbook of Ready Reference, Embracing History, Biography, Government, Law, Language, Literature, Invention, Science, Industry, Finance, Religion, Art, Education, Domestic Economy, Hygiene, and Useful Miscellany, trang 300. William Jacks, The life of His Majesty William the Second, German emperor: with a sketch of his Hohenzollern ancestors, trang 36. John Stevens Cabot Abbott, The Empire of Austria: its rise and present power, trang 474. Andrew Haggard, Women of the revolutionary era: or some who stirred France, trang 56. Robert Matteson Johnston, Arms and the race: the foundations of army reform, trang 30. Unity: freedom, fellowship and character in religion, Tập 111-113, trang 173.
  36. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q William Chambers, Robert Chambers, Chambers's journal, Tập 80, trang 754. Peter H. Wilson, A companion to eighteenth-century Europe, trang 475. Charles William Crawley (biên tập), The New Cambridge Modern History: 1793-1830. War and peace in an age of upheaval, trang 66. Franz Kugler, The pictorial history of Germany: during the reign of Frederick the Great: comprehending a complete history of the Silesian campaigns, and the seven years war, các trang 346-359. Nathaniel William Wraxall, Memoirs of the courts of Berlin, Dresden, Warsaw, and Vienna, in the years 1777, 1778, and 1779, Tập 2, trang 161. Reinhart Koselleck, Keith Tribe, Futures past: on the semantics of historical time, trang 110.
  37. ^ a ă â b c d đ e ê g h Thomas Laurence Kington-Oliphant, Rome and Reform, Tập 1, trang trang 224. Geoffrey Parker, The Cambridge history of warfare, trang 185. Warren H. Carroll, Anne Carroll, The Revolution Against Christendom: A History of Christendom, trang 70. Absolutism and Revolution in Germany. Cyril Ransome, An advanced history of England.
  38. ^ a ă â b c d đ e ê g h Stanley Sandler, Ground warfare: an international encyclopedia, Tập 1, các trang 500-501. David Gates, Warfare in the Nineteenth Century, trang 38. Arthur James Grant, A history of Europe, trang 542. Theodore Ayrault Dodge, Alexander; a History of the Origin and Growth of the Art of War from Earliest Times to the Battle of Ipsus, B C 301: With a Detailed Account, trang 226. Chautauqua Literary and Scientific Circle, Chautauqua Institution, The Chautauquan: organ of the Chautauqua Literary and Scientific Circle, Tập 18, trang 599.
  39. ^ a ă â b c Pierre Gaxotte, Frederick the Great, trang 329.
  40. ^ a ă â b c d đ e ê g David G. Chandler, The art of warfare on land, các trang 147-148. Alfred M. Beck, Hitler's Ambivalent Attaché: Lt. Gen. Friedrich Von Boetticher in America, 1933-1941, trang 63. Thomas Lawrence Connelly, Archer Jones, The Politics of Command: Factions and Ideas in Confederate Strategy, trang 11.
  41. ^ a ă â b c d đ e ê g h Hans Delbrück, The Dawn of Modern Warfare: History of the Art of War, các trang 344-346. Erik A. Lund, War for the every day: generals, knowledge, and warfare in early modern Europe, 1680-1740, các trang 172, 190.
  42. ^ a ă â b M A. D, The history of Prussia, from the times of the Knights of the cross and sword to the occupation of Hanover, 1867, compiled by M.A.D., trang 63
  43. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x Charles F. Horne, Soldiers and Sailors: Great Men and Famo, Phần 2, các trang 241-243. Ainsworth Rand Spofford, Charles Annandale, XX century cyclopaedia and atlas: biography, history, art, science and gazeteer of the world, Tập 4, trang 72. "Pen photographs of celebrated men and noted places, ghosts and their relations [microform] : tales, sketches, essays, etc., etc., ". John Dobson (of Oxford.), Chronological annals of the War; from its beginning [in 1755] to the present time, trang 31. Charles MacFarlane, Thomas Thomson, The comprehensive history of England, from the earliest period to the suppression of the Sepoy revolt, by C. MacFarlane and T. Thomson. Continued to signing of the treaty of San Stefano, trang 347. Soldier, trang 65. R. G. Grant, 1001 Battles That Changed the Course of World History (1001 (Universe)), các trang 430, 432. Military history, Tập 24, Empire Press, 2007.
  44. ^ a ă â b c The New review, Tập 9, trang 28. John M. Merriman, A history of modern Europe: from the Renaissance to the present, trang 407. Thomas William Rolleston, John Parker Anderson, Life of Gotthold Ephraim Lessing, trang 84. W. B. Boyce, "Introduction to the study of history : civil, ecclesiastical, and literary", trang 407.
  45. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Geoffrey S. Holmes, Daniel Szechi, The age of oligarchy: pre-industrial Britain, 1722-1783, trang 261. Douglas R. Caldwell, Russell S. Harmon, Studies in military geography and geology, trang 41. E M. Lloyd, A review of the history of infantry, các trang 166-169. H. M. Cottinger, Elements of universal history for higher institutes in republics and for self-instruction, trang 199. Prussian Generals of the Napoleonic Wars� 1793-1815: Anhalt-Dessau, Leopold I, Fürst von.
  46. ^ a ă â b c d đ Will Durant, Ariel Durant, The Story of Civilization: Rousseau and revolution; a history of civilization in France, England, and Germany from 1756, and in the remainder of Europe from 1715 to 1789, các trang 52-54. Peter G. Tsouras (tác giả, biên tập), The Book of Military Quotations, trang 42.
  47. ^ a ă â b c André Corvisier, John Childs, A dictionary of military history and the art of war, trang 458. Sidney Whitman, Imperial Germany, trang 28.
  48. ^ a ă Giles MacDonogh, Frederick The Great, trang 266
  49. ^ a ă â American Academy of Political and Social Science, National American Woman Suffrage Association Collection (Library of Congress), Annals of the American Academy of Political and Social Science, Tập 26, trang 107
  50. ^ a ă â b c d đ e ê Œuvres de Frédéric le Grand - Werke Friedrichs des Großen. William C. King, Charles H. Parkhurst, Portraits and Principles of the World's Great Men and Women, trang 71.
  51. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ Siegbert Salomon Prawer, William Makepeace Thackeray, British Comparative Literature Association, University of Oxford. European Humanities Research Centre, Breeches and metaphysics: Thackeray's German discourse. Good words, Tập 23, trang 642. Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 232. W. J. James, Habsburg and Bourbon, 1494-1789, trang 210. Irving L. Gordon, Jeremy Black, World History, trang 170. Douglas Norman Parker, Hohenzollern: Tragic Private Lives, các trang 101-102. Edward Eyre, European civilization: its origin and development, Tập 6, trang 232. Hermann Foertsch, The art of modern warfare, trang 67. James Mackinnon, The growth and decline of the French monarchy, trang 658. Chambers W. and R., ltd, Chambers's information for the people, ed. by W. and R. Chambers, trang 159.
  52. ^ a ă â b c Nancy Mitford, Frederick the Great, trang 213
  53. ^ a ă â b c d đ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 261
  54. ^ a ă â b c d đ e ê Alfred Rosenberg, The myth of the twentieth century: an evaluation of the spiritual-intellectual confrontations of our age, trang 448. Albert Seaton, Frederick the Great's Army, trang 29. Mary A. M. Marks, England and America, 1763 to 1783: the history of a reaction, trang X. F. H. Jaquemet, John Alcorn, Compendium of chronology: containing the most important dates of general history, political, ecclesiastical, and literary: from the creation of the world to the end of the year 1854, trang 198. David Kirkpatrick Este Bruce, Revolution to reconstruction, trang 308.
  55. ^ a ă â b Louis Leo Snyder, The dynamics of nationalism: readings in its meaning and development, trang 165. Ronald Acott Hall, Frederick the Great and his seven years war, trang 105
  56. ^ a ă Otto von Corvin, In France with the Germans, Tập 2, trang 136
  57. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q Thomas Campbell, Frederick the Great, his court and times, Tập 1, trang 106
  58. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Robert Michael Citino, The German way of war: from the Thirty Years' War to the Third Reich, các trang 86-88. Elmer George Suhr, Two Currents in the Thought Stream of Europe, trang 253. Evangelical Alliance, Evangelical Christendom, Tập 3-4, trang 106.
  59. ^ a ă â b c d đ e ê g Ralph Flenley, Modern German history, trang 66. David J Stone, Richard Holmes, Fighting for the Fatherland: The Story of the German Soldier from 1648 to the Present Day, trang 82. Hermann Stegemann, The struggle for the Rhine, trang 226. "A History of Diplomacy in the International Development of Europe". Kimberley Jordan Reeman, Coronach, trang 161. Otto Zierer, Germany, trang 72.
  60. ^ a ă â b c Christopher Duffy, The army of Maria Theresa: The Armed Forces of Imperial Austria, 1740-1780, trang 187. Ronald Walter Harris, Absolutism and enlightenment, 1660-1789, trang 297.
  61. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r Royal United Service Institution (Great Britain), Journal, Tập 54, Số phát hành 2. Noel I. Garde, Jonathan to Gide: the homosexual in history. Civil War Society, North & South: the magazine of Civil War conflict, Tập 5. United States Cavalry Association, Journal of the United States Cavalry Association, Tập 2, các trang 84-85. Marcius Willson, Outlines of history: illustrated by numerous geographical and historical notes and maps: embracing: Part I.- Ancient history. Part II.- Modern history. Part III.- Outlines of the philosophy of history, trang 400. Albert Hyma, Europe from the renaissance to 1815, Tập 4, trang 373. William Milligan Sloane, The French war and the revolution, trang 63. Henry Woldmar Ruoff, Masters of achievement, trang 468. Frederick the Great, Gen. Thomas R. Phillips, Instructions for His Generals, các trang 15, 18. Jeremy Black, A military revolution?: military change and European society, 1550-1800, trang 27. Holger H. Herwig, Hammer or anvil?: modern Germany 1648-present, trang 59. Michael Hochedlinger, Austria's wars of emergence: war, state and society in the Habsburg monarchy, 1683-1797, trang 341. Sir Archibald Alison, History of Europe from the commencement of the French revolution in M.DCC.LXXXIX: to the restoration of the Bourbons, in M.DCCC.XV., trang 360. Democratic review, Tập 31. Andrew Crichton, Scandinavia, ancient and modern: being a history of Denmark, Sweden, and Norway : comprehending a description of these countries, an account of the mythology, government, laws, manners, and institutions of the early inhabitants, and of the present state of society, religion, literature, arts, and commerce. With illustrations of their natural history, Tập 2, trang 173. Comoton's Pictured Encylcopedia, 1935. Eric Dorn Brose, The Kaiser's Army: The Politics of Military Technology in Germany During the Machine Age, 1870-1918.
  62. ^ a ă â b Russell Frank Weigley, The Age of Battles: The Quest for Decisive Warfare from Breitenfeld to Waterloo, các trang 187-188.
  63. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Carlton J. H. Hayes, A Political And Social History Of Modern Europe, Tập 1, trang 237. Hugh Noel Williams, Madame de Pompadour, trang 355. Georg Weber, Charles Joseph Little, History of the world: from the creation of man to the present day, Tập 1, trang 532. A. Picquot, A sketch of modern history: from the destruction of the western empire, A.D. 476, to the close of the year 1818 : together with a concise view of the rise and progress of the arts and sciences, and of civilization in Europe ..., trang 454. Ernest Alfred Vizetelly, The true story of the Chevalier d'Eon: his experiences and his metamorphoses in France, Russia, Germany and England, told with the aid of state & secret papers, trang 96. Robert Balmain Mowat, Europe: 1715-1815, các trang 97-98. Philip Alexander Prince, Parallel universal history, an outline of the history and biography of the world divided into periods, trang 433. Jeremy Black, European warfare, 1660-1815, trang 74. The New York Times, The New York Times Guide to Essential Knowledge, Second Edition: A Desk Reference for the Curious Mind, trang 531. Spenser Wilkinson, The French army before Napoleon: lectures delivered before the University of Oxford in Michaelmas term, 1914, các trang 29-31. Louis Raymond Véricour, Historical analysis of Christian civilisation, trang 467. Austria. Österreichische konsularische Vertretungsbehörden im Ausland, Austrian Information Service, New York, Austrian information. Joseph Ward Swain, The Harper history of civilization, Tập 2, trang 81.
  64. ^ a ă â Olwen H. Hufton, Europe: privilege and protest, 1730-1789, trang 86
  65. ^ a ă â b c d đ e ê g h George Agar-Ellis Dover (1st baron), The life of Frederic the Second, king of Prussia, Tập 2, các trang 102-104. Jiří Louda, Michael Maclagan, Lines of succession: heraldry of the royal families of Europe, trang 181. Charles Grant, Wargame tactics, trang 4.
  66. ^ a ă â b c Giles MacDonogh, Prussia: the perversion of an idea, trang 37. Geoffrey Russell Richards Treasure, The making of modern Europe, 1648-1780, trang 458.
  67. ^ a ă Dennis E. Showalter, William J. Astore, The early modern world , các trang I-II.
  68. ^ a ă â b c Spencer Tucker, Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict, trang 231. THE ROYAL MILITARY CHRONICLE, trang 362.
  69. ^ a ă Herman Hattaway, Archer Jones, How the North won: a military history of the Civil War, trang 384
  70. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 372
  71. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am an ao ap aq ar Thomas Carlyle 1865
  72. ^ a ă â b c d đ e ê g Eduard Vehse, Memoirs of the court, aristocracy, and diplomacy of Austria, Tập 2, trang 203. Gilbert Stanhope, A mystic on the Prussian throne: Frederick-William II, trang 170. T. C. W. Blanning, The Eighteenth Century: Europe 1688-1815, trang 191. Ron W. Walden, Joyce Milton, The empire builders: Frederick the Great and Prussia, Napoleon and Europe, các trang 38-39. Army War College (U.S.), Parameters: journal of the US Army War College, Tập 17, Số phát hành 1.
  73. ^ a ă â b c d đ United States. Marine Corps Command and Staff College, Theory and Nature of War: Readings. Jean Keith Simonton, Genius, creativity, and leadership: historiometric inquiries, trang 153. E. Neville Williams, The Ancien Régime in Europe: government and society in the major states, 1648-1789, trang 379. Trevor Nevitt Dupuy, The evolution of weapons and warfare, trang 12. Réné de La Croix Castries (duc de), The lives of the kings & queens of France, trang 219. D. G. Kirby, Northern Europe in the early modern period: the Baltic world, 1492-1772, trang 334. Archibald Frank Becke, Napoleon and Waterloo: the emperor's campaign with the Armée du Nord, 1815, trang 12. Frederick Kagan, The End of the Old Order: Napoleon and Europe, 1801-1805, trang 222.
  74. ^ a ă â b c d đ e David R. Stone, A military history of Russia: from Ivan the Terrible to the war in Chechnya, các trang 70-72. The American magazine, Tập 26, trang 263. Leo de Colange, The national encyclopedia: a compendium of universial information, with the pronunciation of every term and proper name, trang 384. John Ruskin, The works of John Ruskin, Tập 31, trang 419. The Twentieth century, Tập 5.
  75. ^ a ă â b c d đ e James Gillray, The works of James Gillray: the caricaturist with the story of his life and times, trang 1. Andrew Boyle, The Everyman encyclopædia, Tập 11, trang 403. J. Nazareth, Creative Thinking in Warfare, trang 2. Trevor Nevitt Dupuy, Understanding war: history and a theory of combat, trang XXV. Giles MacDonogh, The Last Kaiser: The Life of Wilhelm II, các trang 425, 458.
  76. ^ a ă â Stanley Coren, The Pawprints of History: Dogs and the Course of Human Events, trang 60. Paul M. Kennedy, The rise and fall of British naval mastery, trang 104. William Estabrook Chancellor, Fletcher Willis Hewes, The United States: a history of three centuries, 1607-1904; population, politics, war, industry, civilization, Tập 2, trang 502.
  77. ^ a ă â b Oxford pamphlets, Số phát hành 50-75, trang 35. Society for Army Historical Research (London, England), Journal of the Society for Army Historical Research, Tập 52, trang 185. Walter Thomas Selley, England in the eighteenth century, trang 194. European Studies Review, Tập 4. George Washington Cullum, United States Military Academy. Association of Graduates, Biographical Register of the Officers and Graduates of the U.S. Military Academy at West Point, N.Y.: From Its Establishment, in 1802, to 1890, Tập 1, trang 323. Neil D. Orpen, Total defense: the role of the commandos in the armed forces of South Africa, trang 8/
  78. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t James Louis Garvin, Franklin Henry Hooper, Warren E. Cox, The Encyclopedia britannica, trang 313. Daniel Haskel, A chronological view of the world: exhibiting the leading events of universal history, the origin and progress of the arts and sciences, the obituary of distinguished men, and the periods in which they flourished; together with an account of the appearance of comets, and a complete view of the fall of meteoric stones, in all ages, collected chiefly from the article "chronology" in the new Edinburgh encyclopaedia, trang 188. David Pryde, European history in a series of biographies, các trang 159-160. Philip G. Dwyer, The rise of Prussia, 1700-1830. U.S. Army Command and General Staff College, U.S. Army Command and General Staff College. Library Services, Military review, Tập 39, Số phát hành 4. Eric William Sheppard, A short history of the British Army, trang 49. Paul P. Bernard, Joseph II and Bavaria: two eighteenth century attempts at German unification, trang 107. Sir John Arthur Ransome Marriott, Sir Charles Grant Robertson, The evolution of Prussia: the making of an empire, trang 136. Victor Thaddeus, Frederick the Great: the philosopher king, các trang 243, 264. Illustrated Encyclopaedia of World History, trang 3900. Gustave Lanctôt, A History of Canada: From the Treaty Utrecht to the Treaty of Paris, 1713-1763, trang 149. James Ross Kaye, Historical fiction chronologically and historically related, trang 613. Thomas Nelson Page, The novels, stories, sketches and poems of Thomas Nelson Page, Tập 17, trang 85. American Defense Preparedness Association, National Security Industrial Association, National Defense Industrial Association (U.S.), National defense, Tập 23, trang 283. Elliot G. Storke, Linus Pierpont Brockett, A complete history of the great American rebellion: embracing its causes, events and consequences, with biographical sketches and portraits of its principal actors ..., trang 1480. Jamel Ostwald, Vauban under siege: engineering efficiency and martial vigor in the War of the Spanish Succession, trang 312.
  79. ^ a ă â b c d Ralph Peters, Lines of Fire: A Renegade Writes on Strategy, Intelligence, and Security, trang 417. Roman Johann Jarymowycz, Cavalry from hoof to track, trang 55. Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang XVIII. Robert M. Citino, Death of the Wehrmacht: The German Campaigns of 1942, trang 288. Stephen E. Ambrose, Duty, honor, country: a history of West Point, trang 101.
  80. ^ a ă â b SamuelEliot Morison, The Growth of the American Republic. Gabriel Gottfried Bredow, A compendium of universal history, tr. from the Germ. [of G.G. Bredow] by C.T. Stafford, trang 190. Ferdinand Schevill, The making of modern Germany: six public lectures delivered in Chicago in 1915, trang 153. Sir William Godfrey Fothergill Jackson, The alternative third world war, 1985-2035, trang 205.
  81. ^ a ă â b Minna Von Barnhelm, Oder, Das Soldatenglück: Oder, Das Soldatenglück; Ein Lustspiel in Fünf Aufzügen
  82. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q Norman Macleod, Good words, ed. by N. Macleod, trang 642. Walter Arnold Kaufmann, From Shakespeare to Existentialism: An Original Study : Essays on Shakespeare and Goethe, Hegel and Kierkegaard, Nietzsche, Rilke, and Freud, Jaspers, Heidegger, and Toynbee, trang 55. DK Publishing, Roger Ford, Weapon: A Visual History of Arms and Armor, các trang 101, 178. The Harmon Memorial Lectures in Military History, 1959-1987: A Collection of the First Thirty Harmon Lectures Given at the United States Air Force Academy, trang 305. Jack Scarborough, The Origins of Cultural Differences and Their Impact on Management, trang 215. Europaische Hochschulschriften. Reihe 1: Deutsche Sprache und Literatur, Tập 864. William Guthrie, A geographical, historical, and commercial grammar..., trang 427. James Franck Bright, A history of England, Tập 3, trang 1026. Commemorative Reproduction of the Battle of Leuthen on December 5, 1757 (1758). Marjorie A. Banks Ward (Viscountess Bangor.), The blessed trade, trang 194. Geoffrey Parker, The Military Revolution: Military Innovation and the Rise of the West, 1500-1800, trang 146. Amalgamated Association of Street and Electric Railway Employees of America, The Motorman and conductor, Tập 27
  83. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k George F. E. Rudé, Europe in the eighteenth century: aristocracy and the bourgeois challenge, trang 228. Innes, The Hohenzollerns, a Historical Study, trang 18. David G. Chandler, Napoleon I, The Military Maxims Of Napoleon, trang 134. Henry Howard Brownell, The Eastern, or Old World: embracing ancient and modern history, trang 423. Cambridge History...., The Cambridge History of British Foreign Policy, trang 111. Garry J. Moes, Streams Of Civilization: Cultures In Conflict Since The Reformation Until The Third Millennium After Christ, trang 44. Frank Nowak, Medieval Slavdom and the rise of Russia, Tập 1970, Phần 2, trang 79.
  84. ^ a ă â b Robert Michael Citino, Death of the Wehrmacht: the German campaigns of 1942, các trang 5-6. John Frederick Charles Fuller, The Second World War, 1939-45: a strategical and tactical history, trang 443. Hew Strachan, From Waterloo to Balaclava: tactics, technology, and the British army, 1815-1854, trang 5. Horne, A Companion to World War 1, trang 40.
  85. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Frederick Converse Beach, George Edwin Rines, The Americana: a universal reference library, comprising the arts and sciences, literature, history, biography, geography, commerce, etc., of the world, Tập 7. Geoffrey Martin Bennett, The Battle of Trafalgar, trang 13. Sir Henry Parnell, The substance of the speeches of Sir H. Parnell, Bart., in the House of Commons, with additional observations, on the corn laws, trang 77. John Powell, Frank Northen Magill, Wendy Sacket, Chronology of European History, 15,000 B.C. to 1997: 1478 to 1898, các trang 709, 721. Peter Paret, Clausewitz and the State: The Man, His Theories, and His Times, trang 27. Jonathan Dewald, Europe 1450 to 1789: Macau to Pope, trang 29. Mikhail Nikolaevich Pokrovskiĭ, Brief history of Russia, Tập 2, trang 324. Chris Bellamy, The evolution of modern land warfare: theory and practice, trang 23. D. G. Kirby, Northern Europe in the early modern period: the Baltic world, 1492-1772, trang 334. Bevin Alexander, Robert E. Lee's Civil War, trang 124. Afzal Rahim, M. Afzalur Rahim, Current Topics in Management: Organiational Behavior, Performance and Effectiveness, trang 124. John I. Alger, Definitions and doctrine of the military art: past and present, trang 198. Charles E. Kirkpatrick, An Unknown Future and a Doubtful Present: Writing the Victory Plan of 1941, trang 25. Encyclopaedia Britannica, inc, The New Encyclopaedia Britannica, Tập 14, trang 517. Sashi Bhusan Chaudhuri, English historical writings on the Indian Mutiny, 1857-1859, các trang 120, 162.
  86. ^ a ă â b c William Young, German Diplomatic Relations 1871-1945: The Wilhelmstrasse and the Formulation of Foreign Policy, trang 4. James Breck Perkins, France under Louis XV., trang 106.
  87. ^ a ă Louis-Philippe Ségur (comte de), History of the principal events of the reign of Frederic William II., king of Prussia: and a political picture of Europe, from 1786 to 1796. Containing a summary of the revolutions of Brabant, Holland, Poland, and France, Tập 1, trang 8. Evelyne Lever, Catherine Temerson, Madame de Pompadour: A Life, trang 236. Stanko Guldescu, The Croatian-Slavonian kingdom, 1526-1792, Tập 21, trang 197.
  88. ^ a ă â b c John Watts De Peyster, Practical strategy, trang 64. Samuel Maunder, The history of the world: comprising a general history, both ancient and modern, of all the principal nations of the globe, their rise, progress, present condition, etc, trang 703. "Illustrated school history of the world, from the earliest ages to the present time".
  89. ^ a ă â George Palmer Putnam, Lynds Eugene Jones, Tabular views of universal history: a series of chronological tables presenting, in parallel columns, a record of the more noteworthy events in the history of the world from the earliest times down to 1890, trang 125. The new Encyclopaedia Britannica: in 30 vol, các trang 175, 143.
  90. ^ a ă â b John Laffin, Links of Leadership: thirty centuries of command, trang 156. J. Gordon Mowat, John Alexander Cooper, The Canadian magazine, Tập 10, trang 310. Frederick Maynard Bridge, A short history of the great world war, trang 3. Philip G. Dwyer, Modern Prussian history, 1830-1947. Bryan Perrett, Knights of the Black Cross: Hitler's Panzerwaffe and its leaders.
  91. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p Dennis E. Showalter, The early modern world, các trang XIII-XVI. Christopher Duffy, The military experience in the age of reason, trang 30.
  92. ^ a ă â b Steven Ozment, A Mighty Fortress: A New History of the German People, các trang 139-140. Peter Wilding, Adventurers in the eighteenth century, trang 210.
  93. ^ a ă â b Great commanders of the early modern world 1583-1865. Terence Zuber, Inventing the Schlieffen Plan: German War Planning 1871-1914, trang 195. Hannsjoachim Wolfgang Koch, The age of total warfare, Tập 19, trang 26.
  94. ^ a ă â b c d đ e ê g h Arthur Hassall, The making of the British empire (A.D. 1714-1832), trang 148. Sir John Arthur Ransome Marriott, Sir Charles Grant Robertson, The evolution of Prussia: the making of an empire, trang 136. Bradley A. (Bradley Allen) Fiske. The art of fighting; its evolution and progress, with illustrations from campaigns of great commanders, các trang 186-187. Edward Pearce, Pitt the Elder: Man of War, trang 142. Alan Warwick Palmer, The Kaiser: warlord of the Second Reich, trang 186. Peter Paret, Clausewitz and the State: The Man, His Theories, and His Times, trang 200. William Godwin, Political and philosophical writings of William Godwin: Educational and literary writings, Tập 5, trang 39. The Army quarterly and defence journal, Tập 86-87, trang 190.
  95. ^ a ă â b c d đ Lamar Cecil, Wilhelm II: Emperor and exile, 1900-1941, UNC Press Books, 31-10-1996. ISBN 0-8078-2283-3. Matthew Smith Anderson, Historians and eighteenth-century Europe, 1715-1789, trang 149. Simon Maccoby, Eighteenth century England: being a short history of English politics and society from the Revolution to Waterloo (1688-1815), trang 163. John Van der Kiste, Kaiser Wilhelm II: Germany's Last Emperor, trang 239. David Mason Greene, Greene's biographical encyclopedia of composers, trang 449. Hendrik C. Verton, In the Fire of the Eastern Front: The Experiences of a Dutch Waffen-SS Volunteer, 1941-45, trang 134.
  96. ^ a ă C.T. Atkinson, A history of Germany, 1715-1815, trang 195
  97. ^ a ă â b John Keegan, Andrew Wheatcroft, Who's who in military history: from 1453 to the present day, trang 104. Patrick Chrestien Gordon Walker, Oliver John Grindon Welch, Charles James Pennethorne Hughes, Herbert Edmund Howard, A modern history of Europe: 1046-1918, trang 705.
  98. ^ a ă Henry C. Deming, The Life of Ulysses S. Grant, General United States Army, trang 258
  99. ^ a ă â b c d Nathaniel Hall Loring, John Watts De Peyster, Prussia: its position and destiny: due to Frederic II, the Great, the Sanspareil, các trang X-XXIII. Geoffrey Regan, Someone had blundered: a historical survey of military incompetence, trang 50.
  100. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ Eyre Evans Crowe, The history of France, Tập 4, trang 272. William Curry, Jun. & Co, The Dublin University magazine, Tập 50, trang 650. Rudolf Vierhaus, Germany in the Age of Absolutism, trang 142. Millot (Claude François Xavier, abbé), Elements of general history: ancient and modern, Tập 6, trang 72. Frederick Augustus Porter Barnard, Arnold Guyot, A.J. Johnson & Co, Johnson's univeral cyclopædia: a scientific and popular treasury of useful knowledge, Tập 3, trang 453. Thomas Keightley,D ionysius Lardner, John Frost, Outlines of history: embracing a concise history of the world from the earliest period to the pacification of Europe in 1815, các trang 327. Arthur Mee, Title: The World's Greatest Books, Vol XII. Modern History.
  101. ^ a ă â b c d đ Trevor Nevitt Dupuy, The military life of Frederick the Great of Prussia, trang 117
  102. ^ a ă â b c d đ e ê g Joseph Towers, Memoirs of the life and reign of Frederick the Third, King of Prussia.:, Tập 2, các trang 157-162. Frederic the Great and Kaiser Joseph: an episode of war and diplomacy in the eighteenth century. C. Alan Joyce, The World Almanac and Book of Facts 2009.
  103. ^ a ă â Karl Friedrich Becker, Karl Adolf Buchheim, Friedrich der Grosse, trang 147. World Jewish Congress, World Jewry, Tập 12-16.
  104. ^ a ă â b Robert A. Pois, Philip Langer, Command failure in war: psychology and leadership, các trang 6-7.
  105. ^ a ă â Carl von Clausewitz, Hans Wilhelm Gatzke, Principles of War, trang 70. George Bruce Malleson, Ambushes and surprises: being a description of some of the most famous instances of the leading into ambush and the surprise of armies, from the time of Hannibal to the period of the Indian mutiny …, trang 275.
  106. ^ a ă Paul Lockhart, The Whites of Their Eyes: Bunker Hill, the First American Army, and the Emergence of George Washington, trang 215
  107. ^ a ă â b c Afzal Rahim, M. Afzalur Rahim, Current Topics in Management: Organiational Behavior, Performance and Effectiveness, trang 134. Frank Preston Stearns, The life of Prince Otto von Bismarck, trang 132. Geoffrey Parker, The Cambridge Illustrated History of Warfare: The Triumph of the West, trang 176.
  108. ^ a ă â b c Frederick Augustus Porter Barnard, Arnold Guyot, Johnson's New universal cyclopædia: a scientific and popular treasury of useful knowledge …, trang 262. Encounter, Tập 52, các trang 437-438. William J. Roberts, France: a reference guide from the Renaissance to the present, trang 37
  109. ^ a ă â b Larry H. Addington, The patterns of war through the eighteenth century, các trang 129-130.
  110. ^ a ă â b c d Alexander Charles Ewald, Leaders of the senate: a biographical history of the rise and development of the British constitution. 2 vols. [issued in 15 pt.]., trang 125. Hugh Wodehouse Pearse, Memoir of the life and military services of Viscount Lake: baron Lake of Delhi and Laswaree, 1744-1808, các trang 15-18. Sir George Otto Trevelyan, The American Revolution, trang 460.
  111. ^ a ă â b c d đ Theodor Schieder, Frederick the Great, trang 129. John Keegan, A History of Warfare, các trang 345, 351. Edward Crankshaw, The Habsburgs: portrait of a dynasty, trang 182. Sir George Norman Clark, The Oxford history of England, Tập 11, các trang 219, 360. Charles F. Partington, The British Cyclopaedia of Literature, History, Geography, Law and Politics, trang 743. Thomas Kingston Derry, British history from 1485-1782, trang 126. Herbert Maurice Van Thal, The Prime Ministers: from Sir Robert Walpole to Edward Heath, trang 146.
  112. ^ a ă â Louis Leger, A history of Austro-Hungary from the earliest time to the year 1889, trang 365
  113. ^ a ă Edward Altham Altham, The principles of war historically illustrated, các trang 205-206. Alf Johnson Mapp, The Virginia experiment: the Old Dominion's role in the making of America, 1607-1781, trang 277. Charles Augustin Sainte-Beuve, William Mathews, Monday-chats: selected and tr. from the "Causeries du lundi" with and introd. essay on the life and writings of Sainte-Beuve, trang 253.
  114. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 373. Marlborough coll, Prolusiones, trang 17.
  115. ^ a ă Arthur Edward Romilly Boak, Albert Hyma, Preston William Slosson, The growth of European civilization, Tập 2, trang 190
  116. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Adolf Eduard Zucker, General de Kalb: Lafayette's mentor, trang 49. Samuel S. Wylie, History of the Rocky Spring Church: and addresses delivered at the centennial anniversary of the present church edifice, August 23, 1894, trang 62. Jak P. Mallmann Showell, U-Boat Command and the Battle of the Atlantic, các trang 158-167. Neal Zaslaw, The Classical era: from the 1740s to the end of the 18th century, trang 386. Robert Henlopen Labberton, New historical atlas and general history, trang 140. Victoria Charles, Klaus H. Carl, Rococo, trang 155. Charlotte Mary Yonge, Cameos from English history..., trang 157. D. H. Atkinson, Old Leeds: its byegones and celebrities, trang 10. R. W. Egerton Eastwick, The Oracle encyclopaedia: profusely illus., containing the most accurate information in the most readable form, Tập 5, trang 229.
  117. ^ a ă â b Edward Baines, History of the reign of George III, King of the United Kingdom of Great Britain and Ireland, Tập 1, trang 14
  118. ^ a ă â b c d Stephen J. Lee, Aspects of European history, 1494-1789, trang 157. Ltd. Market Hosue Books, Oxford Encyclopedia of World History, các trang 244, 263. Anthony Read, The Devil's Disciples: Hitler's Inner Circle, trang 274. Andrew Uffindell, Andrew Roberts, The Eagle's Last Triumph: Napoleon's Victory at Ligny, June 1815, trang 157.
  119. ^ a ă â b c d đ e ê Christopher Kolenda, Leadership: The Warrior's Art, các trang 133-140. Time-Life Books, Winds of revolution, TimeFrame AD 1700-1800, trang 64. U.S. Army Combined Arms Center, U.S. Army Command and General Staff College, Command and General Staff School (U.S.), Military review, Tập 33. Marianne Moore, The Dial, Tập 21, trang 22.
  120. ^ a ă The Fortnightly, Tập 104; Tập 110, trang 650
  121. ^ a ă â b c d đ Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, trang 170. Jeremy Black, War: A Short History, trang 93. Francis Russell, The Horizon concise history of Germany, trang 147. Arthur Lockwood Wagner, Strategy: a lecture, trang 4. General Carl Von Clausewitz, The Campaign Of 1812 In Russia. Wilhelm Pütz, Handbook of modern geography and history, tr. by R.B. Paul, trang 110.
  122. ^ a ă â Imre Szabo (bishop), The state policy of modern Europe from the beginning of the sixteenth century to the present time …, trang 269. Ông vua yêu âm nhạc
  123. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Frederick William Longman, Frederick the Great and the Seven Years War, các trang 127-133. John Millin Selby, Stories of famous sieges.
  124. ^ a ă â Micheal Clodfelter, Warfare and armed conflicts: a statistical reference to casualty and other figures, 1500-2000, trang 85. Vermont. General Assembly. Senate, Journal.
  125. ^ a ă â b c George Peabody Gooch, Germany, trang 3. James Neal Primm, American Experience, trang 40. The Motor, Tập 81, trang 241.
  126. ^ a ă â b Jeremy Black, America Or Europe? British Foreign Policy, 1739-63, trang 27. Arthur Edward Romilly Boak, Albert Hyma, Preston William Slosson, The growth of European civilization, Tập 2, trang 190. Dale O. Smith, The eagle's talons: a military view of civil control of the military, trang 81. Yoav Ben-Horin, Barry Posen, Rand Corporation, United States. Dept. of Defense. Director of Net Assessment, Israel's strategic doctrine, trang 29. Carlos Ramirez-Faria, Concise Encyclopeida Of World History, trang 297
  127. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, các trang 103-110. David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, các trang 325-329.
  128. ^ a ă â Samuel Willard Crompton, 100 Battles That Shaped World History, trang 59. Và Franz Kugler, The pictorial history of Germany: during the reign of Frederick the Great: comprehending a complete history of the Silesian campaigns, and the seven years war, trang 322
  129. ^ Jeremy Black, Cambridge illustrated atlas, warfare: Renaissance to revolution, 1492-1792, trang 123
  130. ^ a ă Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 7
  131. ^ a ă â Clarence L. Barnhart, New Century Cyclopedia of Names, Tập 3, các trang 3564, 4219.
  132. ^ David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 362. Giles MacDonogh, Frederick The Great, trang 265
  133. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, các trang 41-55.
  134. ^ a ă â b Hannsjoachim Wolfgang Koch, The rise of modern warfare, 1618-1815, trang 157. Robert H. Patton, The Pattons: A Personal History of an American Family, trang 158.
  135. ^ a ă â b c d đ Wilhelm Müller, Wilhelm Müller (engineer.), The elements of the science of war, trang 140
  136. ^ a ă â b c d Archer Jones, The art of war in the Western world, các trang 301-302. Robert A. Doughty, Warfare in the Western World: Military operations from 1600 to 1871, trang 234. Clarence Lewis Barnhart, The New Century handbook of English literature, trang 458.
  137. ^ a ă Charles Jean Jacques Joseph Ardant du Picq, Carl von Clausewitz, Roots of strategy: 3 military classics, trang 374. Frank W. Thackeray, John E. Findling, Statesmen who changed the world: a bio-bibliographical dictionary of diplomacy, trang 217.
  138. ^ a ă H. W. Koch, History of Prussia, các trang 4-5.
  139. ^ Franz Kugler, The pictorial history of Germany: during the reign of Frederick the Great: comprehending a complete history of the Silesian campaigns, and the seven years war, các trang 348-359.
  140. ^ a ă Cormac O'Brien, Outnumbered: Incredible Stories of History's Most Surprising Battlefield Upsets, trang 165
  141. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am an ao Christopher Duffy, The military life of Frederick the Great, trang 146. Shirley Elson Roessler, Reinhold Miklos, Europe, 1715-1919: From Enlightenment to World War, trang 257.
  142. ^ a ă Lewis Copeland, Lawrence W. Lamm, Stephen J. McKenna, The world's great speeches, các trang 69-70. American Defense Preparedness Association, National Security Industrial Association, National Defense Industrial Association (U.S.), National defense, Tập 1, trang 18.
  143. ^ a ă â b c Studies in Battle Command, các trang 8-10.
  144. ^ Carl von Clausewitz, Hans Wilhelm Gatzke, Principles of War, trang 13
  145. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Robert B. Asprey, Frederick the Great: the magnificent enigma, các trang 478-479. Alfred Schlieffen (Graf von), Robert T. Foley, Alfred von Schlieffen's military writings, trang 228.
  146. ^ a ă Cormac O'Brien, Outnumbered: Incredible Stories of History's Most Surprising Battlefield Upsets, trang 162
  147. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ Roman Johann Jarymowycz, Cavalry from hoof to track, các trang 68-70.
  148. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 309
  149. ^ a ă â b c d Sinclair Ramsay Atkins, From Utrecht to Waterloo: a history of Europe in the eighteenth century, trang 111. German Historical Institute in London, Aspekte der deutsch-britischen Beziehungen im Laufe der Jahrhunderte, các trang 34-37. David F. Burg, The American Revolution, trang 21. Samuel Dumas, Knud Otto Vedel-Petersen, Losses of life caused by war, trang 103.
  150. ^ a ă â b c d đ e John Frederick Charles Fuller, A Military History of the Western World: From the defeat of the Spanish Armada, 1588, to the Battle of Waterloo, 1815, trang 210
  151. ^ a ă â b Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 38. Arden Bucholz, Hans Delbrück & the German military establishment: war images in conflict, trang 37. Calvin Thomas, The Life and Works of Friedrich Schiller, trang 11.
  152. ^ a ă A. Hamish Ion, Keith Neilson, Elite military formations in war and peace, trang 105
  153. ^ a ă Dennis E. Showalter, William J. Astore, The early modern world, trang XIVIII.
  154. ^ Daniel Marston, The Seven Years' War, trang 44
  155. ^ Thomas Campbell, Frederick the great, his court and times, ed. [or rather written] by T. Campbell, trang 141
  156. ^ a ă Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 77
  157. ^ a ă â b c d đ John Laffin, Jackboot: a history of the German soldier 1713-1945, các trang 24025.
  158. ^ a ă â b c Ludwig Reiners, Frederick the Great: a biography, trang 188
  159. ^ a ă Sylvanus Urban, The Gentleman's Magazine or, Monthly Intelligencer for the year … By Sylvanus Urban, trang 251. Chambers's encyclopædia, Tập 6, trang 630. Léon Degrelle, Campaign in Russia: the Waffen SS on the Eastern Front, trang 350.
  160. ^ a ă â b Cormac O'Brien, Outnumbered: Incredible Stories of History's Most Surprising Battlefield Upsets, trang 172
  161. ^ Christopher Duffy, The Military Experience in the Age of Reason, trang 238
  162. ^ a ă David G. Chandler, Atlas of military strategy, trang 75
  163. ^ a ă Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 81
  164. ^ a ă â b Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, Những nhân vật quân sự nổi tiếng thế giới, các trang 323-330.
  165. ^ Cyril Falls, Great military battles, trang 65. ADDRESS AT THE UNVEILING OF THE STATUE OF FREDERICK THE GREAT
  166. ^ Fred Anderson, Crucible of War: The Seven Years' War and the Fate of Empire in British North America, 1754-1766, trang 298
  167. ^ a ă â Carl Eduard Vehse, Franz K. F. Demmler, Memoirs of the court of Prussia, trang 178
  168. ^ a ă Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 320
  169. ^ George Peabody Gooch, Frederick the Great: the ruler, the writer, the man, trang 245
  170. ^ a ă â b c d đ e Johann Wilhelm von Archenholz, The history of the Seven Years War in Germany, các trang 138-141.
  171. ^ a ă â Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, các trang 238-240.
  172. ^ George Bancroft, History of the United States of America: from the discovery of the continent, trang 481. Universiṭat Tel-Aviv. Faḳulṭah le-omanuyot, Assaph: Studies in the theatre, Số phát hành 15, trang 114. Uniforms of the Seven Years’ War 1756 - 1763, John Mollo, Malcolm McGregor.
  173. ^ a ă â Christopher Duffy, The army of Frederick the Great, các trang 155, 179, 210-211.
  174. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 177
  175. ^ Chester Verne Easum, Prince Henry of Prussia, brother of Frederick the Great, trang 47. Giles MacDonogh, Frederick The Great, trang 272.
  176. ^ a ă David J Stone, Richard Holmes, Fighting for the Fatherland: The Story of the German Soldier from 1648 to the Present Day, trang 408
  177. ^ T. C. W. Blanning, The triumph of music: the rise of composers, musicians and their art, các trang 231-232.
  178. ^ Thomas Carlyle, History of Friedrich II. of Prussia, called Frederick the Great, Tập 10, các trang 281-282.
  179. ^ a ă â b c d Thomas Carlyle 1865.
  180. ^ a ă â b c Sir Daniel Keyte Sandford, Thomas Thomson, Allan Cunningham, The popular encyclopedia: being a general dictionary of arts, sciences, literature, biography, history, and political economy, reprinted from the American edition of the 'Conversations lexicon' … with dissertations on the rise and progress of literature, trang 502. Hew Strachan, European Armies and the Conduct of War, các trang 18-20.
  181. ^ Edward Weller (F.R.G.S.), William Francis Collier, The Crown atlas of historical geography, constructed and engr. by E. Weller, and descriptive letterpress by W.F. Collier, trang 30
  182. ^ Spencer Tucker, Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict, trang 234. Jonathan R. Dull, The age of the ship of the line: the British & French navies, 1650-1815, trang 79.
  183. ^ a ă â b c Philip Guedalla, The partition of Europe: a textbook of European history, 1715-1815, trang 82. Simon Zabar, The white flag principle: how to lose a war and why, trang 100. Leonard W. Cowie, Eighteenth-century Europe: Tập 1964, Phần 1, trang 123, 135, 223.
  184. ^ a ă â Chester Verne Easum, Prince Henry of Prussia, brother of Frederick the Great, các trang 47-60.
  185. ^ Keith F. Otterbein, The anthropology of war, trang 86
  186. ^ Hans Delbrück, The Dawn of Modern Warfare: History of the Art of War, trang 352
  187. ^ a ă â David J Stone, Richard Holmes, Fighting for the Fatherland: The Story of the German Soldier from 1648 to the Present Day, trang 67. Eleanor L. Turk, The history of Germany, trang 67. McNeese, Tim, History of Civilization - The Age of Absolutism, trang 23. Globe encyclopaedia, The Globe encyclopaedia of universal information, ed. by J.M. Ross, trang 127.
  188. ^ a ă â A History of Europe, Chapter 11: The Game of Princes and Politics, Part II Charles Scott Kimball, 2001
  189. ^ a ă â Hew Strachan, Clausewitz's On war: a biography, trang 34
  190. ^ Aleksandr Mikhaĭlovich Prokhorov, Great Soviet encyclopedia, Tập 23, trang 360. Veit Valentin, Olga Marx, Dorothy Teall, The German people: their history and civilization from the Holy Roman empire to the third reich, tràng 279.
  191. ^ a ă â b Richard E. Beringer, Archer Jones, Why the South Lost the Civil War, trang 150. Emil Schalk, Campaigns of 1862 and 1863, illustrating the principles of strategy, trang 21. Jeff Suzuki, Mathematical Association of America, Mathematics in historical context, trang 249.
  192. ^ a ă â b c Trevor Nevitt Dupuy, Understanding defeat: how to recover from loss in battle to gain victory in war, các trang 21-22. Francis Parkman, Montcalm and Wolfe, các trnag 318-320. John Chester Miller, This new man, the American: the beginnings of the American people, trang 651.
  193. ^ a ă â b Lucien Romier, A history of France, trang 296. Esmond Wright, The expanding world, trang 157. Marie Peters, The elder Pitt, trang 191. The universal cyclopaedia, trang 531.
  194. ^ a ă Annette Landgraf, David Vickers, The Cambridge Handel Encyclopedia, trang 686. Emory Adams Allen, History of civilization, Tập 4, trang 128.
  195. ^ William Rainey Harper, Leaders of men: or, History told in biography, trang 202. Michael Ross, Bougainville, trang 54.
  196. ^ a ă â b Carlton Joseph Huntley Hayes, A political and cultural history of modern Europe, Tập 1, các trang 343-346. C. E. Carrington, J. Hampden Jackson, A History of England, trang 511.
  197. ^ John Robert Elting, The superstrategists: great captains, theorists, and fighting men who have shaped the history of warfare, nguyên văn: "…and Leu then (1757), he could continue his campaign."
  198. ^ Studies in Battle Command, trang 11
  199. ^ a ă â b Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 145
  200. ^ a ă Spencer Tucker, A global chronology of conflict: from the ancient world to the modern Middle East, Tập 2, trang 823. Richard Ernest Dupuy, Trevor Nevitt Dupuy, HarperCollins (Firm), The Harper encyclopedia of military history: from 3500 BC to the present, trang 734
  201. ^ a ă â b c Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, trang 233
  202. ^ a ă â D.K.R. Crosswell, Beetle: The Life of General Walter Bedell Smith, trang 101
  203. ^ a ă Elisha Benjamin Andrews, Brief institutes of general history: being a companion volume to the author's Brief institutes of our constitutional history, English and American, trang 407. Baldur von Schirach, Hitler-Jugend, Wille und Macht, Tập 11, trang 48.
  204. ^ English History Notes from the Earliest Times to the League of Nations, trang 131
  205. ^ a ă â b c Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, các trang 199-200.
  206. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, trang 185
  207. ^ a ă Cormac O'Brien, Outnumbered: Incredible Stories of History's Most Surprising Battlefield Upsets, trang 173
  208. ^ Virginia Military Institute, George C. Marshall Foundation, American Military Institute, Society for Military History (U.S.),
  209. ^ Ralph Flenley, Modern German history, trang 66
  210. ^ a ă â b David Bayne Horn, Frederick the Great and the rise of Prussia, trang 88
  211. ^ a ă â Sir Nathaniel William Wraxall, The history of France, from the accession of Henry the Third, in 1574, to the death of Henry the Fourth, in 1610: Preceded by a view of the civil, military and political state of Europe, between the middle, and the close of the sixteenth century; and followed by a view of the state of Europe at the accession of Louis the Thirteenth, trang 36. from constantine to bismarck, trang 205. John McCannon, Barron's how to prepare for the AP world history examination, trang 191.
  212. ^ Robert Michael Citino, Death of the Wehrmacht: The German Campaigns of 1942, trang 133. Walter Görlitz, History of the German General Staff, 1657-1945, trang 114
  213. ^ The Fortnightly, Tập 81; Tập 87, trang 256
  214. ^ Edwin William Pahlow, Man's achievement …, trang 183
  215. ^ The Christian spectator. New ser. [of The Monthly Christian spectator]., trang 497
  216. ^ a ă â John George Phillimore, History of England during the reign of George the Third, Tập 1, trang 218. Montagu Burrows, Commentaries on the history of England: From the earliest times to 1865, trang 407. Samuel Smiles, Life and Labor Or Characteristics of Men of Industry, Culture and Genius, trang 134.
  217. ^ Andrew Haggard, Louis XVI. and Marie Antoinette, Tập 2, trang 675.
  218. ^ Martin L. Van Creveld, Supplying war: logistics from Wallenstein to Patton, trang 28
  219. ^ Literary news, Tập 17, trang 142. Frank McLynn, 1759: The Year Britain Became Master of the World, trang 256.
  220. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang IX. Robert A. Doughty, Warfare in the Western World: Military operations from 1600 to 1871, trang 165
  221. ^ a ă â b Studies in Battle Command, trang II. Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, trang 11
  222. ^ Christopher Duffy, The military experience in the age of reason, trang 244
  223. ^ a ă Hew Strachan, European Armies and the Conduct of War, các trang 14-15.
  224. ^ a ă â Steve Israel, Charge!: history's greatest military speeches, trang 60
  225. ^ a ă â John Powell, Magill's Guide to Military History: Jap-Pel, trang 892
  226. ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 129. Paul Finkelman (biên tập), Encyclopedia of African American History, 1619-1895: From the Colonial Period to the Age of Frederick Douglass, Tập 2, trang 83.
  227. ^ a ă â b Smithsonian Institution, Collins atlas of military history, các trang 70-71. Elisabeth Gaynor Ellis, Anthony Esler, Prentice-Hall, inc, World History, trang 439.
  228. ^ a ă Tim Blanning, David Cannadine, The Pursuit of Glory: Europe 1648-1815, trang 581. Alfred Schlieffen (Graf von), Robert T. Foley, Alfred von Schlieffen's military writings, các trang 220-221
  229. ^ Robert Cowley, Experience of War, trang 570. Hans Delbrück, The Dawn of Modern Warfare: History of the Art of War, trang 369.
  230. ^ Thomas Carlyle. History of Friedrich II of Prussia, Tập 1, trang 10
  231. ^ a ă â Raymond Aron, Clausewitz: philosopher of war, trang 138. Oxon pseud, The history of the reign of George ii, các trang 73-75. The Nation, Tập 69
  232. ^ a ă Tiha von Ghyczy, Bolko von Oetinger, Carl von Clausewitz, Christopher Bassford, Clausewitz on Strategy: Inspiration and Insight from a Master Strategist, các trang 124-125. The Illustrated American, Tập 9, trang 552.
  233. ^ Carl Von Clausewitz, Niccolò Machiavelli, Antoine Henri De Jomini, The Prince, on War & the Art of War - Three All-Time Classics on Politics & War, trang 242
  234. ^ Robert George Leeson Waite, The psychopathic god: Adolf Hitler, trang 309
  235. ^ George Agar-Ellis Dover (1st baron), The life of Frederic the Second, king of Prussia, Tập 2, trang 83
  236. ^ a ă â b c Nhiều tác giả, Schriften von Friedrich von Gentz: ein Denkmal, Tập 4, trang 126. Otto Friedrich Pfordten (freiherr Von Der), Friedrich der Grosse: historisches Drama in vier Aufzügen mit einem Nachspiel als Vorspiel, các trang 10, 29. Wilhelm Bringmann, Friedrich der Grosse: ein Porträt, các trang 358, 376.
  237. ^ a ă John Hampden Gurney, Chapters from French history. God's heroes and the world's heroes, trang 71. Barbara R. Bartlett, A history of Germany, trang 73.
  238. ^ a ă Arden Bucholz, Hans Delbrück & the German military establishment: war images in conflict, trang 70. Bevin Alexander, Sun Tzu at Gettysburg: Ancient Military Wisdom in the Modern World, trang 130.
  239. ^ a ă Louis Leger, Austria-Hungary: based on the work of Paul Louis Leger, trang 244. Geoffrey Barraclough, The origins of modern Germany, trang 401.
  240. ^ a ă â b Peter Wilson, German Armies: War and German Society, 1648-1806, trang 274. Sir John Winthrop Hackett, The profession of arms, trang 85. Robert William Seton-Watson, A history of the Czechs and Slovaks, trang 146. John S. Amery, Devon & Cornwall notes & queries, Tập 14.
  241. ^ a ă â Christopher Duffy, Prussia's Glory: Rossbach and Leuthen 1757. Julius Adrian Friedrich Wilhelm von Verdy du Vernois, Konrad E. von Gossler, Studies in the leading of troops, trang 222.
  242. ^ a ă Eberhard Roters, Berlin, 1910-1933, Rizzoli, 1982, trang 202. ISBN 0-8478-0439-9.. Arthur W. McCardle, Friedrich Schiller and Swabian Pietism, trang 44. Jeffrey Richards, Visions of yesterday, trang 312. Và Clyde Jeavons, A pictorial history of war films, trang 79. Horst Mönnich, The BMW story: a company in its time.
  243. ^ Ryan J. Foster, Rice University, The creativity of nature: The genesis of Schelling's Naturphilosophie, 1775--1799, trang 286
  244. ^ Ask MHQ: Robert Citino's Top 10 German Military Commanders
  245. ^ Alfred Schlieffen (Graf von), Robert T. Foley, Alfred von Schlieffen's military writing, trang 89
  246. ^ a ă â b Daniel Marston, The Seven Years' War, các trang 43-44.
  247. ^ Charles Knight, A History of England: 1714-1775, trang 231
  248. ^ Jane Chisholm, Usborne timelines of world history, trang 70. William Wraxall, Historical Memoirs of my own Time, part the fort from 1772 to 1780, 1: part the second from january 1781 to march 1782, part the third from march 1782 to march 1781, trang 317.
  249. ^ a ă Fletcher Pratt, America and total war, trang 189. Victor Duruy, History of modern times: from the fall of Constantinople to the French revolution, trang 426. Xenophon, The works of Xenophon, Tập 3, Phần 2, trang XXXVIII.
  250. ^ Jay Luvaas, Napoleon on the Art of War, trang 159
  251. ^ a ă â b Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 241 và Jay Luvaas, Napoleon on the Art of War, trang 37
  252. ^ a ă â b Nathaniel Hall Loring, John Watts De Peyster, Prussia: its position and destiny: due to Frederic II, the Great, the Sanspareil, trang 28. John Davis, An oration pronounced at Worcester (Mass.) on the fortieth anniversary of American independence, trang 17.
  253. ^ W. O. Henderson, Marx and Engels and the English Workers: And Other Essays, các trang 161-162.
  254. ^ Alan Warwick Palmer, The Baltic: a new history of the region and its people, trang 150
  255. ^ Paul Béland, Isaac Cronin, Money myths and realities, trang 96. Carroll & Graf, 1986. ISBN 0-88184-265-6.
  256. ^ a ă Geoffrey Russell Richards Treasure, The making of modern Europe, 1648-1780, trang 449. Colin McEvedy, The Penguin Atlas of Modern History: to 1815 (Hist Atlas), trang 68.
  257. ^ a ă Tim Blanning, David Cannadine, The Pursuit of Glory: Europe 1648-1815, trang 609
  258. ^ Wilhelm Leeb (Ritter von), Hugo Freytag-Loringhoven (Freidherr von), Waldemar Erfurth, Roots of strategy: 3 military classics, Sách 3, các trang 200-202.
  259. ^ Trevor Nevitt Dupuy, The military life of Frederick the Great of Prussia, trang 119
  260. ^ Theodore Ayrault Dodge, Great Captains, trang 174
  261. ^ a ă Lee W. Eysturlid, The Formative Influences, Theories, and Campaigns of the Archduke Carl of Austria, các trang 35, 42.
  262. ^ a ă David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 348
  263. ^ Raymond Aron, Clausewitz: philosopher of war, tranh 163
  264. ^ Arthur Henry Johnson, Robert A. Johnson, Christopher Thomas Atkinson, The age of the enlightened despot, 1660-1789, trang 152
  265. ^ David Mason Greene, Greene's biographical encyclopedia of composers, trang 335
  266. ^ Armstrong Starkey, War in the Age of Enlightenment, 1700-1789, trang 47
  267. ^ Joachim C. Fest, Hitler, trang 666
  268. ^ a ă â John Arquilla, David F. Ronfeldt, United States. Dept. of Defense, Rand Corporation, National Defense Research Institute (U.S.), Swarming and the future of conflict, các trang 18-19.
  269. ^ Simon Millar, Adam Hook, Rossbach and Leuthen 1757: Prussia's Eagle Resurgent, Bìa sau
  270. ^ Merriam Press, General Hermann Balck: An Interview, trang 14
  271. ^ Robert M. Citino, Death of the Wehrmacht: The German Campaigns of 1942, trang 82
  272. ^ Peter Paret, Understanding War: Essays on Clausewitz and the History of Military Power, trang 77
  273. ^ Wilhelm Leeb (Ritter von), Hugo Freytag-Loringhoven (Freidherr von), Waldemar Erfurth, Roots of strategy: 3 military classics, Sách 3, trang 291
  274. ^ The Spectator, Tập 112, trang 133
  275. ^ Carl Von Clausewitz, Niccolò Machiavelli, Antoine Henri De Jomini, The Prince, on War & the Art of War - Three All-Time Classics on Politics & War, trang 329
  276. ^ T. V. Paul, Asymmetric conflicts: war initiation by weaker powers, trang 3
  277. ^ Raymond W. Jones, History Repeats Itself, BookSurge Publishing (July 2, 2004), English, trang 139. ISBN 1-59457-596-7.
  278. ^ Franz J. Hausmann, John H. Gill, A Soldier for Napoleon: The Campaigns of Lieutenant Franz Joseph Hausmann, 7th Bavarian Infantry, trang 45
  279. ^ Theodore Ayrault Dodge, Great Captains, trang 170
  280. ^ a ă â b Jon Latimer, Jon Latimer, Deception in war, các trang 19-20.
  281. ^ a ă Hans Delbrück, The Dawn of Modern Warfare: History of the Art of War, trang 278
  282. ^ a ă â b Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 202. Charles M. Fair, From the jaws of victory, trang 46. Ernest F. Henderson, Side Lights On English History: Extracts From Letters, Papers, And Diaries Of The Past Three Centuries, trang 254.
  283. ^ Theodore Ayrault Dodge, Great Captains, trang 159
  284. ^ a ă Gunther Erich Rothenbergnn, The art of warfare in the age of Napoleon, các trang 17-25.
  285. ^ Roman Johann Jarymowycz, Cavalry from hoof to track, trang 6
  286. ^ Smithsonian Institution, Collins atlas of military history, trang 85. The United service, Tập 9, trang 603.
  287. ^ a ă Relman Morin, Dwight D. Eisenhower; a gauge of greatness, trang 41. David G. Chandler, Atlas of military strategy, trang 10. Samuel Orchart Beeton, Beeton's dictionary of universal biography: being the lives of eminent persons of all times. With the pronunciation of every name, trang 423.
  288. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 211
  289. ^ a ă â b Michael S. Neiberg, Warfare in World History, các trang 40-41. Peter McCarthy, Mike Syron, Panzerkrieg: the rise and fall of Hitler's tank division, trang 221. John S. D. Eisenhower, The bitter woods: the dramatic story, told at all echelons--from supreme command to squad leader-- of the crisis that shook the Western coalition: Hitler's srprise Ardennes offensive, trang 151.
  290. ^ Robert Michael Citino, Death of the Wehrmacht: The German Campaigns in 1942, trang 136
  291. ^ Peter Paret, Felix Gilbert, Makers of modern strategy: from Machiavelli to the nuclear age, trang 169
  292. ^ T. C. W. Blanning, The Oxford history of modern Europe, trang 92. Oxford University Press, 24-08-2000. ISBN 0-19-285371-6.
  293. ^ a ă John Morley, Leuthen, trang 163
  294. ^ Albert Ellery Berg, Annette Kar Baxter, The Universal self-instructor and manual of general reference, trang 431
  295. ^ Franz Kugler, The pictorial history of Germany: during the reign of Frederick the Great: comprehending a complete history of the Silesian campaigns, and the seven years war, trang 411
  296. ^ Trevor Nevitt Dupuy, A genius for war: the German army and general staff, 1807-1945, trang 18
  297. ^ Richard Arthur Preston, Alex Roland, Sydney F. Wise, Men in arms: a history of warfare and its interrelationships with Western society, trang 131
  298. ^ A. Hamish Ion, Keith Neilson, Elite military formations in war and peace, trang 102
  299. ^ a ă John Laffin, Links of Leadership: thirty centuries of command, trang 151
  300. ^ Sir John Robert Seeley, Life and times of Stein: or, Germany and Prussia in the Napoleonic age, Tập 1, trang 117
  301. ^ a ă John Childs, Armies and warfare in Europe, 1648-1789, trang 128
  302. ^ Hans Delbrück, The Dawn of Modern Warfare: History of the Art of War, trang 284
  303. ^ a ă Claus Telp, The evolution of operational art, 1740-1813: from Frederick the Great to Napoleon, trang 17
  304. ^ a ă â b c André Corvisier, John Childs, A dictionary of military history and the art of war, trang 44. John Norris, Artillery: An Illustrated History, trang 107. William Henry Davenport Adams, English Party Leaders and English Parties: Sir Robert Walpole. William Pitt, earl of Chatham. Edmund Burke. Charles James Fox. William Pitt, pt.I.- v. 2. William Pitt, pt. II. George Canning. Sir Robert Peel, trang 188.
  305. ^ Jonathan B. A. Bailey, Field artillery and firepower, trang 170
  306. ^ Al Lacy, Turn of Glory, trang 320
  307. ^ Alfred Schlieffen (Graf von), Robert T. Foley, Alfred von Schlieffen's military writings, trang 138
  308. ^ Hans Delbrück, The Dawn of Modern Warfare: History of the Art of War, trang 273. Encyclopaedia Britannica, inc, Children's Britannica, Tập 18, trang 251.
  309. ^ a ă Marianne Moore, The Dial, Tập 21, trang 22. H. Lawrence, Philip Crumpton, Movements in European History , trang 214
  310. ^ Gunther Erich Rothenberg, The Art of Warfare in the Age of Napoleon, trang 193 và Robert Michael Citino, Death of the Wehrmacht: The German Campaigns of 1942, trang 123
  311. ^ Waldie's select circulating library, Phần 1, trang 228
  312. ^ Evelyn Eaton, The Sea Is So Wide, trang 268
  313. ^ Robert Neville Lawley, General Seydlitz, a military biography, trang 58, W. Clowes & Sons, 1852.
  314. ^ Ernst Ludwig Fischer, The Scots in Germany: being a contribution towards the history of the Scot abroad, trang 128
  315. ^ Warren R. Hofstra, Cultures in conflict: the Seven Years' War in North America, các trang 72-73.
  316. ^ David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 380
  317. ^ Julian Swann, Politics and the Parlement of Paris Under Louis XV, 1754-1774, các trang 153-154.
  318. ^ Osmund Airy, Text-book of English history from the earliest times for colleges and schools, trang 381
  319. ^ a ă Simon Millar, Adam Hook, Zorndorf 1758: Frederick Faces Holy Mother Russia, trang 7. Matthew Smith Anderson, Europe in the eighteenth century, 1713-1783, trang 260.
  320. ^ Roland N. Stromberg, A history of Western civilization, trang 384
  321. ^ George Peabody Gooch, Frederick the Great: the ruler, the writer, the man, trang 136
  322. ^ Carl von Clausewitz, Michael Howard, Peter Paret, On war, trang 197
  323. ^ Walter Görlitz, History of the German General Staff, 1657-1945, trang 5
  324. ^ Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed and Letters, trang 4
  325. ^ a ă â Norman Davies, Europe: A History, trang 648. Erich Marcks, England and Germany. Their Relations in the Great Crises of European History 1500-1900, trang 32.
  326. ^ a ă François Pierre G. Guizot, The history of England … to the accession of queen Victoria, ed. by madame de Witt, tr. by M. Thomas, trang 290. Fred Skolnik, Michael Berenbaum, Encyclopaedia Judaica, Tập 9.
  327. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 54
  328. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 39
  329. ^ a ă â Franz A.J. Szabo, The Seven Years War in Europe: 1756-1763, các trang 122-129. Winston Churchill, The Crossing: Easyread Super Large 20pt Edition, trang 140.
  330. ^ John Watts De Peyster, Practical strategy, trang 53
  331. ^ Franz A.J. Szabo, The Seven Years War in Europe: 1756-1763, trang 117
  332. ^ Richard Holmes, Fatal Avenue: A Traveller's History Northern France and Flanders 1346-1945, trang 54. Vintage Books, 24-06-2008. ISBN 1-84413-938-7.
  333. ^ a ă Karl W. Schweizer, England, Prussia, and the Seven Years War: studies in alliance policies and diplomacy, trang 61. Fred Anderson, The War That Made America: A Short History of the French and Indian War, trang 218.
  334. ^ a ă Christopher Duffy. The Military Life of Frederick the Great. New York: Atheneum Books, 1986, các trang 312-317. Và David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, trang 464. David Masson, Sir George Grove, John Morley, Mowbray Walter Morris, Macmillan's magazine, Tập 73, trang 423. Herbert Rosinski, The German army, các trang 9, 22.
  335. ^ Henk Bekker, Adventure Guide Germany, trang 6. Mary Fulbrook, A Concise History of Germany, trang 80.
  336. ^ Ronald Acott Hall, Frederick the Great and his seven years war, trang 5
  337. ^ a ă â Steven Jermy, Strategy for Action: Using Force Wisely in the 21st Century, trang 38. Elihu Rich, Francis Lister Hawks, Appletons' cyclopædia of biography: embracing a series of original memoirs of the most distinguished persons of all times …, trang 305.
  338. ^ a ă Anthony Livesey, Battles of the great commanders, trang 87.
  339. ^ David J Stone, Richard Holmes, Fighting for the Fatherland: The Story of the German Soldier from 1648 to the Present Day, trang 68
  340. ^ John Laffin, Jackboot: a history of the German soldier 1713-1945, trang 28. The contemporary review, Tập 173, trang 22.
  341. ^ David J Stone, Richard Holmes, Fighting for the Fatherland: The Story of the German Soldier from 1648 to the Present Day, trang 158. "A brief history of ancient, mediæval, and modern peoples: with some account of their monuments, institutions, arts, manners and customs". Volley and Bayonet
  342. ^ a ă Otto Friedrich, Blood and iron: from Bismarck to Hitler the von Moltke family's impact on German history, trang 39. Terence Zuber, Inventing the Schlieffen Plan: German War Planning 1871-1914, trang 9.
  343. ^ Eugen Ketterl, Cissy Klastersky, The Emperor Francis Joseph I: an intimate study, by his valet de chambre, Eugen Ketterl.
  344. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 286
  345. ^ John C. G. Röhl, Young Wilhelm: the Kaiser's early life, 1859-1888, trang 276
  346. ^ Marine Corps Association, The Marine Corps gazette, Tập 54, trang 15
  347. ^ Theodor Plivier, Stalingrad: the death of an army, trang 392
  348. ^ Edward Law, Rudimentary chronology of civil and ecclesiastical history, art [&c., by E. Law]., trang 327
  349. ^ Elisabeth Krimmer, Patricia Anne Simpson, Enlightened War: German Theories and Cultures of Warfare from Frederick the Great to Clausewitz, trang 55

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]