Quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quốc gia Việt Nam
Flag of Colonial Vietnam.svg
 
Flag of Republic of Cochinchina.svg
 
Flag of Vietnam.svg
1949 – 1955 Flag of South Vietnam.svg
Cờ Quốc huy
Cờ Quốc huy
Khẩu hiệu
Dân vi quý[1]
Quốc ca
Thanh niên Hành Khúc (Tiếng gọi công dân)
Vị trí của Miền Nam Việt Nam
Biên giới năm 1949-1954
Thủ đô Sài Gòn
Ngôn ngữ Việt
Chính thể Cộng hòa
Quốc trưởng¹ Bảo Đại
Thủ tướng (1954-1955) Ngô Đình Diệm
Thời đại lịch sử Chiến tranh lạnh
 - Độc lập (từ Pháp) 14 tháng 6, 1949
 - Được công nhận 1954
 - Giải thể 26 tháng 10, 1955
Diện tích 173.809 km²; (67.108 mi²)
Tiền tệ Đồng
Ghi chú: Sau Hội nghị Genève năm 1954, biên giới thay đổi theo Việt Nam Cộng hòa.
Loạt bài
Lịch sử Việt Nam
Bản đồ Việt Nam

Thời tiền sử

Hồng Bàng

An Dương Vương

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
   Nhà Triệu (207 - 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Bắc thuộc lần II (43 - 541)
   Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền LýTriệu Việt Vương (541 - 602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905)
   Mai Hắc Đế
   Phùng Hưng
Tự chủ (905 - 938)
   Họ Khúc
   Dương Đình Nghệ
   Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 - 967)
   Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
   Nhà Hậu Trần
   Khởi nghĩa Lam Sơn
Nhà Hậu Lê (1428 - 1788)
   Lê sơ
   
   trung
   hưng
Nhà Mạc
Trịnh-Nguyễn
phân tranh
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
   Pháp thuộc (1887 - 1945)
   Đế quốc Việt Nam (1945)
Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975)
   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
   Quốc gia Việt Nam
   Việt Nam Cộng hòa
   Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)

Xem thêm

sửa

Quốc gia Việt Nam (tiếng Pháp: l’État du Viêt Nam) là một chính phủ thuộc Liên hiệp Pháp, cai quản về mặt danh nghĩa lãnh thổ Việt Nam (không kể các vùng do Việt Nam dân chủ cộng hòa quản lý), tồn tại trong giai đoạn từ giữa năm 19481955. Về mặt hình thức, quốc gia này gần như là một quốc gia quân chủ lập hiến (nhưng chưa có Hiến phápQuốc hội) với Quốc trưởng là Cựu hoàng Bảo Đại. Từ năm 1954, theo thỏa thuận của Hiệp định Genève 1954, chính quyền và các lực lượng quân sự của Quốc gia Việt Nam theo quân đội Pháp tập kết vào miền Nam Việt Nam. Sau một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1955, thủ tướng cuối cùng của Quốc gia Việt Nam là Ngô Đình Diệm đã tuyên bố phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và thành lập một chính thể mới với chế độ cộng hòa dưới tên gọi Việt Nam Cộng hòa.

Mục lục

[sửa] Lịch sử

[sửa] Thành lập

Cuối năm 1946, sau khi đàm phán giữa chính phủ Pháp với chính phủ Hồ Chí Minh thất bại, chiến sự Đông Dương bùng nổ. Người Pháp đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của Việt Nam, mà lực lượng mạnh nhất là Việt Minh do lãnh tụ Đảng cộng sản Đông Dương Hồ Chí Minh[2] lãnh đạo. Khi đó đã lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc hành quân Léa năm 1947 với mục đích chính truy bắt các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thất bại. Chính quyền Pháp không đạt được mục tiêu cũng như không đủ lực để tiếp tục tấn công, đồng thời chịu áp lực của dư luận quốc tế đòi chấm dứt chiến tranh và trao trả độc lập cho nhân dân Đông Dương. Pháp buộc phải tìm một giải pháp chính trị phù hợp với lợi ích của Pháp và chiến lược "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" của khối các nước tư bản phương Tây trong đó có Pháp[3].

Mỹ ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước mới "không phải là người cộng sản", họ đặc biệt ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ những quốc gia đồng minh tại Đông Nam Á vì không hài lòng với điều mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị Châu Á dưới chiêu bài dân tộc".[4] Bằng viện trợ, Mỹ ép Pháp phải nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Chính sách của Mỹ là hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh, sau đó sẽ ép người Pháp rút lui khỏi Đông Dương.[5]

Người Pháp chấp nhận một lộ trình trao quyền tự quyết cho chính phủ bản xứ với điều kiện người lãnh đạo mà Pháp đồng ý thỏa hiệp "không phải là cộng sản" (hay nói cách khác, chính phủ này đảm bảo duy trì các lợi ích của Pháp tại Đông Dương). Cũng có tài liệu khác cho rằng khẩu hiệu "chống cộng sản" của Pháp thực chất là để xây dựng một chính quyền bản xứ người Việt làm đối trọng với Việt Minh để giảm sức ép về kinh tế - quân sự, cũng như thuyết phục Mỹ viện trợ để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương[6]. Ban đầu, chính Pháp đã đàm phán với Việt Minh và công nhận Việt Nam là quốc gia tự do thuộc Liên hiệp Pháp bằng Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946Tạm ước Việt - Pháp. Nhưng thực sự thì ngay từ đầu, người Pháp cũng không có ý tôn trọng lâu dài các Hiệp định này. Leclerc, tổng chỉ huy Pháp ở Đông Dương khi đề nghị đàm phán đã bị thống chế De Gaul trách mắng: “Nếu tôi mà đồng ý mấy thứ nhảm nhí này thì đế quốc Pháp đã tiêu vong lâu rồi. Hãy đọc thật kỹ câu chữ trong tuyên bố tháng 3 của Pháp về Đông dương”.[7] Khi chiến tranh bùng nổ, chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" thất bại thì Pháp mới sử dụng khẩu hiệu "chống cộng sản", dù chính họ đã từng chấp nhận Việt Minh không lâu trước đó.

Đầu năm 1947, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại đề xuất về việc đàm phán thành lập một nhà nước Việt Nam độc lập. Để hậu thuẫn cho Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam, các lực lượng chính trị bao gồm Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảngViệt Nam Quốc dân đảng liên kết thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất.[8]

Ngày 7/12/1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long, Bảo Đại và Pháp đàm phán rồi ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long. Hiệp ước thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. Dù vậy nghĩa chính xác của từ "độc lập", quyền hạn cụ thể của chính phủ mới cũng như vai trò chính phủ này trong cuộc chiến Việt - Pháp đang tiếp diễn không được xác định rõ[9].

Chính phủ hoạt động dưới một hiến chương lâm thời, chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ và bản "Thanh niên Hành Khúc" với lời nhạc mới làm quốc ca.[10] Quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội riêng tuy nhiên phải "sẵn sàng bảo vệ bất cứ phần nào của Liên Hiệp Pháp".[11] Sự độc lập chính trị của nhà nước Quốc gia Việt Nam được quy định trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long quá nhỏ nên hiệp ước này bị Ngô Đình Diệm và cả những chính trị gia trong Mặt trận Quốc gia Thống nhất chỉ trích.[8]

Tháng 3 năm 1948, Bảo ĐạiMặt trận Quốc gia Thống nhất gặp nhau tại Hương Cảng và đồng ý thành lập chính phủ lâm thời do Nguyễn Văn Xuân đứng đầu.

Ngày 5/6/1948, Quốc Gia Việt Nam ký kết với Pháp một Hiệp ước Vịnh Hạ Long khác với nội dung Pháp công khai và trọng thể công nhận nền độc lập của Việt Nam. Hiệp ước này vẫn chưa quy định cụ thể các quyền hạn của Quốc gia Việt Nam. Điều này sẽ được thỏa thuận trong các cuộc đàm phán tiếp theo.[8]

Tháng 1 năm 1949, cuối cùng Pháp cũng thỏa hiệp trước yêu cầu của Bảo Đại rằng Nam Kỳ phải nằm trong Quốc gia Việt Nam. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, sau nhiều tháng đàm phán, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée xác nhận nền độc lập của Việt Nam, chính thức thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại.

Cuối tháng 6 năm 1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lý của Quốc Gia Việt Nam.[8] Pháp chuyển giao trên danh nghĩa những chức năng hành chính cho Quốc Gia Việt Nam một cách chậm chạp. Tính đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam.[12]

Từ tháng 6 cho đến tháng 10 năm 1950, Quốc gia Việt nam và Pháp họp tại Pau (Pháp) để bàn về việc chuyển giao các chức năng quản lý xuất nhập cảnh, quan hệ ngoại giao, ngoại thương, hải quan và tài chính cho Quốc gia Việt Nam. Tài chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất bao gồm việc kiểm soát lợi nhuận từ hoạt động ngoại hối. Kết quả tất cả các chức năng trên đã được Pháp chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu sau khi ký thỏa thuận với Pháp đã tuyên bố: "Nền độc lập của chúng tôi hiện nay thật tuyệt vời". Các quan chức Pháp phàn nàn về Bảo Đại: "Ông ấy tập trung quá mức vào việc lấy lại từ chúng tôi những gì có thể thay vì tìm kiếm sự ủng hộ từ nhân dân ... Lịch sử sẽ phán xét ông ấy vì quá chú tâm vào chuyện này". Tuy nhiên người Pháp vẫn giành cho mình quyền quan sát và can thiệp đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ Liên Hiệp Pháp. Người Pháp còn có quyền tiếp cận mọi thông tin nhà nước, tham dự vào tất cả các quyết định của chính phủ và nhận một khoản nhỏ từ lợi tức quốc gia của Việt Nam.[8]

Ngày 8/12/1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Tất cả sĩ quan đều phải là người Việt.[11] Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Quốc gia Việt Nam thành lập những đơn vị mới do sĩ quan Việt Nam chỉ huy và đào tạo sĩ quan người Việt thay thế dần những sĩ quan Pháp đang hiện diện trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Thực tế cho thấy chiến tranh không phải là con đường duy nhất để mưu cầu độc lập dân tộc. Nhiều thuộc địa khác trên thế giới và ngay tại Đông Nam Á đã giành được độc lập bằng đám phán và trải qua một lộ trình kéo dài không quá một thập kỷ để nhà nước bảo hộ phương Tây trao trả dần và đi đến hoàn toàn các quyền tự quyết cho họ. Tuy nhiên cần phải lưu ý một thực tế khác: những quốc gia được trao trả độc lập hòa bình chủ yếu là thuộc địa của AnhHà Lan, những quốc gia không còn tha thiết duy trì thuộc địa, trong khi đó người Pháp thì ngược lại: cố gắng duy trì thuộc địa tới cùng cho tới lúc bị đánh bại mới thôi (như ở Việt NamAlgeria).[13]

Người Pháp nhận thức rằng sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa trên phạm vi thế giới là một xu hướng thực tế nhưng với tư cách một cường quốc, người Pháp tin rằng có thể ngăn chặn xu thế này ở những thuộc địa của mình, hay chí ít cũng cố gắng để có một "lối thoát danh dự". Chính vì thế Pháp cố kéo dài cuộc chiến cho đến năm 1954, cho tới khi bị Việt Minh đánh bại ở trận Điện Biên Phủ. Ở một khía cạnh khác, người Pháp không muốn thoả hiệp với Việt Minh mà kéo dài chiến tranh với lực lượng này vì họ biết rằng nếu Việt Minh nắm quyền, mọi cơ sở kinh tế của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam sẽ bị quốc hữu hoá không bồi thường, Pháp sẽ mất mọi ảnh hưởng kinh tế, văn hoá, chính trị tại Việt Nam. Trong khi đó, Quốc gia Việt Nam bảo đảm tôn trọng các quyền lợi hiện hữu của Pháp.

Thực tế, Quốc gia Việt Nam lúc mới thành lập hết sức non yếu do các quyền quan trọng về quân sự, tài chính và ngoại giao đều do người Pháp nắm giữ và quyền hành cao nhất trên thực tế là Cao ủy Pháp. Tính độc lập của nhà nước Quốc gia Việt Nam bị nghi ngờ khi mà đa số kinh phí duy trì nó là do Pháp viện trợ, cũng như quân đội không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt[14]. Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính mới tuyển mộ được vào các quân đoàn Viễn chinh của chính Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp.[15] Nhưng đến cuối năm 1950, Pháp đã ký kết các Hiệp ước với Quốc gia Việt Nam, trao trả tất cả các quyền quân sự, tài chính, ngoại giao, thuế quan, quản lý xuất nhập cảnh... cho nhà nước này. Trên danh nghĩa, Quốc gia Việt Nam chỉ còn phụ thuộc Pháp với tư cách một quốc gia trong khối Liên Hiệp Pháp.[cần dẫn nguồn] Tuy vậy do thiếu kinh phí, chính phủ này vẫn phải phụ thuộc vào viện trợ và sự bảo vệ của Pháp để duy trì hoạt động. Ví dụ, chỉ riêng việc duy trì quân đội đã đòi hỏi hơn 500 tỷ frăng viện trợ mỗi năm.

Nhà nước Quốc gia Việt Nam hình thành thông qua đàm phán nên nó là sản phẩm dàn xếp giữa Pháp và một số chính trị gia Việt Nam "phi cộng sản" không đi theo Chính phủ kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo chưa bao giờ thừa nhận tính chính danh và hợp pháp của nó. Họ cho rằng nó không phải là ý nguyện của người dân Việt Nam muốn được độc lập hoàn toàn, thay vì vẫn duy trì một quốc gia được Pháp "bảo hộ" tương tự như thời nhà Nguyễn. Việt Minh xem Pháp là nước "bảo hộ" cho Quốc gia Việt Nam vì Quốc gia Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp.

Hơn nữa, chính Pháp trước đó cũng đã kí với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bản Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946Tạm ước Việt - Pháp, với những hứa hẹn tương tự sẽ công nhận Việt Nam là nước độc lập thuộc Liên hiệp Pháp. Nhưng sau đó hai bên tiếp tục có những xung đột quân sự tại Hải Phòng và Hà Nội. Các cơ quan của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bí mật chuyển dần ra các địa điểm đã được chuẩn bị trước bên ngoài Hà Nội. Trong thành phố, quân và dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình. Khi Pháp gửi tối hậu thư đòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ Hà Nội và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh tại Hà Nội, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối nhượng bộ. Ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Điều này khiến Việt Minh cho rằng, khi không còn cần thiết thì các hiệp định và cam kết trao trả độc lập cho Quốc gia Việt Nam cũng sẽ bị Pháp xóa bỏ như đã từng diễn ra với Việt Minh.[cần dẫn nguồn]

[sửa] Quân đội

Ngày 8/12/1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Tất cả sĩ quan đều phải là người Việt.

Về việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam, tướng Jean de Lattre de Tassigny nhận xét "người Việt có khả năng trở thành những chiến binh xuất sắc". Chỉ cần vài tuần huấn luyện là có thể tạo ra những đơn vị có khả năng tác chiến. Thanh niên Việt Nam rất nhiều, nếu Quốc gia Việt Nam không tuyển mộ thì sẽ bỏ phí, hơn nữa có thể Việt Minh sẽ tuyển mộ những người đó. Vấn đề của Quân đội Quốc gia Việt Nam là thiếu chỉ huy người Việt. Để giải quyết vấn đề này cần sự trợ giúp của Mỹ. Bất cứ một sĩ quan Pháp nào cũng sẽ gây ra tranh chấp làm suy yếu đơn vị anh ta chỉ huy.[11]

Trong nỗ lực thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam, vấn đề cơ bản là đào tạo sỹ quan và hạ sỹ quan. Quốc gia Việt Nam thừa nhận họ thiếu những người được huấn luyện quân sự nhưng tuyên bố vì lý do chính trị họ rất ngại sử dụng sĩ quan Pháp. Nhưng Pháp lại không chấp nhận trang bị vũ khí cho những đơn vị Quân đội Quốc gia Việt Nam mới thành lập trừ khi Việt Nam chấp nhận một tỷ lệ nhất định sỹ quan nước ngoài trong Quân đội Quốc gia Việt Nam trong thời gian sỹ quan Việt Nam đang được đào tạo. Quốc gia Việt Nam sẽ mở những trường đào tạo sỹ quan. Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Quốc gia Việt Nam trong công tác huấn luyện sỹ quan.[11]

Do vậy, có tài liệu cho rằng Quân đội Quốc gia Việt Nam được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt[16] . Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính mới tuyển mộ được vào các quân đoàn Viễn chinh của chính Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp.[17]

Quân đội Quốc gia Việt Nam phát triển nhanh chóng về số lượng bao gồm những tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ. Tính đến mùa đông năm 1953 Quân đội Quốc gia có 200.000 quân chính quy (trong đó có 50.000 quân dự bị) và 78.000 địa phương quân. Vào Tháng Chạp năm 1954, sau khi Kế hoạch Navarre được triển khai thì quân số trong Quân đội Quốc gia Việt Nam lên tới 230.000 người, trong đó có 165.000 quân chính quy và 65.000 quân địa phương.[18] Số tiền người Pháp bỏ ra để viện trợ cho việc thành lập quân đội này là: 524 tỉ francs năm 1952, 585 tỉ năm 1953, 575 tỉ năm 1954.

Ngày 1 tháng 12 năm 1948. chính phủ Quốc gia Việt Nam lập ra Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế để đào tạo nhân sự chỉ huy cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Hai năm sau, trường sở được chuyển lên Đà Lạt với tên mới là Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 5 tháng 11 năm 1950.[19]

Hai Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Nam Định được thành lập ngày 11/5/1950 và chính thức hoạt động ngày 1/10/1951, có trách nhiệm đào tạo sỹ quan cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Số sỹ quan đào tạo được trong giai đoạn 1951 - 1954 của hai trường này là:

  • Trường sỹ quan Thủ Đức : 5368 sỹ quan
  • Trường sỹ quan Nam Định : 255 sỹ quan (trường này chỉ mở một khóa duy nhất từ 1/10/1951 đến 1/6/1952)

Tổng số sỹ quan hai trường đào tạo được trong giai đoạn 1951 - 1954 là 5623 người. Sau khi tốt nghiệp, các sỹ quan được phong hàm Trung úy.[20]

Đến cuối năm 1953, Quân đội Quốc gia Việt Nam được đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Nguyễn Văn Hinh.[21]. Thời điểm này các đơn vị trong Quân đội Quốc gia Việt Nam bắt đầu tác chiến độc lập dưới sự chỉ huy của sĩ quan người Việt.[22] Tuy vậy, trong các chiến dịch lớn, thực tế các sĩ quan người Việt này vẫn nằm dưới sự chỉ huy của quân đội Pháp (ví dụ như trong trận Điện Biên Phủ các tiểu đoàn Quốc gia Việt Nam phải tuân lệnh của trung tá Pháp Pierre Langlais).

Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và kí Hiệp định Geneve, quân đội Quốc gia Việt Nam theo quân Pháp tập kết về miền Nam Việt Nam. Ngày 12 tháng Giêng năm 1955, Ngô Đình Diệm đã bổ nhiệm tướng Thiếu tướng Lê Văn Tỵ vào chức vụ Tổng Tham mưu trưởng. Quân đội Quốc gia Việt Nam chuyển sang nằm dưới quyền chính phủ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam của tổng thống Ngô Đình Diệm và trở thành hạt nhân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

[sửa] Ngoại giao

Chiếu theo Điều II trong Hiệp ước Elysée thì Quốc gia Việt Nam có quyền trao đổi đại sứ với các nước khác nhưng Tổng thống Pháp, nhân danh Chủ tịch Liên hiệp Pháp có quyền phê chuẩn hay không chấp nhận. Tính đến đầu năm 1950 thì có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam.[23]

Hoa KỳVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland công nhận chính quyền Quốc gia Việt Nam ngày 7 tháng hai năm 1950. Donald Heath được cử làm đại sứ Mỹ đầu tiên sang nhận nhiệm sở ở Sài Gòn.[24]

Trong quá trình tồn tại, trước sức ép từ Mỹ, Pháp phải nới rộng tính độc lập và tự trị của Quốc gia Việt Nam so với lúc mới thành lập. Tháng 9/1951, Quốc gia Việt Nam đại diện Việt Nam tham gia Hội nghị San Francisco gồm phái đoàn của 51 nước để thảo luận về việc ký Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản.[25]. Một thành tựu ngoại giao của Quốc gia Việt Nam là việc thâu hồi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa từ tay Nhật Bản.[26][25]

[sửa] Tách khỏi Liên hiệp Pháp

Tháng ba năm 1954, Quốc gia Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Phúc Bửu Lộc đại diện mở cuộc điều đình với Pháp về chủ quyền của Việt Nam đòi hỏi Pháp phải ký hai Hiệp ước riêng. Hiệp ước thứ nhất công nhận sự độc lập trọn vẹn của Quốc gia Việt Nam. Quốc gia Việt Nam sẽ tách khỏi Liên hiệp Pháp trở thành một nước độc lập. Hiệp ước thứ hai sẽ minh định quan hệ giữa Việt Nam và Pháp.[27] Trong khi đó chiến trận ở Đông Dương càng tăng cường độ. Sự thất trận của Pháp tại Điện Biên Phủ vào Tháng Năm càng làm tình hình thêm thúc bách.

Vào cuối tháng tư, 1954 thì Hội nghị Genève bắt đầu và kéo dài đến khi ký Hiệp ước vào ngày 21 tháng bảy, 1954. Đây là Hiệp ước có sự tham dự 9 phái đoàn của Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc gia Việt Nam, LàoCampuchia để tái thiết hòa bình ở Đông Dương, trong đó một số phái đoàn chỉ tham dự mà không ký vào hiệp ước. Hiệp ước đình chỉ chiến sự, tạm thời chia Việt Nam thành hai phần cho hai lực lượng Việt Minh và Liên hiệp Pháp. Kết quả Hiệp định này trên thực tế đã bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp trên bán đảo Đông Dương, công nhận nền độc lập của các quốc gia bản xứ, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương.

Theo Hiệp ước Genève 1954, lãnh thổ nước Việt Nam bị tạm chia làm hai vùng kiểm soát, lấy vĩ tuyến 17 (dọc sông Bến Hải) làm giới tuyến quân sự. Miền Bắc do lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát, miền Nam do lực lượng Liên hiệp Pháp, trong đó có Quốc gia Việt Nam kiểm soát, sau một thời gian, theo điều khoản của Hiệp định Genève, quân đội Pháp rút dần về nước. Hiệp ước cũng quy định 300 ngày là thời gian để chính quyền và quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và Liên hiệp Pháp hoàn thành việc tập trung. Dân chúng được tự do đi lại giữa hai miền. Sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam.

Ngoài ra Pháp còn ký riêng với Quốc gia Việt Nam một hiệp ước ngày 4 tháng sáu 1954 giữa Thủ tướng Joseph Laniel và Thủ tướng Nguyễn Phúc Bửu Lộc công nhận nền độc lập hoàn toàn của Quốc gia Việt Nam. Từ đây Quốc gia Việt Nam là một nước độc lập không nằm trong Liên hiệp Pháp.[28]

[sửa] Giai đoạn Hậu hiệp định Geneva 1954-1956

Theo hiệp định Genève, Quốc gia Việt Nam theo quân Pháp tập kết về miền Nam Việt Nam, quân Pháp sẽ rút dần sau hai năm và Việt Nam sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, báo cáo của CIA cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành, nên Hoa Kỳ đã hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc tuyển cử không thể diễn ra.[29] Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do Edward Lansdale, người của CIA và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953, giúp huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau đó đổi tên thành Việt Nam Cộng hòa); xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối"[30] Ngày 13-12-1954, Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự Mỹ thay thế dần cho sĩ quan Pháp tham gia huấn luyện quân đội Quốc gia Việt Nam ở miền Nam Việt Nam. Tháng 1-1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực tiếp cho quân đội Quốc gia Việt Nam.

Tính ra, từ năm 1954 đến năm 1960, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa 7 tỷ đôla, trong đó viện trợ quân sự là 1.500 triệu đôla.[31] Trong những năm 1954-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla giúp trang bị cho các lực lượng thường trực Việt Nam Cộng Hòa, gồm 170.000 quân và lực lượng cảnh sát 75.000 quân; 80% ngân sách quân sự của Quốc gia Việt Nam là do Mỹ viện trợ. Từ năm 1955 đến 1960, có tất cả 800 chuyến tàu chờ vũ khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Số viện trợ này giúp Quốc gia Việt Nam đủ sức duy trì bộ máy hành chính và quân đội khi không còn viện trợ của Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam dần thay thế chiến thuật và vũ khí của Pháp bằng của Mỹ.

Tuy người Pháp công nhận nền độc lập của Quốc gia Việt Nam họ chỉ miễn cưỡng bàn giao các cơ quan hành chính mà họ còn nắm giữ như cố ý gây cản trở tiến trình tách Quốc gia Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp, nhất là sau khi Quốc trưởng Bảo Đại chọn Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, một người không có thiện cảm với Pháp. Trong khi đó Pháp tiếp tục chi viện cho nhóm Bình Xuyên và hai giáo phái Cao ĐàiHòa Hảo cho đến năm 1955 mới thôi. Ba nhóm này có khoảng 20.000 quân kiểm soát một vùng rộng lớn; quân Cao Đài chủ yếu ở miền Đông Nam phần, quân Hòa Hảo ở miền Tây còn Bình Xuyên chiếm cứ Sài Gòn-Chợ Lớn. Khi không còn chi viện của Pháp nữa, các lực lượng này quay sang làm áp lực và tranh chấp với chính phủ Quốc gia.

[sửa] Xung đột giữa Chính phủ và Bình Xuyên cùng giáo phái

Ngày 1 tháng Giêng, Ngô Đình Diệm ký nghị định hủy bỏ những sòng bài Kim Chung (khu cầu Muối) và Đại Thế Giới (Grande Monde) ở Chợ Lớn. Xóm Bình Khang mại dâm cũng bị dẹp, chấm dứt những nguồn tài chánh lớn này của Bình Xuyên. Nhóm này cùng với lực lượng Cao Đài và Hòa Hảo lập Mặt trận Thống nhứt Toàn lực Quốc gia vào Tháng Ba với sự ủng hộ ngầm của Pháp nhằm lật đổ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Do là trước năm 1955, Pháp chi viện cho hai giáo phái 5 triệu đồng mỗi tháng[32] nhưng từ khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm không chịu giải ngân số tiền cho các môn phái này nữa kể từ trung tuần tháng hai 1955 thì ba lực lượng trên chống đối ra mặt. Bình Xuyên còn vận động Quốc trưởng Bảo Đại làm áp lực với thủ tướng vì sòng bài đã cung cấp lợi tức cho Bảo Đại một triệu đồng mỗi ngày (trị giá 28.500 Mỹ kim theo hối xuất đương thời).[33]

Ngày 21 tháng ba năm 1955, Mặt trận gửi tối hậu thư cho thủ tướng đòi quyền tham chính. Thủ tướng phải gọi tướng Đỗ Cao Trí về để chống lại công an cảnh sát do Bình Xuyên chỉ huy. Bình Xuyên phản công, pháo kích vào Dinh Độc lập ngày 28 Tháng Ba. Sau đó lại có tin Bảo Đại đòi Ngô Đình Diệm sang Pháp trình diện bên Pháp để giải quyết các tranh chấp. Thủ tướng liền cho triệu tập một số đoàn thể chính trị và nhân sĩ vào Dinh Độc lập hội kiến và tham khảo tìm cách đối phó với tình trạng ngày thêm xáo trộn. Nhóm này liền liên kết lập ra Ủy ban Cách mạng Quốc gia và trình lên ba kiến nghị cũng vào ngày 29 tháng tư, 1955:

1- Truất phế Bảo Đại
2- Giải tán chánh phủ hiện hữu
3- Ủy nhiệm Ngô Đình Diệm thanh trừng quân phiến loạn Bình Xuyên, buộc Pháp rời khỏi Miền Nam, và mở cuộc bầu cử quốc dân đại hội.

Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý thắng lợi, thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, lên làm Tổng thống đầu tiên của nước Việt Nam Cộng hoà. Đây là nền Đệ nhất Cộng hoà Việt Nam và chính thể Quốc gia Việt Nam bị giải tán.

[sửa] Các đời thủ tướng

Quốc gia Việt Nam theo hình thức quân chủ lập hiến với nguyên thủ là Quốc trưởng Bảo Đại. Về mặt hành pháp có chức vụ Thủ tướng, được chỉ định bởi Quốc trưởng và chịu trách nhiệm trước Quốc trưởng.

Thứ tự Tên Từ Đến Chức vụ
Nguyễn Văn Xuân 27 tháng 5, 1948 14 tháng 7, 1949 Thủ tướng lâm thời
1 Bảo Đại 14 tháng 7, 1949 21 tháng 1, 1950 Kiêm nhiệm Thủ tướng
2 Nguyễn Phan Long 21 tháng 1, 1950 27 tháng 4, 1950 Thủ tướng
3 Trần Văn Hữu 6 tháng 5, 1950 3 tháng 6, 1952 Thủ tướng
4 Nguyễn Văn Tâm 23 tháng 6, 1952 7 tháng 12, 1953 Thủ tướng
5 Bửu Lộc 11 tháng 1, 1954 16 tháng 6, 1954 Thủ tướng
6 Ngô Đình Diệm 16 tháng 6, 1954 23 tháng 10, 1955 Thủ tướng

Ngày 16 Tháng Sáu năm 1954 Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm thủ tướng trong khi ở Genève các phe tham chiến đang thương thuyết tìm một giải pháp cho cuộc chiến ở Đông Dương. Sang đầu Tháng Bảy danh sách Nội các như sau

Thành phần chính phủ 07.1954-10.1955
Chức vụ Tên
Thủ tướng
kiêm Tổng trưởng Nội vụ và Quốc phòng
Ngô Đình Diệm
Quốc vụ Khanh Trần Văn Chương
Tổng trưởng Ngoại giao Trần Văn Đỗ
Tổng trưởng Canh nông Phan Khắc Sửu
Tổng trưởng Tài chánh và Kinh tế Trần Văn Của
Tổng trưởng Công chánh và Giao thông Trần Văn Bạch
Tổng trưởng Giáo dục Nguyễn Dương Đôn
Tổng trưởng Lao động và Thanh niên Nguyễn Tăng Nguyên
Tổng trưởng Y tế và Xã hội Phạm Hữu Chương
Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Trần Chánh Thành
Bộ trưởng Quốc phòng Lê Ngọc Chấn
Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Ngọc Thơ
Bộ trưởng Thông tin Lê Quang Luật
Bộ trưởng Tư pháp Bùi Văn Thinh
Phát ngôn Viên Phủ Thủ tướng Phạm Duy Khiêm

[34]

[sửa] Chú thích

  1. ^ Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. Trang 2299.
  2. ^ "Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam"
  3. ^ The first Indochina war : French and American policy 1945-54 - Ronald E Irving - London : Croom Helm, 1986
  4. ^ The Pentagon Papers, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1954", MEMORANDUM FOR THE PRESIDENT - Harry S. Truman President, trích "Recognition by the United States of the three legally constituted governments of Vietnam, Laos' and Cambodia appears desirable and in accordance with United States foreign policy for several reasons. Among them are: encouragement to national aspirations under non-Communist leadership for peoples of colonial areas in Southeast Asia; the establishment of stable non-Communist governments in areas adjacent to Communist China; support to a friendly country which is also a signatory to the North Atlantic Treaty; and as a demonstration of displeasure with Communist tactics which are obviously aimed at eventual domination of Asia, working under the guise of indigenous nationalism."
  5. ^ The Pentagon Papers, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1954", Trích "The U.S.-French ties in Europe (NATO, Marshall Plan, Mutual Defense Assistance Program) only marginally strengthened U.S. urgings that France make concessions to Vietnamese nationalism. Any leverage from these sources was severely limited by the broader considerations of U.S. policy for the containment of communism in Europe and Asia. NATO and the Marshall Plan were of themselves judged to be essential to our European interests. To threaten France with economic and military sanctions in Europe in order to have it alter its policy in Indochina was, therefore, not plausible. Similarly, to reduce the level of military assistance to the French effort in Indochina would have been counter-productive, since it would have led to a further deterioration in the French military position there. In other words, there was a basic incompatibility in the two strands of U.S. policy: (1) Washington wanted France to fight the anti-communist war and win, preferably with U.S. guidance and advice; and (2) Washington expected the French, when battlefield victory was assured, to magnanimously withdraw from Indochina."
  6. ^ William Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000, tr.412-413
  7. ^ Hồ Chí Minh - A Life. Chương 12: Tái thiết và kháng chiến
  8. ^ a b c d e The Pentagon Papers, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1954", U.S. POLICY AND THE BAO DAI REGIME
  9. ^ William Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000, tr.411
  10. ^ Dương Kiền. Việt Nam thế kỷ 20 biên niên sử. Falls Church, VA: Tiếng Quê Hương, 2005. tr 57
  11. ^ a b c d A Brief Overview of the Vietnam National Army and the Republic of Vietnam Armed Forces (1952-1975), PERSPECTIVES ON RVNAF FROM FRUS, Stephen Sherman and Bill Laurie
  12. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2301.
  13. ^ Lược sử Thế giới. Stephend G. Hyslop. P.350
  14. ^ Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 474.
  15. ^ Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 189.
  16. ^ Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 474.
  17. ^ Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, tr. 189.
  18. ^ "Các lực lượng trong nước trong chiến tranh 1960-1975"
  19. ^ "Les Fantoches" Armée Nationale Vietnamienne
  20. ^ A Brief Overview of the Vietnam National Army and the Republic of Vietnam Armed Forces (1952-1975), Mobilization Order & Reserve Officer Schools, Stephen Sherman and Bill Laurie
  21. ^ Dommen, Athur J. The Indochinese Exprience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Indiana University Press. Trang 196.
  22. ^ The young army of Vietnam (Vietnamese National Army footage), French newsreel archives (Les Actualités Françaises) November 26, 1953
  23. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2301.
  24. ^ "Lịch Sử Việt Nam: Từ Bảo Đại Hồi 2 Tới Ngô Đình Diệm" ViệtBáo
  25. ^ a b Hội nghị San Francisco với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,Phạm Ngọc Bảo Liêm - Tạp chí Xưa và Nay Số 360
  26. ^ Hoàng Cơ Thụy. Trang 2301
  27. ^ Keesing's Research Report. Trang 3.
  28. ^ [1] Ngày này trong lịch sử "4 Tháng Sáu".
  29. ^ Dwight D. Eisenhower, Mandate for Change, 1953-56 (Garden City, NY: Doubleday & Compnay, Inc., 1963), tr. 372
  30. ^ Trích tại The CIA: A Forgotten History; All other actions: The Pentagon Papers, Document No. 15: 'Lansdale Team's Report on Covert Saigon Mission in '54 and '55,' pp. 53-66.
  31. ^ Robert S.Mc.Namara: Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và những bài học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.43
  32. ^ "Diệm và các giáo phái" Hợp lưu
  33. ^ Huỳnh Văn Lang. tr 22-23
  34. ^ Hoàng Cơ Thụy. tr 2686

[sửa] Tham khảo

  • Duiker, William. Ho Chi Minh: A Life. ?: Hyperion, 2000.
  • Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.
  • Huỳnh Văn Lang. "Đệ nhứt Cộng hòa của Miền Nam." Khởi Hành Năm XIV, Số 157. Midway City, CA: 2009.

[sửa] Xem thêm

Công cụ cá nhân
Không gian tên
Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác