Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Loạt bài Lịch sử Việt Nam |
||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||
Cộng hòa miền Nam Việt Nam là tên gọi của chính thể do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập ở miền Nam Việt Nam để tạo uy thế chính trị trên bình diện quốc tế, chống lại quân đội Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chính thể quản lý các vùng đất do phía những người cách mạng kiểm soát, sau 30 tháng 4, 1975 quản lý toàn bộ Miền Nam Việt Nam cho đến khi thống nhất nhà nước. Tên đầy đủ chính phủ của chính thể này là: Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Mục lục |
[sửa] Thành lập
Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969, Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam Việt Nam, mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, đã bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Tháng 6 năm 1969, đến tháng 11 năm 1975, đã có 23 nước công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước đã đặt quan hệ ngoại giao (chủ yếu là các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa và một số nước thuộc Thế giới thứ Ba[cần dẫn nguồn]).
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc Việt Nam, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam.
Chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được tổ chức ở cấp Trung ương, cấp tỉnh và thành phố, cấp huyện và cấp xã. Các cấp địa phương đều có Hội đồng nhân dân cách mạng và Ủy ban nhân dân cách mạng.
[sửa] Danh sách Chính phủ Cách mạng lâm thời
- Chủ tịch: Huỳnh Tấn Phát
- Các Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Đóa
- Bộ trưởng Phủ Chủ tịch Chính phủ: Trần Bửu Kiếm
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Trần Nam Trung
- Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Thị Bình
- Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Phùng Văn Cung (Phó Chủ tịch kiêm chức)
- Bộ trưởng Bộ Kinh tế Tài chính: Cao Văn Bổn
- Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá: Lưu Hữu Phước
- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Thanh niên: Nguyễn Văn Kiết (Phó Chủ tịch kiêm chức)
- Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội: Dương Quỳnh Hoa
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Trương Như Tảng
Các thứ trưởng:
- Phủ Chủ tịch Chính phủ: Ung Ngọc Kỳ
- Bộ quốc phòng: Đồng Văn Cống, Nguyễn Chánh
- Bộ ngoại giao: Lê Quang Chánh, Hoàng Bích Sơn
- Bộ nội vụ: Nguyễn Ngọc Thương
- Bộ kinh tế tài chính: Nguyễn Văn Triệu
- Bộ thông tin văn hóa: Hoàng Trọng Quý (Thanh Nghị), Lữ Phương
- Bộ tư pháp: Lê Văn Thà
[sửa] Danh sách Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời
- Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ
- Phó Chủ tịch: Trịnh Đình Thảo
- Các Ủy viên: Y-bih Alê-ô, Thượng tọa Thích Đôn Hậu, Huỳnh Cương, Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí, Nguyễn Công Phương, Lâm Văn Tết, Võ Oanh, Giáo sư Lê Văn Giáp, Thiếu tá Huỳnh Thanh Mừng, Luy-xiêng Phạm Ngọc Hùng, nữ Giáo sư Nguyễn Đình Chi
[sửa] Hoạt động
Từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 4 năm 1972, lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công chiếm được thị trấn Lộc Ninh (tỉnh Bình Long) với 28.000 dân. Tại Lộc Ninh đã diễn ra các đợt trao trả tù binh của 2 bên miền Nam Việt Nam sau khi ký Hiệp định Paris.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam là một trong 4 bên tham gia hòa đàm tại Paris và ký Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Sau Hiệp định Paris, thị xã Đông Hà trở thành nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng Lâm thời giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ngày 19 tháng 10 năm 1973 Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam công bố chính sách dân tộc gồm 8 điểm:
- Thực hiện bình đẳng dân tộc, đoàn kết các lực lượng dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
- Ra sức bảo tồn và phát triển các dân tộc anh em
- Thực hiện đầy đủ quyền tự do dân chủ...
- Tôn trọng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc...
- Tôn trọng phong tục, tập quán tín ngưỡng, tôn giáo...
- Chăm lo quyền lợi về ruộng đất, nương rẫy cho đồng bào...
- Ra sức phát triển y tế, vệ sinh phòng bệnh, chữa bệnh bảo vệ bà mẹ trẻ em
- Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đông đảo đội ngũ cán bộ của dân tộc anh em
[sửa] Hoàn thành nhiệm vụ
Sau khi giành được quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Nam Việt Nam, tháng 9 năm 1975, Hội nghị Trung ương lần thứ 24 của Đảng Lao Động Việt Nam xác định mục tiêu thống nhất đất nước về mọi mặt. Từ ngày 15 đến 21 tháng 11 năm 1975, hội nghị hiệp thương chính trị được tổ chức tại Sài Gòn, giữa đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do ông Trường Chinh đứng đầu, và đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, do ông Phạm Hùng đứng đầu, đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội thống nhất.
Tháng 1 năm 1976, cuộc họp liên tịch của ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hội đồng cố vấn Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra quyết định: Cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành vào chủ nhật 25 tháng 4 năm 1976. Hội đồng bầu cử toàn quốc được thành lập, do ông Trường Chinh làm Chủ tịch và ông Phạm Hùng làm Phó chủ tịch.
Ngày 25 tháng 4 năm 1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất. Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, đặt tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thông qua quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, xác định Thủ đô, bầu chính phủ, đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đây, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ra đời chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của một quốc gia Việt Nam thống nhất.
Với sự kiện này, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã hoàn thành vai trò trong cuộc chiến tranh Việt Nam và chính thức chấm dứt mọi hoạt động của mình.

